Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

Tài liệu Luận văn Giải pháp mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga, chi nhánh Hà Nội pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Luận văn Giải pháp mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga, chi nhánh Hà Nội pdf": http://123doc.vn/document/1044316-tai-lieu-luan-van-giai-phap-mo-rong-huy-dong-von-tai-ngan-hang-lien-doanh-viet-nga-chi-nhanh-ha-noi-pdf.htm


kỳ phiếu có mục đích, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. Nếu những hình
thức huy động trên là hình thức huy động mang tính bị động thì hình thức này
là hình thức chủ động.
* Vốn khác
1.1.2 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại.
1.1.2.1 Tiền gửi đối với tổ chức kinh tế.
Dưới đây là một số hình thức mà NHTM có thể sử dụng để huy động
vốn từ nguồn tiền gửi:
Thứ nhất, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức
tín dụng.
Thứ hai, tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch).
1.1.2.2 Tiền gửi tiết kiệm dân cư.
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
* Tiền gửi tiết kiệm dài hạn.
1.1.2.3 Huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ cã giá.
Ngân hàng thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức:
* Phát hành trái phiếu.
* Phát hành chứng chỉ tiền gửi.
* Phát hành kỳ phiếu.
* Giấy tờ có giá khác.
1.1.2.4 Vay vốn của NHTW & tổ chức tín dụng khác.
-Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại có được nhờ thông qua
quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Trung Ương
hoặc các Ngân hàng thương mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác.
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

5
1.1.3 Vai trò của vốn đối với Ngân hàng Thương mại.
1.1.3.1 Vai trò của vốn đối với hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có
vốn, vốn là năng lực chủ yếu quyết định đến khả năng và quy mô hoạt động.
1.1.3.2 Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
1.1.3.3 Vốn quyết định đến năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của
Ngân hàng trên thị trường.
1.1.3.4 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
1.1.3.5 Vốn quyết định quy mô của Ngân hàng Thương mại.
1.2 MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.1 Tầm quan trọng của mở rộng huy động vốn.
1.2.1.1 Đối với nền kinh tế.
1.2.1.2 Đối với NHTM
Việc nâng cao hiệu quả huy động vốn là một trong những yếu tố tiên
quyết tác động đến quy mô, phạm vi hoạt động, hiệu quả và khả năng mở
rộng hoạt động kinh doanh của NHTM. Nếu ngân hàng có nguồn vốn lớn thì
ngân hàng có thể đa dạng hóa các nghiệp vụ, các hoạt động kinh doanh ngân
hàng. Đồng thời, với các nguồn vốn lớn thì uy tín của ngân hàng trên thị
trường được nâng cao tạo điều kiện ngân hàng tiếp xúc với việc huy động vốn
và cho vay đạt hiệu quả cao hơn.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng mở rộng huy động vốn
Để đánh giá khả năng huy động vốn, ta dựa vào các chỉ tiêu sau:
-Tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn:
Tốc độ tăng trưởng của
nguồn vốn
=
Nguồn vốn năm trước
x 100%
Nguồn vốn năm sau
-Cơ cấu nguồn vốn:
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

6
Cơ cấu nguồn vốn i% = Nguồn vốn loại i x 100%
Tổng nguồn vốn
Tỷ lệ nguồn vốn chủ sở hữu =
Nguồn vốn chủ sở hữu
x 100%
Tổng nguồn vốn
Tỷ lệ nguồn vốn vay =
Nguồn vốn vay
x 100%
Tổng nguồn vốn
-Tốc độ tăng trưởng huy động vốn:
Tốc độ tăng trưởng huy

động vốn
=
Vốn huy động năm trước
x 100%
Vốn huy động năm sau
Cơ cấu huy động vốn:
Tỷ lệ nguồn vốn loại i% =
Vốn huy động loại i
x 100%
Tổng nguồn vốn huy động
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.3.1. Các nhân tố khách quan.
•Tình hình kinh tế - xã hội:
•Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô.
•Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền.
•Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn của ngân
hàng.
1.3.2 Các nhân tố chủ quan.
Địa điểm giao dịch, lãi suất do ngân hàng đưa ra, đội ngũ cán bộ nhân
viên ngân hàng, công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng dịch vụ của
ngân hàng cung ứng…Tất cả các nhân tố này tạo nên sức cạnh tranh của
NHTM trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong hoạt động huy động
vốn nói riêng.
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

7
•Mức lãi suất Ngân hàng đưa ra.
•Các hình thức huy động vốn của ngân hàng.
•Các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng.
•Chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hang.
•Mức độ an toàn tiền gửi.
•Mức độ thâm niên của ngân hang.
•Công nghệ, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT NGA, CHI NHÁNH HÀ NỘI
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

8
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG LIÊN
DOANH VIỆT – NGA, CHI NHÁNH HÀ NỘI.
2.1.1 Sự hình thành & phát triển của Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga.
Ý tưởng thành lập ngân hàng liên doanh giữa Nga và Việt Nam để tăng
cường hợp tác song phương được lãnh đạo Chính phủ hai nước nhất trí trong
chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nga Mikhail Fradkov vào tháng 2 năm
2006. Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga (VRB) chính thức đi vào hoạt động
ngày 19/11/2006 và là kết quả hợp tác của hai ngân hàng hàng đầu hai nước là
BIDV (Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam) và RTB (Ngân hàng Ngoại
thương Nga), với mức góp vốn điều lệ ngang nhau.
2.1.2 Chức năng nhiệm vô & cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Liên doanh
Việt - Nga.
2.1.2.1 Chức năng nhiệm vụ.
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàn Liên Doanh Việt- Nga.
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Liên doanh Việt -
Nga, Chi nhánh Hà Nội.
2.1.3.1 Hoạt động tín dụng và bảo lãnh.
Bảng 1: Dư nợ tín dụng NHLD
Đơn vị tính: triệu USD
Chỉ tiêu 2008 2009 2010
Tổng dư nợ tín dụng 25,232 28,436 36,621
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

9
Dư nợ ngắn hạn 17,788 19,194 24,811
Dư nợ trung hạn và dài hạn 7,444 9,242 11,811
(Nguồn:Bỏo cáo tín dụng VRB – Chi nhánh Hà Nội)
Biểu Đồ 1: Dư nợ tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng tăng dần qua 3 năm được thể hiện qua bảng biểu
trên. Cùng với việc củng cố và phát triển có chọn lọc quan hệ tín dụng với các
khách hàng đã và đang vay vốn, chi nhánh cũng luôn chú trọng mở rộng và
đẩy mạnh thực hiện đa dạng hóa đối tượng loại hình khách hàng thuộc mọi
thành phần kinh tế.
Về tình hình thực hiện đảm bảo tiền vay: Tính đến thời điểm 31/12/2009,
dư nợ có tài sản đảm bảo tại chi nhánh đã đạt trên 21 triệu USD quy đổi, tăng
43% so với năm 2008 và chiếm 74% tổng dư nợ của chi nhánh.
Về tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh: đến thời điểm 31/12/2009, tổng
dư nợ quá hạn là 642 ngàn USD quy đổi chiếm 2,25% trên tổng dư nợ và tăng
tuyệt đối 0,15% so với tỷ trọng của năm 2008. Nguyên nhân là do món vay
của Tổng Công ty xây dựng Trung Du với số dư 3 tỷ đồng.
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

10
2.1.3.2 Hoạt động thanh toán trong nước & quốc tế.
1. Hoạt động thanh toán quốc tế
Bảng 2: Hoạt động thanh toán quốc tế.
Đơn vị: 1.000 USD, 1.000.000 VND, 1.000 RUB
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Doanh thu DV thanh toán quốc tế (ngàn USD)
26,7 26,7 32,7
Doanh số thanh toán Việt-Nga (triệu USD)
7,36 7,7 14,3
Doanh số chuyển tiền hai chiều ( triệu USD)
7,2 12,4 14,6
Doanh số chuyển tiền đi
VND
6,8 22 31
USD
2 1,9 3,7
RUB
139.2 103,4 63,1
Doanh số chuyển tiền từ Nga về
VND
5,7 21 4,6
USD
0,4 1,66 6,3
RUB
9,8 100,9 13,9
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh VRB – Chi nhánh Hà Nội)
Tổng doanh số thanh toán quốc tế qua chi nhánh tăng dần qua các năm,
thể hiện được sự phát triển của nghiệp vụ thanh toán trong VRB cũng như sự
tin tưởng của cỏc cỏ nhân và tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới.
2.Nghiệp vụ thanh toán trong nước
Hoạt động thanh toán qua chi nhánh luôn nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng
tốt nhu cầu thanh toán của khách hàng cũng như yêu cầu của giao dịch vốn
liên ngân hàng giữa chi nhánh và các TCTD khác, nâng cao uy tín của chi
nhánh trên thị trường tiền tệ.
2.1.3.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Bảng 3: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Đơn vị tính: 1.000 USD, 1.000 RUB, 1.000 EUR
Chỉ tiêu 2008 2009 2010
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

11
Doanh số mua ngoại tệ
RUB 188,7 96,1 115,9
USD 8,32 7,6 20,3
Ngoại tệ khác (EUR) 0 3,1 24
Doanh số bán ngoại tệ
RUB 188,4 96,4 116.3
USD 8,31 6,9 19,8
Ngoại tệ khác (EUR) 0 3,1 25
Thu từ dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (tỷ VND) 1,7 1,22 1,32
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của VRB)
Đến 31/12/2007 doanh số mua ngoại tệ của chi nhánh đạt 153,9 triệu
RUB và 7 triệu USD. Sang năm 2008 con số này đã đạt 189,3 triệu RUB,
bằng 123% so với năm 2007 và 8,32 triệu USD, tương đương với 119% năm
2007. Năm 2009 do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, thị trường tiền
tệ Việt Nam biến động mạnh; đặc biệt đối với thị trường ngoại tệ USD tỷ giá
biến động phức tạp.
2.1.3.4 Kết quả kinh doanh.
Bảng 4: Kết quả kinh doanh
Đơn vị: 1.000 USD
Các chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng doanh thu 2,6 3,3 4,3
Thu từ hoạt động dịch vụ và hoạt động tài
chính khác
0,156 0,172 0,225
Tổng chi phí 2,4 3,1 4,3
Chênh lệch thu chi trước trích dự phòng 0,57 0,77 0,673
Chênh lệch thu chi sau dự phòng rủi ro 0,211 0,306 0
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

12
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của VRB)
Tổng doanh thu của chi nhánh luôn tăng lên qua từng năm hoạt động.
Năm 2008 bằng 136% so với cả năm 2007 và đạt 102% so với kế hoạch đề ra.
Năm 2009 lại tiếp tục tăng lờn 265 so với doanh thu năm 2008.
Quỹ dự phòng rủi ro của chi nhánh đến 31/12/2010 đạt 24,3 tỷ đồng
(tương đương 1,24 triệu USD quy đổi), tăng 20% so với đầu năm. Trong đó:
- Dự phòng cụ thể đạt 22,7 tỷ đồng, tương đương 1,16 triệu USD quy đổi.
- Dự phòng chung đạt 1,62 tỷ đồng, tương đương 80 ngàn USD quy đổi.
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
LIÊN DOANH VIỆT - NGA, CHI NHÁNH HÀ NỘI
Qua 6 năm hoạt động, ngoài vốn vay hạn mức của BIDV qua các năm
(năm 2008 là 214 tỷ VND quy đổi) thì nguồn vốn huy động đã tăng bình quân
khoảng 47% qua các năm. Tại thời điểm 31/12/2008 chi nhánh sử dụng hạn
mức tiền vay tại BIDV khoảng 4 triệu USD quy đổi. Thực tế năm 2007 nguồn
huy động tiến kiệm nội tệ giảm do biến động giá cả thị trường ở một số mặt
hàng chủ yếu như giá nguyên vật liệu, giá gạo … giá vàng, nhà đất, và tiền gửi
của các TCKT đó làm hạn chế tâm lý gửi tiền vào Ngân hàng của khách hàng.
Địa điểm nơi đặt trụ sở của Ngân hàng chưa thật phù hợp với nền kinh tế
thị trường, không thuận tiện thực hiện giao dịch của Ngân hàng với khách
hàng. Trụ sở đi thuờ nờn vẫn mang tính tạm bợ, chật hẹp. Điều này đó làm
ảnh hưởng dến hình ảnh của VRB trong dân cư, gây khó khăn cho Ngân hàng
khi tiến cận với thị trường.
2.2.1 Kết quả hoạt động huy động vốn.
2.2.1.1 Quy mô nguồn vốn.
Bảng 5: Tổng nguồn vốn huy động
(Đơn vị tính: 1.000 USD quy đổi; 1.000.000 VND quy đổi)
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

13
Chỉ tiêu
Năm
2008
Tăng,giảm
so với 2007
Năm
2009
Tăng,giảm
so với 2008
Năm
2010
Tăng,giảm
so với 2009
VND 484,391 + 21% 563,327 15%
USD 30,444 + 21% 35,112 15% 45,987 31%
(Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh của VRB,chi nhánh Hà Nội)
Qua 3 năm 2008, 2009, 2010, nguồn vốn huy động của chi nhánh đều
tăng lên. Năm 2008, tổng nguồn tăng lên 21% so với năm 2007, năm 2009
tổng nguồn tăng lên 15% so với năm 2008. Quy mô nguồn vốn huy động tăng
lên tạo điều kiện cho chi nhánh mở rộng các hoạt động của mình, trong đó
quan trọng nhất là hoạt động cho vay, qua đó tăng thu nhập cho chi nhánh.
Bảng 6: Huy động vốn năm 2008- 2010
(Đơn vị tính: 1.000 USD quy đổi)
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng vốn huy động 22.303 30.541 41.600
TG của TCTD 19.322 24.463 -
TG của BIDV 4.022 11.471 -
TG của TCTD khác 15,300 12.992 -
TG của khách hàng 2.981 6,078 -
TG thanh toán 1.930 2.416 -
TG của TCKT, cá nhân 0 249 3.900
TG tiết kiệm 985 3.273 12.600
TG khác 65 140 -
(Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh của VRB,chi nhánh Hà Nội)
Năm 2008, 2009 vừa qua chi nhánh Hà Nội đã thu được những thành tựu
Sv: Ngô Hoàng Sơn Líp: Líp: TC13A

14

Tài liệu The Mother''''''''s Manual of Children''''''''s Diseases ppt


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu The Mother''''''''s Manual of Children''''''''s Diseases ppt": http://123doc.vn/document/1044903-tai-lieu-the-mothers-manual-of-childrens-diseases-ppt.htm


CHAPTER II.
5 General signs of disease Shown by the cry, the temperature, the pulse and breathing Rules for
examination as to these points Signs of absence of disease of the brain
CHAPTER II. 5
CHAPTER III.
12 General management of disease Mothers who cannot nurse their children when ill Importance of truth
and keeping child happy Rules for management of bed-room and bed The bath Poultices Leeches
Cold applications Medicines Note-taking and relation to the doctor
PART II.
PLAN PROPOSED TO BE FOLLOWED 31
CHAPTER III. 6
CHAPTER IV.
32 On the disorders and diseases of children during the first month after birth Still-birth Premature birth
Imperfect expansion of lungs Jaundice Ophthalmia Scalp-swellings Ruptured navel
CHAPTER IV. 7
CHAPTER V.
45 Disorders and diseases of children after the first month, and until teething is finished Infantile atrophy
Rules for artificial feeding Management of indigestion Thrush Teething Affections of the skin
Eczema
PART III.
DISORDERS AND DISEASES INCIDENT TO ALL PERIODS OF CHILDHOOD 85
GENERAL CHARACTERISTICS OF SECOND PERIOD OF CHILDHOOD 85
CHAPTER V. 8
CHAPTER VI.
88 Disorders and diseases of the brain and nervous system Their mortality and its causes Convulsions
Congestion of the brain Sunstroke Water on the brain Inflammation from disease of the ear Chronic
water on brain Brain disorder from exhaustion Spasmodic croup Epilepsy St. Vitus's Dance Palsy
Neuralgia and headache Night terrors
CHAPTER VI. 9
CHAPTER VII.
128 Disorders and diseases of the chest Catarrh and snuffles Bronchitis and pneumonia Influenza
Pleurisy Croup Diphtheria Hooping-cough Asthma Diseases of the heart
CHAPTER VII. 10
CHAPTER VIII.
151 Diseases of organs of digestion Description of process of digestion Dyspepsia of weakly children
Jaundice Diarrh[oe]a Peritonitis Large abdomen Worms Ulcerated mouth Quinsy Enlarged
tonsils Abscess at back of throat Diseases of kidneys Incontinence of urine
CHAPTER VIII. 11
CHAPTER IX.
173 Constitutional diseases Their nature Chronic constitutional diseases Consumption Scrofula
Rickets Acute constitutional diseases Rheumatic fever Ague Mumps Typhoid fever Small-pox
Inoculation and vaccination Chicken-pox Measles
APPENDIX. 213 Mental and moral faculties in childhood, and the disorders to which they are liable
INDEX 231
THE MOTHER'S MANUAL
OF
CHILDREN'S DISEASES.
PART I.
INTRODUCTORY.
CHAPTER IX. 12
CHAPTER I.
ON THE MORTALITY OF CHILDREN, AND ITS CAUSES.
The purpose of this little book will probably be best attained, and needless repetition best avoided, if we begin
by inquiring very briefly why so many children die, what general signs indicate that they are ill, and what
general rules can be laid down for their management in sickness.
The first of these inquiries would be as useless as it would be sad, if the rate of infant mortality were fixed by
determinate laws, such as those which limit the stature of man or the age to which he can attain.
But this is not so; the mortality in early life varies widely in different countries, in different parts of the same
country, and in the same country at different times. Thus, while in some parts of Germany the mortality under
one year was recently as high as 25 to 30 per cent. of the total births, and in England as 15, it was only a little
above 10 per cent. in Norway. Infantile mortality is higher in manufacturing districts, lower in those which are
agricultural, and varies from 16 per cent. in Lancashire to 9 in Dorsetshire. It is then evident that mortality in
infancy is in part dependent on remediable causes; and of this there is no better proof than the fact that the
mortality in England under one year has been reduced from 15 per cent. in 1872 to 13 per cent. in 1882.
It would lead us far from any practical purpose if we were to examine into all the causes which govern the
liability to disease and death during infancy and childhood, in the different ranks of society. We must
therefore limit our inquiry to those conditions which are met with in the class to which my readers may fairly
be assumed to belong.
First among the causes of sickly infancy and premature death may be mentioned the intermarriage of near
relatives. The experience of the breeders of animals, who, by what is termed breeding in and in, undoubtedly
obtain certain qualities of speed, or strength, or beauty, does not apply here. They select for their experiments
animals whose qualities in these respects are pre-eminent, and eliminate from them all who do not occupy the
first rank. In family intermarriages, however, it is rare that any consideration is regarded, save that of wealth;
and the fact remains, explain it as we may, that the intermarriage of near relatives during several successive
generations is followed by a marked deterioration of the children, physical, mental, and moral; and by the
intensifying of any hereditary predisposition to consumption, scrofula, and other constitutional ailments which
form the second great cause of early sickness and mortality.
These are facts known to all, which yet it is not easy to represent by figures. All the world is aware that
consumption is hereditary, that consumptive parents are more likely than others to have consumptive children;
and a fourth of all the patients admitted into the Hospital for Consumption at Brompton stated that the disease
had existed in one or other of their parents.[1] Scrofula, which is another disease closely allied to
consumption, is hereditary also; and hip disease, disease of the spine, abscesses, and enlarged glands in any
members of a family, point to risks for the offspring which should not be forgotten, how much soever mental
endowments, personal beauty, or the charms of disposition may be considered, and sometimes reasonably
enough, to outweigh them. The same liability exists with reference to epilepsy, insanity, and the whole class
of affections of the nervous system. Parents inquire, with no misplaced solicitude, what is her fortune, or what
are the pecuniary resources of him to whom they are asked to entrust their son's or daughter's future. Believe
me, the question what is the health of his family, or of hers? is consumption hereditary, or scrofula, or
epilepsy, or insanity? is of far greater moment, and touches much more nearly the future happiness of those
we love.
These two points regard the future parents themselves; but there are other conditions on which the health of
children to a great degree depends; and of these the two most important are the dwelling they inhabit, and the
food they eat.
CHAPTER I. 13
I do not refer here to the dwellings of the poor, situated in unhealthy localities, where fresh air does not enter,
where the rays of the sun do not penetrate, with defective drainage and imperfect water-supply; but I speak of
the nurseries of well-to-do people. 'This will do for our bedroom, and that will make a nice spare room, and
that will do for the children,' is what one often hears. Had you rare plants which cost much money to obtain,
which needed sunlight, warmth, and air, would you not consider anxiously the position of your conservatory,
and take much pains to insure that nothing should be wanting that could help their development, so that you
might feast your eyes upon their beauty, or delight yourselves with their fragrance? And yet a room at the top
of the house, one of the attics perhaps, is too often destined for the little one and its nurse; or if there are two
or three children, one small room is set apart for the day nursery, and a second, probably with a different
aspect, for a sleeping room, and so small that it does not furnish the needed five hundred cubic feet of air for
each. And as a consequence, the children are ailing, any predisposition in them to hereditary disease is
fostered, they have no strength to battle against any acute illness that may befall them, and yet surprise is felt
that the doctor is never out of the house.[2]
It is needless to dwell on the hand-feeding of infants as one of the great causes of mortality in infancy, and of
sickliness in later life. The statistics of Foundling Hospitals bear sad testimony to the fact of its dangers, and
the researches of physicians show that a peculiar form of disease is produced by it, attended by symptoms, and
giving rise to appearances after death, peculiar to the form of slow starvation from which the infant has
perished. I will add, because it is not generally known, one fresh illustration of the influence of artificial
feeding in aggravating the mortality of infants. In Berlin the certificates of death of all infants under the age of
one year, are required to state whether the little one had been brought up at the breast, or on some kind or
other of artificial food. Of ten thousand children dying under the age of one year, one-fourth had been brought
up at the breast, three-fourths by hand.[3]
It is, as I said in the preface, no part of my plan to enter on any details with reference to the management of
children in health. It may, therefore, suffice to have pointed out the four great causes of preventible disease
among the wealthier classes of society; namely, the intermarriage of near relatives, the transmission of
constitutional taint, the insanitary condition of the dwelling, and the injudicious selection of the food of the
infant.
FOOTNOTES:
[1] This is the proportion stated in Quain's Dictionary of Medicine, to which the writer, Dr. Theodore
Williams, adds that of 1,000 cases in the upper classes 12 per cent. showed direct hereditary predisposition,
and 48 per cent. family predisposition.
[2] Many useful suggestions will be found in Mrs. Gladstone's little tract, Healthy Nurseries and Bedrooms,
published as one of the Health Exhibition Handbooks.
[3] The actual numbers are 2,628 and 7,646. See Generalbericht ueber das Medizinal-und Sanitätswesen der
Stadt Berlin im Jahre 1881. 8vo. Berlin 1883, p. 19.
CHAPTER I. 14

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Tài liệu Quyết định số 1347/QĐ-BNV pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Quyết định số 1347/QĐ-BNV pptx": http://123doc.vn/document/1045529-tai-lieu-quyet-dinh-so-1347-qd-bnv-pptx.htm


BỘ NỘI VỤ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1347/QĐ-BNV Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2012


QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐIỀU LỆ HIỆP HỘI PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TRONG CỘNG
ĐỒNG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ
Căn cứ Sắc lệnh số 102/SL-L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 ban hành Luật quy định
quyền lập hội;
Căn cứ Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;
Căn cứ Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định
về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm
2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP;
Xét đề nghị của Chủ tịch Hiệp hội Phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam và Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Điều lệ Hiệp hội Phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam đã được Đại hội toàn quốc lần thứ I (nhiệm kỳ 2012 - 2017) của Hiệp
hội thông qua ngày 17 tháng 8 năm 2012 tại thành phố Hà Nội.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chủ tịch Hiệp hội Phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng doanh nghiệp Việt
Nam, Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ và Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ trưởng Bộ Nội vụ (để báo cáo);
- Bộ Y tế;
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG



- Bộ Công an (C64);
- Lưu: VT, TCPCP, G.

Nguyễn Tiến Dĩnh

ĐIỀU LỆ
HIỆP HỘI PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TRONG CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
(Phê duyệt kèm theo Quyết định số 1347/QĐ-BNV ngày 19 tháng 12 năm 2012 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ)
Chương 1.
TÊN GỌI, TÔN CHỈ VÀ MỤC ĐÍCH
Điều 1. Tên gọi
1. Tên tiếng Việt: Hiệp hội Phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng doanh nghiệp Việt
Nam.
2. Tên tiếng Anh: Viet Nam Business Coalition on HIV/AIDS.
3. Tên viết tắt: VBCA.
Điều 2. Tôn chỉ, mục đích
1. Hiệp hội Phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam (sau đây
gọi tắt là Hiệp hội) là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, phi lợi nhuận, tự nguyện của các
doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế có quan tâm hoặc đã, đang có
những hoạt động liên quan đến công tác phòng, chống HIV/AIDS trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Mục đích của Hiệp hội nhằm huy động các doanh nghiệp là hội viên của Hiệp hội triển
khai, thực hiện các hoạt động phòng lây nhiễm HIV tại nơi làm việc, đồng thời nâng cao
nhận thức, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, viên chức và người lao động trong các doanh
nghiệp, đề cao trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS của cộng đồng
doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong việc tuyển dụng người có HIV, người sau cai
nghiện ma túy và những người khác thuộc nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV vào làm
việc tại doanh nghiệp góp phần giảm sự kỳ thị, phân biệt, đối xử, phòng ngừa tái nghiện
và giúp tái hòa nhập cộng đồng, góp phần thực hiện thành công chủ trương của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS.
Điều 3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động
1. Tự nguyện, tự quản, tự chủ về tài chính và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Đoàn kết, tương trợ, hợp tác bình đẳng, dân chủ và đồng thuận.
3. Công khai, minh bạch.
4. Tuân thủ các quy định của luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Điều lệ của Hiệp hội đã được Bộ Nội vụ phê duyệt.
Điều 4. Phạm vi hoạt động, địa vị pháp lý và trụ sở của Hiệp hội
1. Hiệp hội phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hoạt động
trong phạm vi cả nước, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Y tế và các bộ, ngành có liên
quan theo quy định của pháp luật trong phạm vi, lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội.
2. Hiệp hội được sự bảo trợ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
3. Hiệp hội có tư cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng (logo) riêng và tài khoản nội tệ,
ngoại tệ tại ngân hàng.
4. Hiệp hội có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội và văn phòng đại diện ở một số địa
phương theo quy định của pháp luật.
Chương 2.
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA HIỆP HỘI
Điều 5. Chức năng, nhiệm vụ
1. Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
về công tác phòng, chống HIV/AIDS tới hội viên qua đó nhằm nâng cao năng lực, nhận
thức cho cán bộ, công nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp là hội viên của Hiệp
hội.
2. Tư vấn, hướng dẫn các hội viên triển khai các hoạt động về công tác phòng, chống
HIV/AIDS theo quy định của pháp luật.
3. Vận động, kêu gọi các doanh nghiệp hội viên nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp
Việt Nam nói chung có những cam kết mạnh mẽ và tích cực tham gia chương trình
phòng, chống HIV/AIDS đặc biệt là hoạt động hỗ trợ người có HIV và sau cai nghiện
nhằm giúp họ tạo cuộc sống ổn định và hòa nhập cộng đồng.
4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Hiệp hội, hội viên phù hợp với tôn chỉ, mục đích,
Điều lệ của Hiệp hội và quy định của pháp luật.
5. Hỗ trợ hội viên triển khai thực hiện các hoạt động giáo dục nâng cao hiểu biết về dự
phòng lây nhiễm HIV cho cán bộ, công nhân viên của các doanh nghiệp là hội viên của
Hiệp hội.
6. Hợp tác với các tổ chức thực hiện chương trình phòng, chống HIV/AIDS trong và
ngoài nước để huy động sự hỗ trợ về kỹ thuật, kinh phí cho việc triển khai các hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS tại các doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội theo quy định của
pháp luật.
7. Trao đổi thông tin, kinh nghiệm, bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng cho hội
viên của Hiệp hội; tổ chức các hoạt động nâng cao năng lực, trình độ quản lý trong hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS của các doanh nghiệp hội viên.
8. Củng cố và mở rộng quan hệ giữa các hội viên, quan hệ với các tổ chức xã hội có liên
quan, mở rộng quan hệ quốc tế, thúc đẩy và phát triển hội viên trong toàn quốc theo quy
định của pháp luật.
Điều 6. Quyền của Hiệp hội
1. Tập hợp, liên kết, huy động các doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội cùng tham gia
triển khai thực hiện các chương trình phòng, chống lây nhiễm HIV cho cán bộ, viên chức,
người lao động tại cơ quan, đơn vị, nơi làm việc theo quy định của pháp luật.
2. Đại diện cho hội viên trong các quan hệ đối nội, đối ngoại có liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ của Hiệp hội và bảo vệ quyền, lợị ích hợp pháp của Hiệp hội và hội viên theo
quy định của pháp luật. Tổ chức phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung
của Hiệp hội, hòa giải tranh chấp trong nội bộ Hiệp hội.
3. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thực hiện đối với các cơ quan chức năng nhằm nâng
cao hiệu quả chương trình phòng, chống HIV/AIDS trong môi trường sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp.
4. Tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt
động của Hiệp hội; đề xuất, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước về chính
sách, luật pháp, biện pháp liên quan đến phòng, chống HIV/AIDS tại nơi làm việc phù
hợp với điều kiện thực tế của cộng đồng doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
5. Được gây quỹ trên cơ sở hội phí của hội viên và các nguồn thu từ hoạt động kinh
doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật để tự trang trải về kinh phí hoạt động.
6. Được nhận các nguồn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
theo quy định của pháp luật.
7. Được thành lập pháp nhân thuộc Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
8. Được cử đại diện của Hiệp hội tham gia vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế khi
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
9. Được tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, phản biện và giám định
xã hội theo đề nghị của cơ quan nhà nước.
10. Hiệp hội được tham gia các tổ chức quốc tế chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực hoạt
động, theo quy định của pháp luật.
11. Thực hiện các chức năng, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Chương 3.
HỘI VIÊN
Điều 7. Hội viên và tiêu chuẩn hội viên
1. Các doanh nghiệp của Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, được thành lập theo
quy định của pháp luật đảm bảo tiêu chuẩn hội viên của Hiệp hội theo quy định tại Khoản
2 Điều này, tán thành Điều lệ của Hiệp hội, tự nguyện xin gia nhập và đóng hội phí đầy
đủ, được Ban Chấp hành Hiệp hội xem xét, công nhận.
2. Hội viên của Hiệp hội bao gồm:
a) Hội viên chính thức: Doanh nghiệp Việt Nam có quan tâm hoặc đã và đang có những
hoạt động liên quan đến công tác phòng, chống HIV/AIDS trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp, tán thành Điều lệ của Hiệp hội, có đủ điều kiện và khả năng
tham gia tất cả các hoạt động của Hiệp hội, tự nguyện có đơn xin gia nhập và được Hiệp
hội xét và quyết định công nhận là hội viên chính thức của Hiệp hội;
b) Hội viên liên kết: Doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp có 100% (một trăm phần
trăm) vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi chung là doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài)
hoạt động tại Việt Nam, có đóng góp cho sự phát triển của Hiệp hội, tán thành Điều lệ
Hiệp hội, thì được Hiệp hội xem xét, công nhận là hội viên liên kết;
c) Hội viên danh dự: Là các doanh nghiệp Việt Nam có các tiêu chuẩn như hội viên chính
thức nhưng không có đủ điều kiện và khả năng tham gia tất cả các hoạt động của Hiệp
hội, tán thành điều lệ Hiệp hội, tự nguyện xin làm hội viên danh dự của Hiệp hội và được
Hiệp hội công nhận.
d) Hội viên liên kết, hội viên danh dự được hưởng quyền và nghĩa vụ như hội viên chính
thức của Hiệp hội, trừ quyền biểu quyết các vấn đề của Hiệp hội và không được bầu cử,
ứng cử vào Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra Hiệp hội.
3. Các doanh nghiệp hội viên được cử người đại diện của mình tại Hiệp hội. Người đại
diện phải có thẩm quyền quyết định những vấn đề liên quan đến hoạt động của đơn vị
mình phụ trách, ghi rõ họ tên, chức vụ trong đơn xin gia nhập Hiệp hội. Trường hợp được
ủy nhiệm, người được ủy nhiệm làm đại diện phải có đủ thẩm quyền quyết định và phải
chịu trách nhiệm về sự ủy nhiệm đó. Khi thay đổi người đại diện, hội viên phải thông báo
bằng văn bản cho Ban Chấp hành Hiệp hội.
Điều 8. Nghĩa vụ của hội viên
1. Tôn trọng và chấp hành Điều lệ, quy chế, nội quy, nghị quyết, quyết định và chương
trình hoạt động của Hiệp hội, pháp luật của Nhà nước.
2. Tích cực tham gia đầy đủ các cuộc họp của Hiệp hội và các hoạt động khác của Hiệp
hội; đóng góp ý kiến xây dựng và phương hướng hoạt động của Hiệp hội.
3. Đóng góp hội phí và các khoản xây dựng quỹ của Hiệp hội theo quy định và đúng thời
hạn. Mức đóng hội phí cụ thể hàng năm của hội viên do Đại hội toàn quốc quyết định.
Mức đóng hội phí nhiệm kỳ 2012-2017: Các doanh nghiệp hội viên có dưới 300 (ba trăm)
công nhân đóng hội phí 500.000 đồng/năm (năm trăm ngàn đồng), các doanh nghiệp hội
viên có từ 300 (ba trăm) công nhân trở lên đóng hội phí 1.000.000 đồng/năm (một triệu
đồng).
4. Bảo vệ uy tín của Hiệp hội, giữ gìn sự đoàn kết, xây dựng Hiệp hội phát triển lớn mạnh
vì lợi ích của Hiệp hội, hội viên và của cộng đồng. Không được tự ý nhân danh Hiệp hội
trong các quan hệ, giao dịch trừ khi được Hiệp hội phân công, giới thiệu.
Điều 9. Quyền của hội viên
1. Tham gia các hội nghị, diễn đàn, thảo luận, biểu quyết việc xây dựng định hướng, biện
pháp hoạt động của Hiệp hội theo định kỳ hay từng thời điểm cụ thể. Được đề đạt, phát
biểu ý kiến đóng góp về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến
lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
2. Được tham gia các chương trình hoạt động, các hội thảo, đào tạo nâng cao năng lực
quản lý phòng, chống HIV/AIDS và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng theo
quy định của pháp luật.
3. Được nhận các thông tin liên quan đến hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý phòng, chống
HIV/AIDS tại nơi làm việc.
4. Được quyền tham gia ứng cử, đề cử, bầu cử thành viên tham gia vào Ban Chấp hành,
Ban Kiểm tra Hiệp hội.
5. Được đề xuất ý kiến và yêu cầu Hiệp hội thay mặt doanh nghiệp kiến nghị với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về các cơ chế, chính sách liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp triển khai thực hiện tốt chương trình phòng, chống HIV/AIDS, đảm bảo lợi
ích chính đáng của hội viên theo quy định của pháp luật.
6. Được hưởng các quyền lợi hợp pháp, chính đáng từ Hiệp hội mang lại, được quyền tìm
hiểu, khai thác những thông tin, kết quả nghiên cứu mới từ Hiệp hội. Được hưởng chế độ
ưu đãi của Hiệp hội dành cho hội viên, xét hỗ trợ kinh phí học tập, đào tạo chuyển giao
công nghệ theo khả năng quỹ của Hiệp hội và theo yêu cầu cụ thể, chính đáng của hội
viên.
7. Được Hiệp hội khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng về
những thành tích đóng góp xuất sắc trong phòng, chống HIV/AIDS tại nơi làm việc với
tư cách là hội viên Hiệp hội và về những kết quả hoạt động đóng góp cho Hiệp hội.
8. Được cấp thẻ hội viên theo mẫu quy định của Hiệp hội.
9. Có quyền xin ra khỏi Hiệp hội.
Điều 10. Thủ tục gia nhập Hiệp hội
1. Các doanh nghiệp tự nguyện đăng ký tham gia là thành viên sáng lập Hiệp hội thì mặc
nhiên được công nhận là hội viên của Hiệp hội.
2. Các doanh nghiệp có đại diện tham gia là thành viên Ban vận động thành lập Hiệp hội
thì mặc nhiên được công nhận là hội viên chính thức của Hiệp hội.
3. Từ sau Đại hội thành lập Hiệp hội lần thứ nhất, các doanh nghiệp muốn xin gia nhập
Hiệp hội cần nộp hồ sơ xin gia nhập cho Văn phòng Hiệp hội, hồ sơ gồm có:
a) Đơn xin gia nhập Hiệp hội (theo mẫu quy định);
b) Tờ khai hội viên (theo mẫu quy định).
4. Các doanh nghiệp tự nguyện xin gia nhập Hiệp hội sẽ được công nhận là hội viên sau
khi đóng lệ phí và được trên 50% số ủy viên Ban Chấp hành tán thành kết nạp. Khi có ý
kiến khiếu nại của ủy viên Ban Chấp hành hoặc Ban Kiểm tra về hội viên xin gia nhập
mới, Văn phòng Hiệp hội phải tổ chức xem xét và báo cáo Ban Chấp hành quyết định.
5. Hội viên mới phải nộp hội phí trong vòng 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được kết
nạp và phải nộp hội phí thường niên theo quy định của Hiệp hội.
6. Ban Chấp hành Hiệp hội có trách nhiệm thông báo danh sách hội viên mới cho tất cả
các hội viên Hiệp hội trong vòng 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày hội viên mới được kết
nạp.
Điều 11. Thủ tục chấm dứt tư cách hội viên
1. Hội viên tự nguyện xin ra khỏi Hiệp hội có đơn gửi Ban Chấp hành trước 30 (ba mươi)
ngày.
2. Quyền và nghĩa vụ của hội viên sẽ chấm dứt kể từ ngày Ban Chấp hành ra văn bản
chấp thuận.
3. Hội viên bị khai trừ trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng Điều lệ, làm ảnh hưởng
đến uy tín của Hiệp hội, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý do vi phạm pháp luật
hoặc không đóng hội phí trong vòng 30 ngày kể từ khi Hiệp hội có thông báo nhắc nhở
lần thứ hai.
4. Hội viên bị khai trừ khi có 2/3 (hai phần ba) số ủy viên Ban Chấp hành tán thành.
Quyết định khai trừ hội viên có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch Hiệp hội ký, đóng dấu. Ban
Chấp hành thông báo danh sách hội viên xin ra khỏi Hiệp hội và hội viên bị khai trừ cho
tất cả các hội viên khác biết.
Chương 4.
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
Điều 12. Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội
1. Đại hội toàn thể hội viên hoặc Đại hội đại biểu.
2. Ban Chấp hành.
3. Ban Thường vụ.
4. Ban Kiểm tra.
5. Văn phòng Hiệp hội.
6. Các ban chuyên môn, tổ chức trực thuộc (nếu có).
Điều 13. Đại hội toàn thể hội viên hoặc Đại hội đại biểu
1. Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu hội viên (Đại hội) là cơ quan lãnh đạo cao nhất
của Hiệp hội được tổ chức 05 (năm) năm một lần với số lượng đại biểu tham dự do Ban
Chấp hành Hiệp hội quyết định và triệu tập.
2. Đại hội được coi là hợp lệ khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số hội viên được triệu
tập hoặc đại biểu được triệu tập có mặt. Trường hợp Đại hội được triệu tập lần thứ nhất
mà không đủ số đại biểu hợp lệ thì Ban Chấp hành triệu tập Đại hội lần thứ hai trong thời
hạn 30 (ba mươi) ngày sau đó; khi triệu tập Đại hội lần hai và số đại biểu có mặt không
đủ 2/3 (hai phần ba) nhưng được quá 1/2 (một phần hai) số hội viên thì Đại hội vẫn được
tiến hành và được coi là hợp lệ.
3. Trong trường hợp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh bất thường, khi có 2/3
(hai phần ba) số ủy viên Ban Chấp hành hoặc hơn 1/2 (một phần hai) tổng số hội viên
chính thức đề nghị, Chủ tịch Hiệp hội có thể triệu tập Đại hội toàn thể bất thường để xem
xét giải quyết (kể cả việc giải thể Hiệp hội theo quy định).
4. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của các doanh nghiệp là hội viên có lý do
chính đáng không dự Đại hội, được quyền ủy nhiệm bằng văn bản cho người lãnh đạo
khác của đơn vị mình dự thay. Người được ủy nhiệm có quyền hạn và trách nhiệm tại Đại
hội như hội viên chính thức.
5. Biểu quyết tại Đại hội
Đại hội thông qua các nghị quyết bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc giơ tay do Đại hội
quyết định. Việc biểu quyết thông qua các quyết định của Đại hội phải được quá 1/2 (một
phần hai) số đại biểu chính thức có mặt tán thành.
6. Đại hội có nhiệm vụ:
a) Tổng kết, đánh giá các mặt hoạt động, công tác quản lý và điều hành của Hiệp hội
trong nhiệm kỳ trên cơ sở Điều lệ Hiệp hội và các nghị quyết của Đại hội nhiệm kỳ đã
qua;
b) Báo cáo, phê chuẩn định hướng hoạt động và các giải pháp để thực hiện nhiệm vụ của
Hiệp hội trong nhiệm kỳ mới;
c) Báo cáo tình hình thu chi tài chính nhiệm kỳ đã qua và dự toán kinh phí cho nhiệm kỳ
mới;
d) Thảo luận việc sửa đổi, bổ sung và biểu quyết thông qua Điều lệ hoặc đổi tên Hội;
quyết định việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể Hội (nếu có);
đ) Bầu Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra nhiệm kỳ mới. Danh sách đại biểu được đề cử và
ứng cử phải được thông qua tại Đại hội;
e) Thông qua nghị quyết của Đại hội.
Điều 14. Ban Chấp hành
1. Ban Chấp hành là cơ quan điều hành của Hiệp hội giữa hai kỳ Đại hội. Số lượng thành
viên của Ban Chấp hành do Đại hội quyết định và bầu chọn trong số những người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp là hội viên chính thức.
2. Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành theo nhiệm kỳ của Đại hội. Thành viên của Ban Chấp
hành có thể bị miễn nhiệm trước thời hạn theo quyết định của Đại hội bất thường hoặc
theo đề nghị của 2/3 (hai phần ba) số hội viên chính thức. Trong trường hợp thành viên
của Ban Chấp hành không còn công tác tại doanh nghiệp hội viên chính thức nữa thì
doanh nghiệp hội viên chính thức đó được cử người khác thay thế và phải thông báo cho
Chủ tịch Ban Chấp hành Hiệp hội trong vòng 30 (ba mươi) ngày. Người được cử thay thế
chỉ được công nhận là thành viên Ban Chấp hành với sự chấp thuận của ít nhất 2/3 (hai
phần ba) số thành viên Ban Chấp hành.
3. Ban Chấp hành Hiệp hội họp thường kỳ 06 (sáu) tháng một lần. Khi cần, Ban Chấp
hành có thể họp bất thường theo triệu tập của Chủ tịch Hiệp hội. Cuộc họp của Ban Chấp
hành chỉ được tiến hành khi có trên 1/2 (một phần hai) tổng số ủy viên Ban Chấp hành có
mặt tại Hội nghị; các quyết định, nghị quyết của Ban Chấp hành được thông qua và có
hiệu lực khi có trên 1/2 (một phần hai) số ủy viên dự họp tán thành. Các ủy viên Ban
Chấp hành không dự họp nhưng có ý kiến bằng văn bản hoặc thư điện tử về các nội dung
của cuộc họp gửi về Văn phòng Hiệp hội trước khi cuộc họp bắt đầu, thì được coi như
một ý kiến chính thức và hợp lệ.
4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Chấp hành được quy định như sau:
a) Lãnh đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện Điều lệ, nghị quyết, quyết định chương trình
công tác hàng năm và các công tác khác của Hiệp hội;
b) Bầu Ban Thường vụ; bầu, bầu bổ sung hoặc miễn nhiệm các chức danh Chủ tịch, các
Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, ủy viên thường vụ; bầu bổ sung hoặc miễn nhiệm ủy viên
Ban Chấp hành; giới thiệu danh sách ứng cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, chức danh
Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội khóa mới;
c) Xây dựng và ban hành: Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra, Văn
phòng; quy chế quản lý tài chính, tài sản của Hiệp hội; quy chế sử dụng tài sản, tài chính
của Hiệp hội; quy chế về khen thưởng, kỷ luật trong nội bộ Hiệp hội;
d) Quyết định việc kết nạp, khai trừ, khen thưởng và kỷ luật hội viên;
đ) Thông qua kế hoạch và quyết toán tài chính hàng năm và nhiệm kỳ của Hiệp hội;
e) Triệu tập Đại hội nhiệm kỳ, Đại hội bất thường và các hội nghị, hội thảo của Hiệp hội.
Điều 15. Ban Thường vụ
1. Ban Thường vụ là cơ quan thường trực của Ban Chấp hành, gồm: Chủ tịch, các Phó
Chủ tịch, Tổng thư ký và một số ủy viên. Số lượng ủy viên Ban Thường vụ do Ban Chấp
hành quyết định nhưng không được quá 1/3 (một phần ba) tổng số ủy viên Ban Chấp
hành. Ban Thường vụ họp ba tháng một lần
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thường vụ:
a) Chỉ đạo, điều hành các công việc của Hiệp hội giữa hai kỳ họp Ban chấp hành;
b) Báo cáo kiểm điểm công tác trong các kỳ họp của Ban chấp hành;
c) Quyết nghị thành lập các ban chuyên môn và các tổ chức trực thuộc Hiệp hội khi có
nhu cầu theo quy định của pháp luật;
d) Tham mưu cho Ban Chấp hành xem xét kết nạp, khai trừ, khen thưởng và kỷ luật hội
viên.
Điều 16. Ban Kiểm tra
1. Ban Kiểm tra do Đại hội bầu, gồm có 03 (ba) thành viên theo nhiệm kỳ của Đại hội,
trong đó Trưởng ban là ủy viên Ban Chấp hành.
2. Ban Kiểm tra hoạt động theo Quy chế được Ban Chấp hành thông qua và độc lập về
nghiệp vụ.
3. Ban Kiểm tra có nhiệm vụ:
a) Kiểm tra tư cách Đại biểu tham dự Đại hội;
b) Kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đại hội;
c) Kiểm tra về tài chính, tài sản, nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong nội bộ
Hiệp hội;
đ) Báo cáo kết quả kiểm tra, giải quyết công việc trước Ban Chấp hành và trước Đại hội.
Điều 17. Chủ tịch Hiệp hội
1. Chủ tịch Hiệp hội do Ban Chấp hành Hiệp hội bầu ra, là người đại diện pháp nhân của
Hiệp hội trong các mối quan hệ với các đối tác trong, ngoài nước và trước pháp luật về
những vấn đề có liên quan đến Hiệp hội.
2. Chủ tịch Hiệp hội có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định các công việc nhằm thực hiện nghị quyết của Đại hội, Điều lệ và quy chế
của Hiệp hội;
b) Triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ;
c) Ký các văn bản nhân danh Hiệp hội và có thể ủy quyền cho một Phó Chủ tịch ký thay
(việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản); ban hành quy chế sử dụng con dấu của
Hiệp hội;
d) Phân công nhiệm vụ cho các ủy viên Ban Chấp hành nhằm thực hiện kế hoạch hoạt
động của Hiệp hội;
đ) Chủ tài khoản của Hiệp hội, có thể ủy quyền cho một Phó Chủ tịch hoặc Tổng thư ký
cùng đứng tên chủ tài khoản để giải quyết tài chính khi Chủ tịch đi vắng;
e) Cử hội viên, cán bộ Hiệp hội đi công tác, tham gia các chương trình điều tra, khảo sát,
nghiên cứu, giám định, tư vấn, phản biện, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo trong
và ngoài nước nhằm thực hiện nhiệm vụ của Hiệp hội theo quy định của pháp luật;
g) Trực tiếp chỉ đạo công việc của Tổng thư ký, phê duyệt nhân sự cho Văn phòng Hiệp
hội và các chi nhánh trực thuộc (nếu có) theo đề nghị của Tổng thư ký;
h) Chủ trì cuộc họp Ban Chấp hành, Ban Thường vụ nhiệm kỳ kế tiếp cho đến khi bầu
xong Chủ tịch mới.
Điều 18. Phó Chủ tịch Hiệp hội
1. Các Phó Chủ tịch Hiệp hội do Ban Chấp hành Hiệp hội bầu, giúp Chủ tịch chỉ đạo hoạt
động của Hiệp hội trong những lĩnh vực được phân công và chịu trách nhiệm trước Chủ
tịch.
2. Trong trường hợp cần thiết một Phó Chủ tịch được quyền thay mặt Chủ tịch điều hành
Hiệp hội khi được ủy quyền (việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản).
3. Phó Chủ tịch chịu trách nhiệm trước pháp luật và Ban Chấp hành khi được Chủ tịch ủy
quyền.
Điều 19. Tổng thư ký
1. Tổng thư ký do Ban Chấp hành Hiệp hội bầu, là người giúp việc cho Chủ tịch và Ban
Chấp hành, chịu trách nhiệm điều hành Văn phòng Hiệp hội để giúp xử lý công việc hành
chính, tổng hợp; giao dịch với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo yêu cầu
công tác của Hiệp hội.
2. Quản lý tài sản, tài chính và hồ sơ tài liệu của Hiệp hội; dự thảo các văn bản, kế hoạch
và báo cáo của Hiệp hội; tổ chức thực hiện các quyết định của Chủ tịch và công tác thông
tin, đào tạo, hội nghị hội thảo; hỗ trợ hội viên triển khai các hoạt động của Hiệp hội.
Điều 20. Văn phòng Hiệp hội
1. Văn phòng Hiệp hội là cơ quan giúp việc của Hiệp hội do Tổng thư ký phụ trách, có
nhiệm vụ giúp việc cho Ban Chấp hành và thực hiện công việc hành chính tổng hợp, kế
toán tài chính cho Hiệp hội; thu thập và cung cấp thông tin cho hội viên; phục vụ các
cuộc hội họp của Hiệp hội.
2. Số lượng nhân sự Văn phòng do Tổng thư ký trình Chủ tịch Hiệp hội quyết định. Nhân
sự Văn phòng có thể được biệt phái có thời hạn từ các đơn vị hội viên hoặc được tuyển
dụng trực tiếp, làm việc theo chế độ chuyên trách, hưởng lương và phụ cấp từ Hiệp hội.
Cộng tác viên ngắn hạn được thuê mướn vào những thời điểm công việc tăng vượt quá
năng lực nhân sự của Văn phòng.
Điều 21. Các ban chuyên môn, tổ chức trực thuộc
1. Căn cứ yêu cầu thực tế công việc, Ban Thường vụ có thể thành lập các ban chuyên
môn để giúp việc thực hiện các chương trình, đề án của Hiệp hội. Trong trường hợp cần
thiết, Chủ tịch có thể mời một số chuyên gia tư vấn cho Hiệp hội làm việc tại các ban
chuyên môn.
2. Hiệp hội có cơ quan ngôn luận, xuất bản; ngoài ra có thể thành lập một số đơn vị, tổ
chức trực thuộc theo quy định của pháp luật. Việc thành lập các đơn vị, tổ chức thuộc Hội
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 22. Hợp nhất, sáp nhập, giải thể Hiệp hội
1. Trừ trường hợp bị giải thể, ngừng hoạt động theo quy định của pháp luật, Hiệp hội có
thể tự giải thể hoặc tự nguyện liên kết với các hội, hiệp hội khác để thành lập liên hiệp
hội hoặc hợp nhất thành hội mới hoặc sáp nhập các hội khác vào Hiệp hội. Việc hợp nhất,
sáp nhập Hiệp hội phải do Đại hội quyết định khi có ít nhất 2/3 tổng số hội viên chính
thức nhất trí đề nghị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Xử lý tài chính, tài sản của Hiệp hội khi sáp nhập, giải thể.
Trong trường hợp sáp nhập, giải thể: Trước khi sáp nhập, giải thể thì Hiệp hội phải thành
lập một ban thanh lý tài sản; ban thanh lý tài sản có trách nhiệm kiểm tra, thanh quyết
toán các khoản liên quan đến tài sản, tài chính, báo cáo trước hội nghị các thành viên
Hiệp hội. Việc giải quyết các quan hệ tài chính, tài sản của Hiệp hội do Ban Chấp hành
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chương 5.
TÀI CHÍNH VÀ TÀI SẢN CỦA HIỆP HỘI
Điều 23. Tài sản, tài chính
1. Tài sản
Tài sản của Hiệp hội gồm: Trụ sở làm việc, máy móc, trang thiết bị, phương tiện phục vụ
cho hoạt động của Hiệp hội có được từ các nguồn thu hợp pháp.
2. Các khoản thu tài chính:
a) Phí gia nhập lần đầu của các hội viên, hội phí thường niên của hội viên đóng góp cho
Hiệp hội. Phí gia nhập lần đầu được nộp ngay sau khi hội viên tham gia Hiệp hội; phí
thường niên được nộp một lần hoặc nộp theo từng quý vào ngày mồng mười của tháng
đầu quý;
b) Các khoản tài trợ từ các tổ chức trong, ngoài nước và các cá nhân đóng góp, ủng hộ
dưới hình thức hiện vật hay bằng tiền, theo quy định của pháp luật;
c) Các khoản thu hợp pháp khác.
Các nguồn thu trên không được chia cho các hội viên.
3. Sử dụng tài chính:
a) Chi cho các hoạt động thường niên của Hiệp hội (mua sắm trang thiết bị, máy móc, chi
phí lương cho các cán bộ chuyên trách, phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách, công tác
phí, giao tế, tiếp khách );
b) Khen thưởng cho các hội viên hoặc cho các tổ chức có liên quan;
c) Chi cho các hoạt động về thông tin, tuyên truyền, báo chí, xuất bản, các hoạt động
quan hệ quốc tế, các hoạt động mang tính xã hội khác;
Điều 24. Thu, chi
1. Toàn bộ các khoản thu, chi tài sản, tài chính của Hiệp hội đều được ghi chép, theo dõi,
quản lý, hạch toán theo quy định của nhà nước và phải được công bố công khai trước Đại
hội hoặc hội nghị toàn thể hội viên.
2. Hoạt động thu, chi của Hiệp hội phải được Ban Kiểm tra của Hiệp hội kiểm tra, kiểm
soát, xác nhận trước khi báo cáo ra Đại hội hoặc hội nghị toàn thể hội viên.
Chương 6.
KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
Điều 25. Khen thưởng
1. Hội viên, cá nhân, các đơn vị trực thuộc của Hiệp hội có thành tích xuất sắc trong hoạt
động nghề nghiệp và công tác Hiệp hội được Ban Chấp hành Hiệp hội khen thưởng hoặc
đề nghị cơ quan nhà nước khen thưởng.
2. Ban Chấp hành Hiệp hội quy định cụ thể thẩm quyền, thủ tục, tiêu chuẩn và hình thức
khen thưởng.
Điều 26. Kỷ luật
1. Hội viên, cán bộ và các tổ chức của Hiệp hội vi phạm nghiêm trọng Điều lệ của Hiệp
hội hoặc có những vi phạm pháp luật, sai phạm đạo đức nghề nghiệp, sẽ bị Ban Chấp
hành xem xét đưa ra các hình thức kỷ luật tùy theo mức độ vi phạm như cảnh cáo, xóa
tên trong danh sách hội viên hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật.
2. Ban Chấp hành Hiệp hội có trách nhiệm quy định cụ thể trình tự, thẩm quyền, thủ tục
và hình thức kỷ luật theo Điều lệ và quy định của pháp luật.

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Tài liệu The False Nun, Casanova, v9 docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu The False Nun, Casanova, v9 docx": http://123doc.vn/document/1046171-tai-lieu-the-false-nun-casanova-v9-docx.htm


THIS ETEXT IS OTHERWISE PROVIDED TO YOU "AS-IS". NO OTHER WARRANTIES OF ANY
KIND, EXPRESS OR IMPLIED, ARE MADE TO YOU AS TO THE ETEXT OR ANY MEDIUM IT MAY
BE ON, INCLUDING BUT NOT LIMITED TO WARRANTIES OF MERCHANTABILITY OR FITNESS
FOR A PARTICULAR PURPOSE.
Some states do not allow disclaimers of implied warranties or the exclusion or limitation of consequential
damages, so the above disclaimers and exclusions may not apply to you, and you may have other legal rights.
INDEMNITY
You will indemnify and hold Michael Hart, the Foundation, and its trustees and agents, and any volunteers
associated with the production and distribution of Project Gutenberg-tm texts harmless, from all liability, cost
and expense, including legal fees, that arise directly or indirectly from any of the following that you do or
cause: [1] distribution of this etext, [2] alteration, modification, or addition to the etext, or [3] any Defect.
DISTRIBUTION UNDER "PROJECT GUTENBERG-tm"
You may distribute copies of this etext electronically, or by disk, book or any other medium if you either
delete this "Small Print!" and all other references to Project Gutenberg, or:
[1] Only give exact copies of it. Among other things, this requires that you do not remove, alter or modify the
etext or this "small print!" statement. You may however, if you wish, distribute this etext in machine readable
binary, compressed, mark-up, or proprietary form, including any form resulting from conversion by word
processing or hypertext software, but only so long as *EITHER*:
[*] The etext, when displayed, is clearly readable, and does *not* contain characters other than those intended
by the author of the work, although tilde (~), asterisk (*) and underline (_) characters may be used to convey
punctuation intended by the author, and additional characters may be used to indicate hypertext links; OR
[*] The etext may be readily converted by the reader at no expense into plain ASCII, EBCDIC or equivalent
form by the program that displays the etext (as is the case, for instance, with most word processors); OR
[*] You provide, or agree to also provide on request at no additional cost, fee or expense, a copy of the etext
in its original plain ASCII form (or in EBCDIC or other equivalent proprietary form).
[2] Honor the etext refund and replacement provisions of this "Small Print!" statement.
[3] Pay a trademark license fee to the Foundation of 20% of the gross profits you derive calculated using the
method you already use to calculate your applicable taxes. If you don't derive profits, no royalty is due.
Royalties are payable to "Project Gutenberg Literary Archive Foundation" the 60 days following each date
you prepare (or were legally required to prepare) your annual (or equivalent periodic) tax return. Please
contact us beforehand to let us know your plans and to work out the details.
WHAT IF YOU *WANT* TO SEND MONEY EVEN IF YOU DON'T HAVE TO?
Project Gutenberg is dedicated to increasing the number of public domain and licensed works that can be
freely distributed in machine readable form.
The Project gratefully accepts contributions of money, time, public domain materials, or royalty free
copyright licenses. Money should be paid to the: "Project Gutenberg Literary Archive Foundation."
If you are interested in contributing scanning equipment or software or other items, please contact Michael
The Legal Small Print 5
Hart at: hart@pobox.com
[Portions of this header are copyright (C) 2001 by Michael S. Hart and may be reprinted only when these
Etexts are free of all fees.] [Project Gutenberg is a TradeMark and may not be used in any sales of Project
Gutenberg Etexts or other materials be they hardware or software or any other related product without express
permission.]
*END THE SMALL PRINT! FOR PUBLIC DOMAIN ETEXTS*Ver.10/04/01*END*
This etext was produced by David Widger <widger@cecomet.net>
MEMOIRS OF JACQUES CASANOVA de SEINGALT 1725-1798 TO PARIS AND PRISON, Volume
2d The False Nun
THE RARE UNABRIDGED LONDON EDITION OF 1894 TRANSLATED BY ARTHUR MACHEN TO
WHICH HAS BEEN ADDED THE
CHAPTERS
DISCOVERED BY ARTHUR SYMONS.
THE FALSE NUN
CHAPTER XXI
Supper at My Casino With M. M. and M. de Bernis, the French Ambassador A Proposal from M. M.; I
Accept It Consequences C. C. is Unfaithful to Me, and I Cannot Complain
I felt highly pleased with the supper-party I had arranged with M M , and I ought to have been happy.
Yet I was not so; but whence came the anxiety which was a torment to me? Whence? From my fatal habit of
gambling. That passion was rooted in me; to live and to play were to me two identical things, and as I could
not hold the bank I would go and punt at the ridotto, where I lost my money morning and night. That state of
things made me miserable. Perhaps someone will say to me:
"Why did you play, when there was no need of it, when you were in want of nothing, when you had all the
money you could wish to satisfy your fancies?"
That would be a troublesome question if I had not made it a law to tell the truth. Well, then, dear inquisitive
reader, if I played with almost the certainty of losing, although no one, perhaps, was more sensible than I was
to the losses made in gambling, it is because I had in me the evil spirit of avarice; it is because I loved
prodigality, and because my heart bled when I found myself compelled to spend any money that I had not won
at the gaming-table. It is an ugly vice, dear reader, I do not deny it. However, all I can say is that, during the
four days previous to the supper, I lost all the gold won for me by M M
On the anxiously-expected day I went to my casino, where at the appointed hour M M came with her
friend, whom she introduced to me as soon as he had taken off his mask.
"I had an ardent wish, sir," said M. de Bernis to me, "to renew acquaintance with you, since I heard from
madame that we had known each other in Paris."
CHAPTERS 6
With these words he looked at me attentively, as people will do when they are trying to recollect a person
whom they have lost sight of. I then told him that we had never spoken to one another, and that he had not
seen enough of me to recollect my features now.
"I had the honour," I added, "to dine with your excellency at M. de Mocenigo's house, but you talked all the
time with Marshal Keith, the Prussian ambassador, and I was not fortunate enough to attract your attention. As
you were on the point of leaving Paris to return to Venice, you went away almost immediately after dinner,
and I have never had the honour of seeing you since that time."
"Now I recollect you," he answered, "and I remember asking whether you were not the secretary of the
embassy. But from this day we shall not forget each other again, for the mysteries which unite us are of a
nature likely to establish a lasting intimacy between us."
The amiable couple were not long before they felt thoroughly at ease, and we sat down to supper, of which, of
course, I did the honours. The ambassador, a fine connoisseur in wines, found mine excellent, and was
delighted to hear that I had them from Count Algarotti, who was reputed as having the best cellar in Venice.
My supper was delicate and abundant, and my manners towards my handsome guests were those of a private
individual receiving his sovereign and his mistress. I saw that M M was charmed with the respect with
which I treated her, and with my conversation, which evidently interested the ambassador highly. The serious
character of a first meeting did not prevent the utterance of witty jests, for in that respect M. de Bernis was a
true Frenchman. I have travelled much, I have deeply studied men, individually and in a body, but I have
never met with true sociability except in Frenchmen; they alone know how to jest, and it is rare, delicate,
refined jesting, which animates conversation and makes society charming.
During our delightful supper wit was never wanting, and the amiable M M led the conversation to the
romantic combination which had given her occasion to know me. Naturally, she proceeded to speak of my
passion for C C , and she gave such an interesting description of that young girl that the ambassador
listened with as much attention as if he had never seen the object of it. But that was his part, for he was not
aware that I had been informed of his having witnessed from his hiding-place my silly interview with C
C He told M M that he would have been delighted if she had brought her young friend to sup with
us.
"That would be running too great a risk," answered the cunning nun, "but if you approve of it," she added,
looking at me, "I can make you sup with her at my casino, for we sleep in the same room."
That offer surprised me much, but it was not the moment to shew it, so I replied:
"It is impossible, madam, to add anything to the pleasure of your society, yet I confess I should be pleased if
you could contrive to do us that great favour:"
"Well, I will think of it."
"But," observed the ambassador, "if I am to be one of the party, I think it would be right to apprize the young
lady of it."
"It is not necessary, for I will write to her to agree to whatever madam may propose to her. I will do so
to-morrow."
I begged the ambassador to prepare himself with a good stock of indulgence for a girl of fifteen who had no
experience of the world. In the course of the evening I related the history of O-Morphi, which greatly amused
him. He entreated me to let him see her portrait. He informed me that she was still an inmate of the
CHAPTER XXI 7
'Parc-aux-cerfs', where she continued to be the delight of Louis XV., to whom she had given a child. My
guests left me after midnight, highly pleased, and I remained alone.
The next morning, faithful to the promise I had made to my beautiful nun, I wrote to C C without
informing her that there would be a fourth person at the projected supper, and having given my note to Laura I
repaired to Muran, where I found the following letter from M M :
"I could not sleep soundly, my love, if I did not ease my conscience of an unpleasant weight. Perhaps you did
not approve of the 'partie carree' with our young friend, and you may not have objected out of mere politeness.
Tell me the truth, dearest, for, should you not look forward to that meeting with pleasure, I can contrive to
undo it without implicating you in any way; trust me for that. If, however, you have no objection to the party,
it will take place as agreed. Believe me, I love your soul more than your heart I mean than your person.
Adieu."
Her fear was very natural, but out of shamefacedness I did not like to retract. M M knew me well, and
as a skilful tactician she attacked my weak side.
Here is my answer:
"I expected your letter, my best beloved, and you cannot doubt it, because, as you know me thoroughly, you
must be aware that I know you as well. Yes, I know your mind, and I know what idea you must entertain of
mine, because I have exposed to you all my weakness and irritability by my sophisms. I do penance for it,
dearest, when I think that having raised your suspicions your tenderness for me must have been weakened.
Forget my visions, I beg, and be quite certain that for the future my soul will be in unison with yours. The
supper must take place, it will be a pleasure for me, but let me confess that in accepting it I have shewn myself
more grateful than polite. C C is a novice, and I am not sorry to give her an opportunity of seeing the
world. In what school could she learn better than yours? Therefore I recommend her to you, and you will
please me much by continuing to shew your care and friendship towards her, and by increasing, if possible,
the sum of your goodness. I fear that you may entice her to take the veil, and if she did I would never console
myself. Your friend has quite captivated me; he is a superior man, and truly charming."
Thus did I wittingly deprive myself of the power of drawing back, but I was able to realize the full force of the
situation. I had no difficulty in guessing that the ambassador was in love with C C , and that he had
confessed as much to M M , who, not being in a position to object to it, was compelled to shew herself
compliant, and to assist him in everything that could render his passion successful. She could certainly not do
anything without my consent, and she had evidently considered the affair too delicate to venture upon
proposing the party point-blank to me. They had, no doubt, put their heads together, so that by bringing the
conversation on that subject I should find myself compelled, for the sake of politeness and perhaps of my
inward feelings, to fall into the snare. The ambassador, whose profession it was to carry on intrigues skilfully,
had succeeded well, and I had taken the bait as he wished. There was nothing left for me but to put a good
face on the matter, not only so as not to shew myself a very silly being, but also in order not to prove myself
shamefully ungrateful towards a man who had granted me unheard-of privileges. Nevertheless, the
consequence of it all was likely to be some coolness in my feelings towards both my mistresses. M M
had become conscious of this after she had returned to the convent, and wishing to screen herself from all
responsibility she had lost no time in writing to me that she would cause the projected supper to be
abandoned, in case I should disapprove of it, but she knew very well that I would not accept her offer.
Self-love is a stronger passion even than jealousy; it does not allow a man who has some pretension to wit to
shew himself jealous, particularly towards a person who is not tainted by that base passion, and has proved it.
The next day, having gone early to the casino, I found the ambassador already there, and he welcomed me in
the most friendly manner. He told me that, if he had known me in Paris he would have introduced me at the
court, where I should certainly have made my fortune. Now, when I think of that, I say to myself, "That might
CHAPTER XXI 8
have been the case, but of what good would it have been to me?" Perhaps I should have fallen a victim of the
Revolution, like so many others. M. de Bernis himself would have been one of those victims if Fate had not
allowed him to die in Rome in 1794. He died there unhappy, although wealthy, unless his feelings had
undergone a complete change before his death, and I do not believe it.
I asked him whether he liked Venice, and he answered that he could not do otherwise than like that city, in
which he enjoyed excellent health, and in which, with plenty of money, life could be enjoyed better than
anywhere else.
"But I do not expect," he added, "to be allowed to keep this embassy very long. Be kind enough to let that
remain between us. I do not wish to make M M unhappy."
We were conversing in all confidence when M M arrived with her young friend, who showed her
surprise at seeing another man with me, but I encouraged her by the most tender welcome; and she recovered
all her composure when she saw the delight of the stranger at being answered by her in good French. It gave
us both an opportunity of paying the warmest compliments to the mistress who had taught her so well.
C C was truly charming; her looks, bright and modest at the same time, seemed to say to me, "You
must belong to me:" I wished to see her shine before our friends; and I contrived to conquer a cowardly
feeling of jealousy which, in spite of myself, was beginning to get hold of me. I took care to make her talk on
such subjects as I knew to be familiar to her. I developed her natural intelligence, and had the satisfaction of
seeing her admired.
Applauded, flattered, animated by the satisfaction she could read in my eyes, C C appeared a prodigy to
M. de Bernis, and, oh! what a contradiction of the human heart! I was pleased, yet I trembled lest he should
fall in love with her! What an enigma! I was intent myself upon a work which would have caused me to
murder any man who dared to undertake it.
During the supper, which was worthy of a king, the ambassador treated C C with the most delicate
attentions. Wit, cheerfulness, decent manners, attended our delightful party, and did not expel the gaiety and
the merry jests with which a Frenchman knows how to season every conversation.
An observing critic who, without being acquainted with us, wished to guess whether love was present at our
happy party, might have suspected, perhaps, but he certainly could not have affirmed, that it was there. M
M treated the ambassador as a friend. She shewed no other feeling towards me than that of deep esteem,
and she behaved to C C with the tender affection of a sister. M. de Bernis was kind, polite, and amiable
with M M , but he never ceased to take the greatest interest in every word uttered by C C , who
played her part to perfection, because she had only to follow her own nature, and, that nature being beautiful,
C C could not fail to be most charming.
We had passed five delightful hours, and the ambassador seemed more pleased even than any of us. M
M had the air of a person satisfied with her own work, and I was playing the part of an approving
spectator. C C looked highly pleased at having secured the general approbation, and there was, perhaps,
a slight feeling of vanity in her arising from the special attention which the ambassador had bestowed on her.
She looked at me, smiling, and I could easily understand the language of her soul, by which she wished to tell
me that she felt perfectly well the difference between the society in which she was then, and that in which her
brother had given us such a disgusting specimen of his depravity.
After midnight it was time to think of our departure, and M. de Bernis undertook all the complimentary part.
Thanking M M for the most agreeable supper he had ever made in his life, he contrived to make her
offer a repetition of it for two days afterwards, and he asked me, for the sake of appearance, whether I should
not find as much delight in that second meeting as himself. Could he have any doubt of my answering
CHAPTER XXI 9
affirmatively? I believe not, for I had placed myself under the necessity of being compliant. All being agreed,
we parted company.
The next day, when I thought of that exemplary supper, I had no difficulty in guessing what the ultimate result
would be. The ambassador owed his great fortune entirely to the fair sex, because he possessed to the highest
degree the art of coddling love; and as his nature was eminently voluptuous he found his advantage in it,
because he knew how to call desires into existence, and this procured him enjoyments worthy of his delicate
taste. I saw that he was deeply in love with C C , and I was far from supposing him the man to be
satisfied with looking at her lovely eyes. He certainly had some plan arranged, and M M , in spite of all
her honesty, was the prime manager of it. I knew that she would carry it on with such delicate skill that I
should not see any evidence of it. Although I did not feel disposed to shew more compliance than was strictly
just, I foresaw that in the end I should be the dupe, and my poor C C the victim, of a
cunningly-contrived trick. I could not make up my mind either to consent with a good grace, or to throw
obstacles in the way, and, believing my dear little wife incapable of abandoning herself to anything likely to
displease me, I allowed myself to be taken off my guard, and to rely upon the difficulty of seducing her.
Stupid calculation! Self-love and shamefacedness prevented me from using my common sense. At all events,
that intrigue kept me in a state of fever because I was afraid of its consequences, and yet curiosity mastered
me to such an extent that I was longing for the result. I knew very well that a second edition of the supper did
not imply that the same play would be performed a second time, and I foresaw that the changes would be
strongly marked. But I thought myself bound in honour not to retract. I could not lead the intrigue, but I
believed myself sufficiently skilful to baffle all their manoeuvrings.
After all those considerations, however, considerations which enabled me to assume the countenance of false
bravery, the inexperience of C- C , who, in spite of all the knowledge she had lately acquired, was only a
novice, caused me great anxiety. It was easy to abuse her natural wish to be polite, but that fear gave way very
soon before the confidence I had in M M s delicacy. I thought that, having seen how I had spent six
hours with that young girl, knowing for a certainty that I intended to marry her, M M would never be
guilty of such base treason. All these thoughts, worthy only of a weak and bashful jealousy, brought no
conclusive decision. I had to follow the current and watch events.
At the appointed time I repaired to the casino, where I found my two lovely friends sitting by the fire.
"Good evening, my two divinities, where is our charming Frenchman?"
"He has not arrived yet," answered M M , "but he will doubtless soon be here."
I took off my mask, and sitting between them, I gave them a thousand kisses, taking good care not to shew
any preference, and although I knew that they were aware of the unquestionable right I had upon both of
them, I kept within the limits of the utmost decency. I congratulated them upon the mutual inclination they
felt for each other, and I saw that they were pleased not to have to blush on that account.
More than one hour was spent in gallant and friendly conversation, without my giving any satisfaction to my
burning desires. M M attracted me more than C C , but I would not for the world have offended
the charming girl. M M was beginning to shew some anxiety about the absence of M. de Bernis, when
the door-keeper brought her a note from him.
"A courier," he wrote, "who arrived two hours ago, prevents my being happy to-night, for I am compelled to
pass it in answering the dispatches I have received. I trust that you will forgive and pity me. May I hope that
you will kindly grant me on Friday the pleasure of which I am so unfortunately deprived to-day? Let me know
your answer by to-morrow. I wish ardently, in that case, to find you with the same guests, to whom I beg you
will present my affectionate compliments."
CHAPTER XXI 10
"Well," said M M , "it is not his fault. We will sup without him. Will you come on Friday?"
"Yes, with the greatest pleasure. But what is the matter with you, dear C C ? You look sad."
"Sad, no, unless it should be for the sake of my friend, for I have never seen a more polite and more obliging
gentleman."
"Very well, dear, I am glad he has rendered you so sensible."
"What do you mean? Could anyone be insensible to his merit?"
"Better still, but I agree with you. Only tell me if you love him?"
"Well, even if I loved him, do you think I would go and tell him? Besides, I am certain that he loves my
friend."
So saying, she sat down on M M 's knee, calling her her own little wife, and my two beauties began to
bestow on one another caresses which made me laugh heartily. Far from troubling their sport, I excited them,
in order to enjoy a spectacle with which I had long been acquainted.
M M took up a book full of the most lascivious engravings, and said, with a significant glance in my
direction:
"Do you wish me to have a fire lighted in the alcove?"
I understood her, and replied:
"You would oblige me, for the bed being large we can all three sleep comfortably in it."
I guessed that she feared my suspecting the ambassador of enjoying from the mysterious closet the sight of
our amorous trio, and she wished to destroy that suspicion by her proposal.
The table having been laid in front of the alcove, supper was served, and we all did honour to it. We were all
blessed with a devouring appetite. While M M was teaching her friend how to mix punch, I was
admiring with delight the progress made in beauty by C C
"Your bosom," I said to her, "must have become perfect during the last nine months."
"It is like mine," answered M M , "would you like to see for yourself?"
Of course I did not refuse. M M unlaced her friend, who made no resistance, and performing afterwards
the same office upon herself, in less than two minutes I was admiring four rivals contending for the golden
apple like the three goddesses, and which would have set at defiance the handsome Paris himself to adjudge
the prize without injustice. Need I say what an ardent fire that ravishing sight sent coursing through my veins?
I placed immediately an the table the Academie des Dames, and pointed out a certain position to M M ,
who, understanding my wishes, said to C C :
"Will you, darling, represent that group with me?"
A look of compliance was C C 's only answer; she was not yet inured to amorous pleasures as much as
her lovely teacher. While I was laughing with delight, the two friends were getting ready, and in a few
minutes we were all three in bed, and in a state of nature. At first, satisfied with enjoying the sight of the
CHAPTER XXI 11
barren contest of my two bacchanalians, I was amused by their efforts and by the contrast of colours, for one
was dark and the other fair, but soon, excited myself, and consumed by all the fire of voluptuousness, I threw
myself upon them, and I made them, one after the other, almost faint away from the excess of love and
enjoyment.
Worn out and satiated with pleasure, I invited them to take some rest. We slept until we were awakened by the
alarum, which I had taken care to set at four o'clock. We were certain of turning to good account the two
hours we had then to spare before parting company, which we did at the dawn of day, humiliated at having to
confess our exhaustion, but highly pleased with each other, and longing for a renewal of our delightful
pleasures.
The next day, however, when I came to think of that rather too lively night, during which, as is generally the
case, Love had routed Reason, I felt some remorse. M M wanted to convince me of her love, and for
that purpose she had combined all the virtues which I attached to my own affection namely, honour,
delicacy, and truth, but her temperament, of which her mind was the slave, carried her towards excess, and she
prepared everything in order to give way to it, while she awaited the opportunity of making me her
accomplice. She was coaxing love to make it compliant, and to succeed in mastering it, because her heart,
enslaved by her senses, never reproached her. She likewise tried to deceive herself by endeavouring to forget
that I might complain of having been surprised. She knew that to utter such a complaint I would have to
acknowledge myself weaker or less courageous than she was, and she relied upon my being ashamed to make
such a confession. I had no doubt whatever that the absence of the ambassador had been arranged and
concerted beforehand. I could see still further, for it seemed evident to me that the two conspirators had
foreseen that I would guess the artifice, and that, feeling stung to the quick, in spite of all my regrets, I would
not shew myself less generous than they had been themselves. The ambassador having first procured me a
delightful night, how could I refuse to let him enjoy as pleasant a one? My friends had argued very well, for,
in spite of all the objections of my mind, I saw that I could not on my side put any obstacle in their way. C
C was no impediment to them. They were certain of conquering her the moment she was not hindered by
my presence. It rested entirely with M M , who had perfect control over her. Poor girl! I saw her on the
high road to debauchery, and it was my own doing! I sighed when I thought how little I had spared them in
our last orgie, and what would become of me if both of them should happen to be, by my doing, in such a
position as to be compelled to run away from the convent? I could imagine both of them thrown upon my
hands, and the prospect was not particularly agreeable. It would be an 'embarras de richesse'. In this miserable
contest between reason and prejudice, between nature and sentiment, I could not make up my mind either to
go to the supper or to remain absent from it. "If I go," said I to myself, "that night will pass with perfect
decency, but I shall prove myself very ridiculous, jealous, ungrateful, and even wanting in common
politeness: if I remain absent, C C is lost, at least, in my estimation, for I feel that my love will no
longer exist, and then good-bye to all idea of a marriage with her." In the perplexity of mind in which I found
myself, I felt a want of something more certain than mere probabilities to base my decision upon. I put on my
mask, and repaired to the mansion of the French ambassador. I addressed myself to the gate-keeper, saying
that I had a letter for Versailles, and that I would thank him to deliver it to the courier when he went back to
France with his excellency's dispatches.
"But, sir," answered the man, "we have not had a special courier for the last two months:"
"What? Did not a special cabinet messenger arrive here last night?"
"Then he must have come in through the garret window or down the chimney, for, on the word of an honest
man, none entered through the gate."
"But the ambassador worked all night?"
"That may be, sir, but not here, for his excellency dined with the Spanish ambassador, and did not return till
CHAPTER XXI 12
very late:"
I had guessed rightly. I could no longer entertain any doubt. It was all over; I could not draw back without
shame. C C must resist, if the game was distasteful to her; no violence would of course be offered to
her. The die was cast!
Towards evening I went to the casino of Muran, and wrote a short note to M M , requesting her to
excuse me if some important business of M. de Bragadin's prevented me from spending the night with her and
with our two friends, to whom I sent my compliments as well as my apologies. After that I returned to Venice,
but in rather an unpleasant mood; to divert myself I went to the gaming table, and lost all night.
Two days afterwards, being certain that a letter from M M awaited me at Muran, I went over, and the
door-keeper handed me a parcel in which I found a note from my nun and a letter from C C , for
everything was now in common between them.
Here is C C 's letter"
"We were very sorry, dearest friend, when we heard that we should not have the happiness of seeing you. My
dear M M 's friend came shortly afterwards, and when he read your note he likewise expressed his deep
regret. We expected to have a very dull supper, but the witty sayings of that gentleman enlivened us and you
cannot imagine of what follies we were guilty after partaking of some champagne punch. Our friend had
become as gay as ourselves, and we spent the night in trios, not very fatiguing, but very pleasant. I can assure
you that that man deserves to be loved, but he must acknowledge himself inferior to you in everything.
Believe me, dearest, I shall ever love you, and you must for ever remain the master of my heart."
In spite of all my vexation, that letter made me laugh, but the note of M M was much more singular.
Here are the contents of it:
"I am certain, my own beloved, that you told a story out of pure politeness, but you had guessed that I
expected you to do so. You have made our friend a splendid present in exchange for the one he made you
when he did not object to his M M bestowing her heart upon you. You possess that heart entirely,
dearest, and you would possess it under all circumstances, but how sweet it is to flavour the pleasures of love
with the charms of friendship! I was sorry not to see you, but I knew that if you had come we would not have
had much enjoyment; for our friend, notwithstanding all his wit, is not exempt from some natural prejudices.
As for C C , her mind is now quite as free of them as our own, and I am glad she owes it to me. You
must feel thankful to me for having completed her education, and for rendering her in every way worthy of
you. I wish you had been hiding in the closet, where I am certain you would have spent some delightful hours.
On Wednesday next I shall be yours, and all alone with you in your casino in Venice; let me know whether
you will be at the usual hour near the statue of the hero Colleoni. In case you should be prevented, name any
other day."
I had to answer those two letters in the same spirit in which they had been written, and in spite of all the bitter
feelings which were then raging in my heart, my answers were to be as sweet as honey. I was in need of great
courage, but I said to myself: "George Dandin, tu las voulu!" I could not refuse to pay the penalty of my own
deeds, and I have never been able to ascertain whether the shame I felt was what is called shamefacedness. It
is a problem which I leave to others.
In my letter to C C I had the courage, or the effrontery, to congratulate her, and to encourage her to
imitate M M , the best model, I said, I could propose to her.
I wrote to my nun that I would be punctual at the appointment near the statue, and amidst many false
compliments, which ought to have betrayed the true state of my heart, I told her that I admired the perfect
CHAPTER XXI 13
education she had given to C C , but that I congratulated myself upon having escaped the torture I
should have suffered in the mysterious observatory, for I felt that I could not have borne it.
On the Wednesday I was punctual at the rendezvous, and I had not to wait long for M M , who came
disguised in male attire. "No theatre to-night," she said to me; "let us go to the 'ridotto', to lose or double our
money." She had six hundred sequins. I had about one hundred. Fortune turned her back upon us, and we lost
a11. I expected that we would then leave that cutthroat place, but M M , having left me for a minute,
came back with three hundred sequins which had been given to her by her friend, whom she knew where to
find. That money given by love or by friendship brought her luck for a short time, and she soon won back all
we had lost, but in our greediness or imprudence we continued to play, and finally we lost our last sequin.
When we could play no longer, M M said to me,
"Now that we need not fear thieves, let us go to our supper."
That woman, religious and a Free-thinker, a libertine and gambler, was wonderful in all she did. She had just
lost five hundred pounds, and she was as completely at her ease as if she had won a very large sum. It is true
that the money she had just lost had not cost her much.
As soon as we were alone, she found me sad and low-spirited, although I tried hard not to appear so, but, as
for her, always the same, she was handsome, brilliant, cheerful, and amorous.
She thought she would bring back my spirits by giving me the fullest particulars of the night she had passed
with C C and her friend, but she ought to have guessed that she was going the wrong way. That is a
very common error, it comes from the mind, because people imagine that what they feel themselves others
must feel likewise.
I was on thorns, and I tried everything to avoid that subject, and to lead the conversation into a different
channel, for the amorous particulars, on which she was dwelling with apparent delight, vexed me greatly, and
spite causing coldness, I was afraid of not playing my part very warmly in the amorous contest which was at
hand. When a lover doubts his own strength, he may almost always be sure that he will fail in his efforts.
After supper we went to bed in the alcove, where the beauty, the mental and physical charms, the grace and
the ardour of my lovely nun, cast all my bad temper to the winds, and soon restored me to my usual
good-spirits. The nights being shorter we spent two hours in the most delightful pleasures, and then parted,
satisfied and full of love.
Before leaving, M M asked me to go to her casino, to take some money and to play, taking her for my
partner. I did so. I took all the gold I found, and playing the martingale, and doubling my stakes continuously,
I won every day during the remainder of the carnival. I was fortunate enough never to lose the sixth card, and,
if I had lost it, I should have been without money to play, for I had two thousand sequins on that card. I
congratulated myself upon having increased the treasure of my dear mistress, who wrote to me that, for the
sake of civility, we ought to have a supper 'en partie carree' on Shrove Monday. I consented.
That supper was the last I ever had in my life with C C She was in excellent spirits, but I had made up
my mind, and as I paid all my attentions to M M , C C imitated my example without difficulty,
and she devoted herself wholly to her new lover.
Foreseeing that we would, a little later, be all of us in each other's way, I begged M M to arrange
everything so that we could be apart, and she contrived it marvellously well.
After supper, the ambassador proposed a game of faro, which our beauties did not know; he called for cards,
CHAPTER XXI 14

một số biện pháp chủ yếu hoàn thiện chiến lược marketing-mix nhằm mở rộng thị trường của công ty kính đáp cầu


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số biện pháp chủ yếu hoàn thiện chiến lược marketing-mix nhằm mở rộng thị trường của công ty kính đáp cầu": http://123doc.vn/document/1047023-mot-so-bien-phap-chu-yeu-hoan-thien-chien-luoc-marketing-mix-nham-mo-rong-thi-truong-cua-cong-ty-kinh-dap-cau.htm


Nội dung của chiến lợc Marketing- mix bao gồm 4 chính sách cơ bản mà công ty phải
thông qua.
2.1 Chính sách sản phẩm
Đây là biến số quan trọng nhất của chiến lợc kinh doanh cũng nh chiến lợc
Marketing- mix. Thực hiện tốt chính sách này góp phần tạo uy tín và khả năng cạnh tranh
giành khách hàng cho công ty. Chính sách sản phẩm đợc thực hiện thông qua các quyết định
sau:
- Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hoá
- Quyết định về chất lợng sản phẩm
- Quyết định về nhãn hiệu và bao bì sản phẩm
- Quyết định về dịch vụ khách hàng
* Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hoá
+ Quyết định về chủng loại hàng hoá
Chủng loại hàng hoá là một nhóm hàng hoá có liên quan chặt chẽ với nhau do giống
nhau về chức năng hay do bán chung cho một nhóm khách hàng, hay thông qua các kiểu tổ
chức thơng mại, hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá. (Marketing-NXB Thống kê-2000-
Trang 185)
+ Quyết định về danh mục hàng hoá
Danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả các nhóm chủng loại sản phẩm và các đơn
vị sản phẩm do một nhà cung cấp cụ thể đem chào bán cho ngời mua (Marketing- NXB
Thống kê- 2000 - Trang 186)
Các thông số đặc trng trên cho danh mục sản phẩm mở ra cho công ty các chiến lợc
mở rộng danh mục sản phẩm:
+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ sung sản phẩm mới.
+ Kéo dài từng loại sản phẩm làm tăng chiều dài danh mục.
+ Bổ xung các phơng án sản phẩm cho từng loại sản phẩm và làm tăng chiều sâu của
danh mục sản phẩm.
+ Tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tuỳ thuộc công ty có ý muốn tăng uy tín
vững chắc trên lĩnh vực hay trên nhiều lĩnh vực.
* Quyết định về nhãn hiệu và bao gói sản phẩm
Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu thờng là:
(1) Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không?
(2) Ai là chủ nhãn hiệu sản phẩm?
(3) Tơng ứng với nhãn hiệu đã chọn chất lợng sản phẩm có những đặc trng gì?
(4) Đặt tên cho nhãn hiệu nh thế nào?
(5) Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?
(6) Sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các sản phẩm có những đặc tính khác nhau
của cùng một mặt hàng?
* Quyết định về chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hay
dịch vụ đem lại cho nó khả năng thoả mãn những nhu cầu đợc nói ra hay đợc hiểu ngầm.
Chất lợng sản phẩm của công ty đợc thể hiện thông qua các thông số sau:
(1) Độ bền của sản phẩm: Nó bao gồm các yếu tố nh tuổi thọ của sản phẩm, khả năng
chịu đựng của các điều kiện tự nhiên, mức độ quá tải hàng sản xuất
(2) Hệ số an toàn: khả năng đảm bảo an toàn trong sản xuất, trong sử dụng,
(3) Đảm bảo thiết kế kỹ thuật: các sản phẩm đợc sản xuất phải đảm bảo đợc đúng các
thiết kế kỹ thuật, các thông số kỹ thuật,
(4) Khả năng thích ứng: sản phẩm dễ sử dụng, dễ sửa chữa, dễ thay thế, bảo dỡng,
* Dịch vụ sau bán hàng
Dịch vụ bán hàng đợc thực hiện tốt sẽ làm tăng lợi ích nhận đợc của khách hàng và
làm tăng sự hài lòng. Nó là công cụ đắc lực trong việc tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Đối
5
với những sản phẩm có tính chất tổng hợp về kỹ thuật, về kinh tế và nó mang tính chất cá
biệt, do vậy nó cần phải có các dịch vụ khách hàng, bao gồm
- Thời gian giao hàng
- Mua bảo hiểm cho khách hàng
- Sửa chữa và bảo hành sản phẩm
- Kiểm tra định kỳ
- Chuyển giao kỹ thuật sử dụng
- Dịch vụ vận chuyển,
2.2- Chính sách giá cả
Chiến lợc định giá phụ thuộc vào mục tiêu marketing của công ty. Khi xác định giá
cho sản phẩm, công ty cần xem xét các bớc của quá trình định giá nh sau:
Thứ nhất, Công ty lựa chọn đợc mục tiêu marketing của mình thông qua định giá, đó
là: chi phí, lợi nhuận, tăng tối đa thu nhập trớc mắt, tăng mức tiêu thụ, tăng việc giành phần
ngon của thị trờng hay dành vị trí dẫn đầu về mặt chất lợng sản phẩm.
Thứ hai, Công ty xác định, ớc lợng quy mô cầu và độ co dãn của cầu để có căn cứ
định giá cho thích hợp.
Thứ ba, Công ty ớc tính giá thành và đây là mức giá sàn của sản phẩm.
Thứ t, Tìm hiểu giá của đối thủ cạnh tranh để làm cơ sở xác định vị trí cho giá của
mình.
Thứ năm, Lựa chọn phơng pháp định giá, nó bao gồm các phơng pháp: Định giá theo
phụ giá, định giá theo lợi nhuận mục tiêu, định giá theo giá trị cảm nhận của khách hàng,
định giá theo giá trị, định giá theo giá cả hiện hành, định giá đấu thầu.
Thứ sáu, Công ty lựa chọn giá cuối cùng của mình, phối hợp với các yếu tố khác của
Marketing- mix.
Do vấn đề cạnh tranh và sự thay đổi của thị trờng kéo theo công ty phải thay đổi, điều
chỉnh giá cho thích hợp, có thể có các chiến lợc điều chỉnh sau: Định giá theo nguyên tắc địa
lý, chiết giá và bớt giá, định giá khuyến mãi, định giá phân biệt và định giá cho danh mục sản
phẩm.
Khi thực hiện việc thay đổi, điều chỉnh giá công ty cần phải xem xét thận trọng những
phản ứng của thị trờng, khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
2.3- Chính sách phân phối
Thực hiện một chính sách phân phối thực ra là việc xây dựng một kênh phân phối và
điều này quyết định phần lớn đến sự thành công hay thất bại trong kinh doanh của doanh
nghiệp. Vậy kênh phân phối là gì?
Kênh phân phối là một tập hợp các công ty khác hay các cá nhân tự gánh vác hay
giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với những hàng hoá hay dịch vụ cụ thể
của công ty đến ngời tiêu dùng .
Kênh phân phối tồn tại ở bên ngoài doanh nghiệp nó không phải là một phần cấu trúc
nội bộ của doanh nghiệp. Quản lý kênh phân phối liên quan đến sử dụng khả năng quản lý
giữa các tổ chức hơn là quản lý trong một tổ chức. Các thành viên trong một kênh phân phối
có quan hệ với nhau theo chiều dọc để đa hàng hoá công ty tới tận tay ngời tiêu dùng, các
quan hệ thể hiện chức năng đàm phán của các thành viên kênh.
Việc thiết lập quản lý hệ thống kênh phân phối nhằm vào mục đích cuối cùng là đạt đ-
ợc mục tiêu phân phối. Trớc khi thiết lập hệ thống kênh phân phối thì mục tiêu phân phối đã
phải đợc xác định để từ đó việc thiết kế, quản lý kênh hớng theo mục tiêu đó. Mục tiêu phân
phối có thể thay đổi và có thể làm cho các yếu tố trong tổ chức, quan hệ bên ngoài và cách
quản lý các hoạt động cũng thay đổi theo.
* Bản chất hệ thống kênh phân phối.
- Lý do sử dụng các trung gian trong hệ thống kênh phân phối.
6
Việc sử dụng các trung gian trong hệ thống kênh phân phối của công ty đồng nghĩa với
việc công ty phải ứng phó với rất nhiều khó khăn trong việc quản lý các hoạt động phân phối
cũng nh các thành viên của kênh phân phối. Tuy vậy, các công ty vẫn sẵn sàng chuyển giao
một phần công việc tiêu thụ sản phẩm của mình cho ngời trung gian. Việc chuyển giao đó có
nghĩa là từ bỏ một số quyền kiểm soát sản phẩm đó xem nó đợc bán nh thế nào và đợc bán
cho ai?. Nh vậy, công ty đã giao phó vận mệnh của mình cho ngời trung gian. Mặc dù vậy, xu
hớng sử dụng các trung gian trong hệ thống phân phối của các công ty đang ngày càng đợc
chú trọng bởi vì việc sử dụng các trung gian thờng mang lại lợi thế lớn cho các công ty.
Việc sử dụng các trung gian đem lại hiệu quả cao hơn trong việc đảm bảo phân phối
đến những thị trờng mục tiêu. Nhờ quan hệ tiếp xúc kinh nghiệm, việc chuyên môn hoá và
quy mô hoạt động của các trung gian sẽ làm lợi cho công ty nhiều hơn là khi công ty tự làm
lấy.
* Chức năng của kênh phân phối.
Kênh phân phối thực hiện công việc luân chuyển hàng hoá từ nhà sản xuất đến ngời tiêu
dùng (đối với nhà sản xuất). Đối với công ty chuyên về phân phối thì kênh phân phối của
công ty nó là thực hiện việc luân chuyển hàng hoá mà công ty phân phối đến tay ngời tiêu
dùng. Chúng ta thấy rằng, các công ty phân phối có thể phân phối nhiều loại hàng hoá của
nhiều nhà sản xuất khác nhau. Nh vậy, đối với các nhà sản xuất thì công ty phân phối sẽ đóng
vai trò là một thành viên của kênh phân phối (KPP) của mỗi nhà sản xuất. Tuy vậy các công
ty phân phối này có thể thiết lập cho mình một hệ thống phân phối hàng hoá cho riêng mình
và các loại hàng hoá của công ty phân phối thờng có sự liên hệ với nhau. Các thành viên trong
kênh phân phối có các chức năng sau:
- Nghiên cứu thu thập thông tin có liên quan nh: Các điều kiện thị trờng, khối lợng bán
mong muốn, các xu hớng khách hàng, các lực lợng cạnh tranh để lập kế hoạch và tạo thuận
lợi cho việc trao đổi.
- Kích thích tiêu thụ: Soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng hoá nh quảng cáo,
khuyến mại, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm
- Thiết lập các mối quan hệ: Nhiệm vụ chủ yếu ở đây đối với thành viên kênh là tạo
dựng và duy trì mối quan hệ đối với khách hàng tiềm năng, ngoài ra cần phải giữ mối liên hệ
tốt hỗ trợ giúp đỡ nhau đối với các thành viên kênh khác.
- Hoàn thiện hàng hoá: làm cho hàng hoá đáp ứng đợc những yêu cầu của ngời mua.
- Đàm phán và thơng lợng: Những việc thoả thuận về giá và những điều kiện khác để
thực hiện bớc tiếp theo là chuyển giao quyền sở hữu hay sử dụng
- Chức năng tiêu thụ hàng hoá: bán hàng, tổ chức vận chuyển, bảo quản, dự trữ, phân
loại hàng hoá.
- Hỗ trợ các chức năng trong kênh: tìm kiếm nguồn tài chính áp dụng các điều khoản u
đãi về thời gian thanh toán.
- Đối phó với rủi ro: Gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh phân phối, san sẻ rủi
ro cho các hoạt động trong kênh khác.
Nếu nhà sản xuất thực hiện một phần các chức năng đó thì chi phí của nó sẽ tăng lên t-
ơng xứng và nghĩa là giá cả sẽ cao hơn.
* Các dòng chảy trong kênh phân phối.
Sự luân chuyển hàng hoá qua kênh phân phối vợt qua các ngăn cách về thời gian, không
gian và quyền sở hữu, giữa hàng hoá và dịch vụ tới những ngời sẽ sử dụng chúng. Trong một
7
kênh phân phối có nhiều dòng chảy, những dòng chảy này cung cấp sự liên kết ràng buộc các
thành viên trong kênh cũng nh các tổ chức khác có liên quan đến hoạt động phân phói.
Những dòng chảy quan trọng là:
- Dòng chảy chuyển quyền sở hữu
- Dòng sản phẩm: thể hiện sự di chuyển vật chất thực sự của sản phẩm về không gian,
thời gian qua tất cả các thành viên tham gia vào quá trình phân phối từ nhà sản xuất đến
ngời tiêu dùng cuối cùng.
- Dòng đàm phán: thể hiện sự tác động qua lại lẫn nhau của các bên mua và bán liên
quan đến quyền sở hữu sản phẩm. Đây là dòng hai chiều chỉ số đàm phán liên quan đến trao
đổi song phơng giữa ngời mua và ngời bán ở tất cả các mức độ kênh.
- Dòng thông tin: là dòng chảy 2 chiều trong các thành viên của kênh với các tổ chức hỗ
trợ để đảm bảo cho các dòng chảy khác hoạt động. Những thông tin chủ yếu gồm: số lợng,
chất lợng hàng hoá, thời gian và địa điểm giao nhận, giá cả hàng hoá, phơng thức thanh
toán
- Dòng xúc tiến: là dòng hai chiều thể hiện sự hỗ trợ về truyền tin, sản phẩm hoặc dịch
vụ của ngời sản xuất cho tất cả các thành viên trong kênh phân phối dới các hình thức quảng
cáo, bán hàng cá nhân, xúc tiến bán hàng và quan hệ với công chúng.
- Dòng tiền tệ và chứng từ thanh toán: là dòng vận động ngợc chiều từ ngời mua cuối
cùng trở lại ngời sản xuất. Nó tách rời sự vận động của sản phẩm và chuyển quyền sở hữu ở
các mức độ nhất định.
- Dòng đặt hàng: thể hiện cơ chế thu thập, tập hợp, xử lý các đơn đặt hàng từ ngời mua
cuối cùng đến trở lại ngời sản xuất.
* Cấu trúc và các thành viên của kênh phân phối.
- Khái niệm.
Cấu trúc kênh: là số lợng và đặc điểm của các thành viên kênh mà tập hợp các công
việc phân bổ cho họ theo những cách thức khác nhau.
- Cơ cấu kênh phân phối
Trong một hệ thống kênh phân phối của một công ty sẽ bao gồm nhiều kênh phân phối
có cơ cấu khác nhau. Mỗi kênh phân phối có thể không qua trung gian, qua một trung gian
hoặc nhiều trung gian. Trong thị trờng hàng tiêu dùng thông thờng mô hình kênh phân phối đ-
ợc trình bày theo sơ đồ sau:
Sơ đồ
1 - Môi
hình kênh
phân phối
hàng tiêu
dùng
8
Nhà
sản
xuất
Ng ời
tiêu
dùng
cuối
cùng
Bán lẻ
Bán lẻ
Bán lẻ
Bán lẻBán buôn
Bán buôn
Đại lý
1
2
3
4
+ Loại kênh (1): Kênh phân phối trực tiếp từ công ty đến ngời tiêu dùng. Loại kênh này
thờng đợc sử dụng cho các loại hàng hoá có tính thơng phẩm đặc biệt (hàng dễ hỏng, dễ vỡ )
hoặc đợc sử dụng ở thị trờng nhỏ mà nơi đó nhà sản xuất độc quyền bán cho ngời tiêu dùng.
Loại kênh này có u thế đẩy nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, bảo đảm sự giao tiếp chặt chẽ
của nhà sản xuất trong lĩnh vực phân phối đảm bảo tính chủ đạo của nhà sản xuất trong kênh
phân phối. Nhng loại kênh này có những hạn chế nh trình độ chuyên môn hoá thấp, tổ chức
và quản lý kênh phức tạp, vốn và nhân lực phân tán, tốc độ chu chuyển vốn chậm.
+ Loại kênh (2), (3), (4): là những loại kênh phân phối có sử dụng trung gian. Trong mô
hình trên, số cấp trung gian mới chỉ đến 3 cấp nhng trong thực tế có những kênh phân phối có
số cấp trung gian có thể lên tới 5 hoặc 6 cấp. Thông thờng ở địa bàn càng hẹp thì số cấp trung
gian càng ít, ở địa bàn rộng trong kênh phân phối số cấp trung gian có thể lớn hơn. Số cấp
trung gian phụ thuộc lớn vào chính sách phân phối của công ty, tiềm lực của công ty cũng nh
sự phát triển thị trờng của nơi mà công ty phân phối. Loại kênh dài khoảng 2 đến 3 cấp trung
gian là loại hình phổ biến trong kênh phân phối hàng hoá. Kênh này thờng đợc sử dụng với
những hàng hoá sản xuất tập trung nhng phân phối phân tán. Loại kênh này do quan hệ mua
bán trong từng kênh nên tổ chức tơng đối chặt chẽ, vòng quay vốn nhanh, luồng vận động sở
hữu có nhiều vòng hơn. Tuy nhiên, do kênh dài nên khả năng rủi ro lớn, việc thích hợp và
điều hành kênh khó khăn hơn, thời gian lu thông hàng hoá dài hơn, chi phí phân phối cả kênh
lớn.
* Các thành viên của kênh.
Trong một kênh Marketing, thông qua nhiệm vụ và trách nhiệm của các thành viên
kênh từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, ngời ta chia các thành viên kênh thành 2 loại: loại chính
thức và loại bổ trợ.
- Thành viên chức thức của kênh.
+ Định nghĩa
Thành viên chính thức của kênh là tập hợp các tổ chức hình thành nên cấu trúc chính
thức của một kênh phân phối. Nó tham gia vào quá trình đàm phán để phân chia những công
việc phân phối. Gồm:
Ngời sản xuất, nhà cung cấp, nhà nhập khẩu: đợc xác định nh là những phần tử đầu
kênh quyết định việc cung cấp cho thị trờng những sản phẩm hoặc dịch vụ đợc sản
xuất từ nhiều ngành, hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Các nhà trung gian:
Ngời bán buôn: là tập hợp những tổ chức, cá nhân mua hàng hoá với khối lợng lớn
để bán lại cho ngời khác với khối lợng nhỏ hơn, cho ngời bán lẻ, các doanh nghiệp
sản xuất các tổ chức và cơ quan đoàn thể Mức độ tập trung (quy mô) của ngời
bán buôn rất lớn. Ngời bán buôn thờng có nhân viên, có phơng tiện kinh doanh, có
khả năng chi phối lớn quan hệ thị trờng. Thờng có các dạng bán buôn sau:
Ngời bán buôn hàng hoá: là những ngời thực hiện đầy đủ các chức năng của bán
buôn nói chung có quyền sở hữu hàng hoá và có khả năng ảnh hởng tới
Marketing. Họ có u thế trong kênh phân phối nhờ quy mô kinh doanh lớn, quan hệ
rộng rãi. Do đó, có thể đạt đợc sự tín nhiệm của cả nhà sản xuất lẫn các trung gian
khác. Đồng thời có sự gần gũi với khách hàng, vì vậy, ngời bán buôn hàng hoá th-
ờng đóng vai trò điều khiển kênh. Họ tác động đến ngời sản xuất và các trung gian
khác thông qua các hoạt động trợ giúp nh cung cấp vốn, t vấn kỹ thuật và cung cấp
thông tin.
9
Đại lý bán buôn: Họ không có quyền sở hữu các sản phẩm về những sản phẩm đợc
bán ra mà chỉ đợc hởng hoa hồng từ ngời bán buôn hoặc nhà sản xuất. Họ thực
hiện một số công việc hạn chế theo sự phân công nh là dự trữ tối thiểu sản phẩm,
cung cấp dịch vụ cho khách hàng, thu thập thông tin Ngời có thể cũng đồng thời
tham gia vào việc tiếp xúc với khách hàng để phát triển thị trờng và đa ra những ý
kiến chiến lợc cho nhà sản xuất.
Môi giới: Có chức năng thiết lập tiếp xúc giữa ngời sản xuất với những ngời bán
buôn với cả khoa học công nghiệp. Họ không có quyền sở hữu hàng hoá nhng giúp
cho sản phẩm vận động đúng hớng, tiết kiệm thời gian và chi phí, giảm bớt những
tổn thất liên quan đến bảo quản dự trữ. Họ còn có thể t vấn, tập hợp các đơn đặt
hàng vì thế trên thị trờng thế giới vai trò của môi giới là rất quan trọng.
Chi nhánh và đại diện của ngời sản xuất: thờng đợc thiết lập để thực hiện những
công việc của lực lợng bán ở các thị trờng xa. Đồng thời thực hiện các hoạt động
tiếp xúc khoa học, đơn đặt hàng và thu thập thông tin thị trờng. Những đại diện của
ngời sản xuất thực hiện tập hợp những công việc hạn chế trong một vùng lãnh thổ
nhất định.
Ngời bán lẻ: là những cá nhân hay tổ chức mua sản phẩm của ngời bán buôn hoặc
ngời sản xuất để bán lại cho ngời tiêu dùng cá nhân nhằm thoả mãn những nhu cầu
trong tiêu dùng sinh hoạt của họ. Ngời bán lẻ thờng xuyên tiếp xúc với khách hàng
cuối cùng nên hiểu kỹ nhu cầu thị trờng, họ có hệ thống cửa hàng phong phú tiện
lợi cho việc bán hàng của họ.
Ngời tiêu dùng cuối cùng: là ngời trực tiếp sử dụng các sản phẩm bán ra từ nhà sản
xuất. Ngời tiêu dùng cuối cùng là thị trờng mục tiêu đợc đáp ứng bởi các hệ thống
thơng mại của kênh, là ngời ảnh hởng trực tiếp đến doanh số của các thành viên
khác trong kênh. Nhà sản xuất cần phải nghiên cứu các thay đổi trong nhu cầu của
các thành viên này để có những chính sách thích hợp.
- Các tổ chức bổ trợ.
+ Công ty vận tải
+ Công ty kho vận
+ Công ty tài chính
+ Các công ty quảng cáo
+ Các công ty bảo hiểm
+ Các công ty Marketing:
2.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp
Đây cũng là một trong bốn công cụ chủ yếu của Marketing- mix và nó trở nên ngày
càng có hiệu quả và quan trọng mà công ty có thể sử dụng để tác động vào thị trờng mục tiêu.
Bản chất của các hoạt động xúc tiến chính là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới
khách hàng để thuyết phục họ mua hàng.
Chính sách xúc tiến hỗn hợp bao gồm 5 công cụ chủ yếu là:
- Quảng cáo
- Marketing trực tiếp
- Kích thích tiêu thụ
- Quan hệ quần chúng và tuyên truyền
- Bán hàng trực tiếp
10
III- Thị trờng Kính Việt nam và một số vấn đề marketing cần lu ý đối với các
nhà sản xuất
1-Thị trờng của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm Kính thuỷ
tinh
1.1- Thị trờng của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm Kính thuỷ tinh
Thị trờng bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong
muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn
đó.
Với quan điểm trên, thị trờng các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm Kính thuỷ tinh bao
gồm tất cả các khách hàng trên thị trờng từ các tổ chức đến những ngời tiêu dùng cuối cùng có
nhu cầu mua kính. Các khách hàng của doanh nghiệp này thờng là:
+ Các nhà trung gian phân phối sản phẩm kính.
+ Các doanh nghiệp xây lắp: thực hiện các dự án xây dựng nhà cao tầng,
+ Các công trình xây dựng nhà có quy mô lớn.
+ Các doanh nghiệp sản xuất và lắp giáp ô tô, các xí nghiệp sản xuất các sản phẩm có
liên quan đến sản phẩm kính (các xí nghiệp sản xuất tủ, trạn, bàn,)
Các doanh nghiệp chủ yếu tạo lên những ngời cung ứng trong thị trờng này bao gồm:
+ Công ty Kính Đáp Cầu- Bắc Ninh.
+ Công ty Kính nổi Việt- Nhật.
+ Các nhà bán buôn các sản phẩm kính nhập khẩu từ Trung Quốc (đây là các nhà nhập
lậu kính vào thị trờng trong nớc).
+
1.2- Các sản phẩm chủ yếu trên thị trờng
Tất cả các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng sản phẩm kính đều thuộc thành viên của
Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm Xây dựng thuộc Bộ xây dựng. Ngoài ra còn các nhà buôn
kính từ Trung Quốc, Malayxia, Các sản phẩm chủ yếu mà các doanh nghiệp này cung ứng
trên thị trờng:
+ Các công trình xây dựng nhà và trang trí nội thất: kính trắng xây dựng, kính màu,
kính mờ, gơng soi siêu phẳng,
+ Các sản phẩm kính trắng, kính an toàn, kính màu phục vụ cho sản xuất ô tô, mô tô,
máy bay,
+ Các sản phẩm kính trắng, kính màu, kính mờ, gơng soi siêu phẳng, bông thuỷ tinh
phục vụ cho tiêu dùng của các hộ gia đình (xây nhà và trang trí nội thất, ).
1.3- Nhận xét chung về thị trờng của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản
phẩm kính thuỷ tinh
Qua thực tiễn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm kính thuỷ tinh trên thị trờng ta thấy rằng
khối lợng mua sắm là rất lớn bao phủ toàn bộ thị trờng từ các cá nhân ngời tiêu dùng đến các
tổ chức chuyên dùng. Sự bao phủ rộng lớn của thị trờng với đầy đủ các loại ngời mua là yếu tố
khó có thể kiểm soát đợc.
2-Những đặc trng cơ bản của thị trờng sản phẩm kính Thuỷ tinh
2.1-Quy mô của thị trờng
Thị trờng sản phẩm kính thuỷ tinh (phần lớn thuộc hàng t liệu sản xuất-sản phẩm kính
xây dựng) có quy mô, danh mục hàng hoá, khối lợng chu chuyển rất lớn. Điều này là do để
có đợc những sản phẩm tiêu dùng cuối cùng xã hội phải thực hiện một chuỗi các giai đoạn
sản xuất, phân phối và thực hiện một khối lợng giao dịch khổng lồ để mua bán các chủng loại
hàng hoá khác nhau. Các sản phẩm kính trắng, kính màu phục vụ cho xây dựng có khối lợng
chu chuyển rất lớn và bao phủ rộng khắp, bên cạnh đó sản phẩm kính trắng, kính màu, gơng,
tấm lợp, phục vụ thiết thực cho nhu cầu tiêu dùng của các hộ gia đình cũng có khối lợng lớn
trên thị trờng và có phạm vi bao phủ rộng khắp cả nớc.
Cùng với sự tăng trởng của nền kinh tế thì vấn đề đô thị hoá, xây dựng cũng ngày
càng gia tăng. Với sự phát triển đô thị hoá nh hiện nay thì nhu cầu xây dựng các công trình
nhà cửa, cơ quan, xí nghiệp ngày càng lớn. Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm kính là: bền,
11
mát, đẹp, và các điều kiện địa lý, khí hậu làm cho nhu cầu về các sản phẩm kính ngày càng
đợc quan tâm. Theo nguồn số liệu từ công ty, nếu nh trớc đây công ty cung cấp và làm chủ
toàn bộ thị trờng thì hiện nay nó đang phải đối mặt với các sản phẩm cạnh tranh làm cho quy
mô thị trờng của nó chỉ còn 20%. Quy mô sản phẩm kính trên toàn bộ thị trờng vào khoảng
20 triệu m
2
/năm, trong đó công ty chiếm khoảng 4 triệu m
2
, còn lại sản phẩm kính Việt- Nhật
và kính nhập lậu chiếm khoảng 80% thị trờng.
2.2-Kết cấu thị trờng và đặc tính của cầu
Do số lợng khách hàng ít, nhng tầm cỡ lớn nên mối quan hệ mua-bán giữa nhà cung
ứng và ngời tiêu thụ ở thị trờng kính xây dựng thờng gần gũi hơn. Giữa họ luôn hình thành
mối quan hệ thiện chí để duy trì làm ăn lâu dài. Vì thế quan hệ có tính chất hợp tác lâu dài trở
thành yêu cầu luôn đợc các nhà cung ứng đặc biệt coi trọng trong các lời chào hàng.
Thị trờng các doanh nghiệp sản xuất kính có tính chất tập trung theo vùng địa lí. Các
khu công nghiệp, khu dân c luôn đợc coi là thị trờng trọng điểm của các nhà cung ứng sản
phẩm hính xây dựng. Với các sản phẩm kính công nghiệp thì tuyệt đại bộ phận đợc tiêu thụ
tập trung tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,-nơi mà tốc độ phát triển công nghiệp diễn ra
nhanh.
Cầu của thị trờng sản phẩm kính xây dựng mang tính chất thứ phát hay thụ động. Vì
bản thân nó là hàng công nghiệp nên nó bắt nguồn từ cầu hàng tiêu dùng là nhu cầu của
những ngời sử dụng sản phẩm thuộc sự quản lí của các chủ đầu t, các doanh nghiệp xây lắp,
Cầu về sản phẩm kính có độ co dãn về giá cả thấp nh hàng t liệu sản xuất. Nghĩa là,
tổng cầu về các sản phẩm kính ít thay đổi khi giá sản phẩm kính thay đổi. Đây là số xu h ớng
phổ biến về sự co dãn của cầu mà các nhà làm marketing nên quan tâm.
2.3- Những ngời mua sắm
Các sản phẩm kính có nhiều chủng loại và có nhiều thông số phức tạp với các đặc tính
kỹ thuật và công dụng khác nhau, do vậy kéo theo số lợng và trình độ những ngời tham gia
vào quá trình quyết định mua càng lớn và càng cao. Điều này có nghĩa là để bán đợc các sản
phẩm kính của mình, các công ty cung ứng sản phẩm phải tuyển dụng một số kỹ s, chuyên
viên, đội ngũ nhân viên bán hàng, chào hàng đợc đào tạo tốt về nghiệp vụ bán hàng lẫn kỹ
thuật.
2.4- Các đặc tính khác
Ngoài các đặc tính cơ bản ở trên, các nhà hoạt động marketing còn cần phải lu ý tới
một số đặc trng khác của thị trờng sản phẩm kính:
- Tính chất mua hàng trực tiếp
- Tính tơng hỗ hay hợp tác
- Tính cạnh tranh rất quyết liệt trên tất cả thị trờng kính và cả thị trờng các sản phẩm
thay thế nh tấm lợp, trên cả bình diện hàng t liệu sản xuất và hàng tiêu dùng. Xét trên diện
sản phẩm thì các sản phẩm kính bao gồm kính trắng, kính màu, kính xây dựng là các sản
phẩm công nghiệp mang đặc điểm của hàng t liệu sản xuất chiếm phần lớn, ngoài ra còn các
sản phẩm nh kính trắng để bàn, gơng soi, kính an toàn, lại mang đặc điểm của hàng tiêu
dùng một cách rõ nét.
12
Chơng iiI
Quá trình thực hiện chiến lợc Marketing-mix đặc biệt là việc
phân phối sản phẩm ở Công ty Kính Đáp Cầu.
I - Đặc điểm chung về công ty kính Đáp Cầu
1- Lịch sử ra đời và phát triển của công ty kính Đáp Cầu
Công ty Kính Đáp Cầu là một doanh nghiệp nhà nớc (thuộc sự quản lý của Tổng Công
ty Thuỷ Tinh và Gốm Xây Dựng) thành lập theo quyết định số 162/BXD-TCLĐ ngày
3/3/1990 và Quyết định số 485 / BXD-TCLĐ ngày 30/7/1994 về việc đổi tên Nhà máy Kính
Đáp Cầu thành Công ty Kính Đáp Cầu.
Công ty là cơ sở sản xuất sản phẩm kính xây dựng và các sản phẩm kính thuỷ tinh đầu
tiên ở Việt Nam. Công ty có chức năng sản xuất và kinh doanh các sản phẩm kính xây dựng,
tấm lợp và các sản phẩm thuỷ tinh khác nhau phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
trong nớc và xuất khẩu.
Ra đời trong công cuộc đổi mới nền kinh tế từ sản xuất bao cấp sang cơ chế thị trờng.
Để đứng vững và tồn tại trong cơ chế thị trờng, công ty đã liên tục đổi mới công nghệ để có
sản lợng cao, chất lợng tốt, giá thành hạ. Từ việc sản xuất một loại sản phẩm kính tấm xây
dựng, đến nay Công ty đã có 06 sản phẩm kính các loại. Đội ngũ cán bộ của công ty đã làm
chủ công nghệ sản xuất các sản phẩm hiện có.
Quá trình xây dựng và phát triển của công ty có thể đợc chia ra thành các giai đoạn
sau:
1.1- Giai đoạn1. (Chu kỳ sản xuất 1-từ 1992 đến 1995)
- Nhà máy đợc thành lập năm 1992 theo quyết định số 162/ BXD-TCLĐ với tên gọi:
Nhà máy kính Đáp Cầu.
Trong giai đoạn này công ty sản xuất chính là loại sản phẩm Kính tấm trắng xây dựng
với thiết bị đồng bộ của Liên Xô với 2 máy kéo kính công suất 2.380.000 m
2
/năm.
- Ngày 6/3/1992 thực hiện việc đốt sấy lò theo quy trình công nghệ, ngày 17/4/1992
m
2
kính đầu tiên đợc kéo lên. Ngày 30/8/1992 tổ chức lễ khánh thành công ty và chính thức
nhận kế hoạch sản xuất kính tấm xây dựng của cấp trên giao cho.
1.2- Giai đoạn 2. (chu kỳ từ 1995- 2001)
- Theo chu kỳ thiết kế cho giai đoạn 1 thì sau 3 năm phải đại tu lại. Đợc sự giúp đỡ
của các chuyên gia Hàn Quốc công ty đã đại tu và đa số máy kéo kính từ 2 lên 3 máy và đa
công suất thiết kế từ 2.380.000 m
2
lên 3.800.000m
2
/năm.
Trong giai đoạn này, công ty tiếp tục sản xuất loại kính tấm xây dựng, thêm vào đó
công ty từng bớc đầu t thêm các dây chuyền sản xuất mới:
+ Năm 1997 Công ty tiếp nhận và lắp đặt dây chuyền kính an toàn của hãng Floch
Glass Torgau Cộng Hòa Liên Bang Đức.
+ Năm 1998 Công ty tiếp nhận và lắp đặt 2 dây chuyền sản xuất kính Gơng.
+ Năm 1998 Công ty tiếp nhận và lắp đặt dây chuyền sản xuất Kính phản quang.
+ Công ty tự chế tạo và lắp đặt thiết bị của dây chuyền sản xuất Kính mờ.
+ Năm 2001 Công ty tiếp nhận và quản lý Xí nghiệp Tấm lợp Từ Sơn chuyên sản xuất
tấm lợp Fibrôximăng từ phía Tổng công ty chuyển giao.
1.3- Giai đoạn 3. (Chu kỳ từ năm 2002)
- Ngày 14/3/2000 công ty tiến hành đại tu lần 3 với sự tham gia của các chuyên gia và
công nghệ của Nhật Bản.
- Công ty cũng đang tiến hành xây dựng dây chuyền sản xuất Gạch Granit với công
suất 3 triệu m
2
/năm.
- Công ty đang thực hiện tiến tới sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 9002 cho 5 loại sản
phẩm là:
1- SP1: Kính tấm trắng xây dựng
2- SP2: Gơng soi
3- SP3: Kính phản quang
13
4- SP4: Kính chắn Ôtô
5- SP5: Kính mờ
- Công ty đang triển khai đề án MenFít, Bông sợi thủy tinh, đầu t xây dựng dây
chuyền công nghệ sản xuất Gơng soi cao cấp.
Nh vậy, tính đến chu kỳ 3, Công ty đa số lợng chủng loại sản phẩm chính từ 1 lên 6
loại sản phẩm: Kính tấm xây dựng, Kính phản quang, Kính mờ, Kính an toàn, Gơng soi, Tấm
lợp Fibrôximăng phục vụ cho nhu cầu sản xuất, xây dựng và tiêu dùng trong cả nớc.
II- Tình hình thực hiện chiến lợc Marketing-mix trong hoạt động kinh doanh mở
rộng thị trờng của công ty Kính Đáp Cầu
1- Chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm đợc công ty rất coi trọng, bởi vì đây là yếu tố quan trọng nhất
trong chiến lợc Marketing- mix của công ty trong các năm qua, là vấn đề sống còn trong hoạt
động kinh doanh, nó quyết định đến các hoạt động của các bộ phận khác và bảo đảm cho việc
kinh doanh đi đúng hớng.
Hiện nay công ty đang sản xuất và kinh doanh 6 loại sản phẩm kính chính, ngoài ra
còn các sản phẩm khác, trong đó kính tấm xây dựng là chủ yếu.
Chính sách sản phẩm của công ty áp dụng cho các sản phẩm của mình là:
+ Các quyết định về chất lợng sản phẩm
+ Các quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm
+ Quyết định về dịch vụ khách hàng
1.1- Quyết định về chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm đợc coi là quyết định hàng đầu trong chính sách sản phẩm. Vì các
sản phẩm của công ty các là sản phẩm trong ngành xây dựng là chủ yếu, nên các thuộc tính
về chất lợng sản phẩm đợc công ty quan tâm nh là độ bền, hệ số an toàn, tuổi thọ của sản
phẩm, đảm bảo đúng thiết kế kỹ thuật và phù hợp trong điều kiện từng vùng để có thể phát
huy đợc các u điểm của nó.
Trong các năm qua sản phẩm của công ty đợc cải tiến, nâng cao không ngừng về chất
lợng thông qua việc cải tiến công nghệ nhập từ nớc ngoài, nâng cao chất lợng đầu vào. Các
sản phẩm của công ty sản xuất ra đợc chia ra làm hai loại chính là: Loại A và Loại B. Nếu nh
trớc đây công ty sử dụng cả hai loại sản phẩm trên thì sản phẩm Loại B rất khó tiêu thụ, đến
nay công ty chỉ sản xuất sản phẩm loại A, các sản phẩm kém phẩm chất công ty không đa
sang Loại B mà thực hiện phun kính làm sản phẩm kính mờ.
Các phẩm chất chất lợng sản phẩm đợc công ty đánh giá qua các sản phẩm cụ thể.
Nói chung chất lợng sản phẩm của công ty trong các năm vừa qua là tơng đối đồng
đều và tốt, đợc khách hàng trong nớc chấp nhận, sản phẩm của công ty cũng đã đạt đợc tiêu
chuẩn hàng Việt Nam chất lợng cao. Chính tiêu chuẩn chất lợng đợc đặt lên hàng đầu nên
công ty hàng năm đạt mức tăng trởng sản lợng sản phẩm tơng đối cao. Điều này đợc thể hiện
trong bảng Doanh thu về sản lợng kính trong các năm qua. (Bảng-5)
Nhìn vào số liệu bảng-5 cho ta thấy sản lợng tiêu thụ và doanh thu của các sản phẩm
có xu hớng giảm dần.
Bảng báo cáo danh thu của các sản phẩm
Chủng loại
Sản lợng sản xuất
(m
2
)
Tiêu thụ
(m
2
)
Doanh thu
1000
đ
2000 2001 2000 2001 2000 2001
Kính tấm 4.766.071 4.694.688 3760.969 3.730.823 92.790.966 88.456.556
Kính mờ 150.007 132.130 138.694 146.312 3.368.889 3.309.074
Gơng 742.937 736.025 739.148 728.322 30.019.012 27.393.834
Kính phản
quang
44.766 22.740 28.130 39.520 3.030.295 3.355.648
14