Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Nước khoáng ở Núi Gôi - Vụ Bản và Hải Sơn - Hải Hậu
- Tài nguyên nước mặt và nước ngầm :
Về nước mặt: bao gồm cả nước mặn và nước ngọt. Nước ngọt được
cung cấp bởi hệ thống Sông Hồng, Sông Đáy, Sông Đào, Sông Ninh Cơ và
nước mặn được cung cấp bởi hệ thống biển phong phú của tỉnh.
Về nước ngầm cũng bao gồm nước mặn và nước ngọt.
- Tài nguyên biển và rừng :
Bờ biển Nam Định dài 72 km thuộc 3 huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu,
Nghĩa Hưng. Có 3 cửa sông lớn: sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ.
Biển Nam Định nông và bằng phẳng. Độ sâu tăng dần từ trong ra ngoài
khoảng 3m/100m. Biển Nam Định mỗi năm lùi ra khoảng 100- 200m do phù
sa sông Hồng bồi đắp ở cửa Ba Lạt, tạo thêm diện tích khoảng 400 ha/năm.
Bình quân mỗi năm quai thêm được 150 ha đất ở cao trình 0,5 - 0,8 m trở lên.
Diện tích biển Nam Định có tiềm năng hải sản rất lớn, nhưng hiện nay
chúng ta mới chỉ khai thác được trong khoảng diện tích hơn 10.200 km2.
Chúng ta chưa khai thác hết phần thềm lục địa của chúng ta, càng chưa vươn
xa được ra vùng biển quốc tế.
Nam Định là tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn lợi thuỷ sản ở cả 3 vùng
nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Trữ lượng cá khoảng 157.500 tấn, chiếm
20% tổng trữ lượng cá vịnh Bắc Bộ, khả năng cho phép khai thác: 70.000 tấn,
ngoài ra còn có tôm, mực và các loài hải sản khác. Tổng diện tích mặt nước
có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản là 22.000 ha.
Ven biển Nam Định có trên 6.000 ha rừng ngập mặn, là nơi có nhiều
loài chim quý hiếm sinh sống và di cư theo mùa. Vườn quốc gia Xuân Thuỷ
được chính phủ phê duyệt vào ngày 02/01/2003 có diện tích là 7.100ha (Cồn
Ngạn 1.284ha; Cồn Lu 3.182ha; Cồn Mờ 2.634ha).Vùng đệm của Vườn Quốc
gia có diện tích 8.000ha. Đây là vùng đất được bao bọc bởi sông Hồng, cửa
Ba Lạt và Biển Đông, là nơi tham gia công ước quốc tế Ramsar đầu tiên ở
Đông Nam Á.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
5
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Nước biển Nam Định có độ mặn cao, nên ven biển có nhiều cánh đồng
muối lớn, hàng năm cho sản lượng vào loại cao nhất nước. Tiêu biểu là cánh
đồng muối Văn Lý. Cảng Hải Thịnh đang được xây dựng thành hải cảng lớn
thuận lợi cho thương mại, giao thông và du lịch với toàn quốc và các nước
trong khu vực.
1.1.2. Cơ sở hạ tầng.
1.1.2.1 Hệ thống giao thông vận tải:
Mạng lưới giao thông vận tải của Nam Định khá thuận tiện cho việc
giao lưu với các tỉnh và quốc tế.
Về đường sắt : đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn tỉnh dài 42 km,
với 5 nhà ga. Trong những năm tới sẽ được duy tu, nâng cấp hệ thống đường
tàu, các nhà ga, xây dựng các barie chắn đường đảm bảo an toàn cho chạy tàu.
Hệ thống giao thông đường bộ đã và đang được nâng cấp với 74 km
đường 21 nối Quốc lộ 1 đi Hà Nội và xuống cảng biển Hải Thịnh, 34 km
đường 10 nối Nam Định với các tỉnh Ninh Bình, Thái Bình đến Hải Phòng,
Quảng Ninh. Trục Quốc lộ 21 và Quốc lộ 10 qua tỉnh dài 108 km được đầu tư
nâng cấp thành đường chiến lược ven biển của vùng Bắc Bộ, cùng hệ thống
đường tỉnh, đường liên huyện, liên xã, liên thôn xóm, trong đó có 80% số
đường đã được nâng cấp, rải nhựa hoặc đổ bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho
vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân. Một số dự án đầu tư cải tạo các tuyến
đường nhánh từ Quốc lộ 10 vào Thành phố Nam Định, dự án cầu mới qua
sông Đào và đường giao thông nối Quốc lộ 10 với Quốc lộ 21B theo hướng
mở rộng Thành phố Nam Định về phía Tây đang được triển khai lập dự án.
Đường sông : Nam Định có 4 sông lớn với chiều dài 251 km, cùng với
hệ thống sông nội đồng dài 279km tạo thành một mạng lưới giao thông thuỷ
phân bố đều, thuận tiện cho đi lại, vận chuyển hàng hoá, cung cấp nước cho
tưới tiêu các loại cây trồng, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
6
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
Cảng - bến bãi : Đã cơ bản xây dựng xong giai đoạn I cảng Hải Thịnh
với công suất xếp dỡ hàng hoá 3 vạn tấn/năm. Tập trung cải tạo cảng sông
Nam Định đảm bảo bốc dỡ hàng hoá an toàn, thuận tiện.
1.1.2.2 Điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông :
Hệ thống cấp điện : Điện lưới quốc gia phủ kín toàn tỉnh và với đủ điện
áp phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Huy động mọi nguồn vốn để cải tạo và phát
triển mạng lưới điện như quy hoạch lưới điện của tỉnh đã được phê duyệt.
Hệ thống cấp thoát nước, các công trình đô thị và nhà ở: Từng bước
đảm bảo nhu cầu nước đủ tiêu chuẩn chất lượng phục vụ cho sinh hoạt và sản
xuất công nghiệp, Thành phố Nam Định và các thị trấn, huyện lỵ. Năm 2006,
đã xây dựng và nâng cấp hệ thống đường ống nước đảm bảo cung cấp nước
cho khu vực Nam Định đạt bình quân 100 -120 lít/ngày đêm/người.
Về thoát nước tập trung: hoàn thiện các dự án thoát nước cho Thành
phố Nam Định, các thị trấn và các khu dân cư tập trung, đảm bảo nước lưu
thông nhanh, không bị úng lụt, ứ đọng sau mưa.
Hoàn chỉnh hệ thống đèn đường chiếu sáng ở Thành phố Nam Định và
các thị trấn huyện lỵ. Xây dựng các công trình phúc lợi công cộng. Quy hoạch
lại các khu dân cư và các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ dân sinh.
Mạng lưới bưu chính viễn thông rộng khắp toàn tỉnh, chất lượng dịch
vụ ngày càng được nâng cao đáp ứng nhu cầu thông tin của mọi khách hàng.
Năm 2010, mật độ máy điện thoại sẽ đạt khoảng 5-6 máy/100 dân, bán kính
phục vụ của các bưu cục 2,3 - 2,4 km
1.1.2.3 Hệ thống giáo dục và đào tạo :
Tỉnh Nam Định có truyền thống hiếu học, là một trong số ít tỉnh 9 năm
liền dẫn đầu toàn quốc về giáo dục - đào tạo. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có
bước phát triển mới cả về quy mô và chất lượng, luôn giữ vững truyền thống
dạy tốt - học tốt.
Toàn tỉnh có 10 trường cao đẳng, THCN và dạy nghề, trong đó mỗi
năm có từ 4.000-5.000 công nhân kỹ thuật tốt nghiệp ra trường. Hiện nay trên
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
7
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
địa bàn tỉnh có 3 trường Đại học, đó là Đại học Điều dưỡng, Đại học Dân Lập
Lương Thế Vinh và Đại học Sư phạm kỹ thuật. Sắp tới, tỉnh sẽ tiếp tục đề
nghị Chính phủ nâng một số trường lên trường Đại học, trường Cao đẳng.
Ngoài ra có một hệ thống các cơ sở dạy nghề rộng khắp toàn tỉnh. Đa dạng
hoá các loại hình đào tạo nghề, tăng cường phổ cập, bồi dưỡng, tập huấn
nhằm nâng tỷ lệ lao động được đào tạo của tỉnh lên 45-50% vào năm 2010.
Do đó tỉnh Nam Định có một nguồn lao động dồi dào, có trình độ và đặc biệt
là giá nhân công rẻ.
1.1.2.4 Hệ thống y tế:
Hiện nay Nam Định có mạng lưới bệnh viện tuyến thành phố, huyện,
các phòng khám đưa khoa khu vực và mạng lưới trạm y tế xã, phường tương
đối tốt. Theo thống kê tính đến năm 2005 toàn tỉnh Nam Định có 250 cơ sở y
tế trong đó có 17 bệnh viện; 4 phòng khám đa khoa khu vực và 229 trạm y tế
xã, phường với tổng số 3483 giường bệnh và 4308 cán bộ y tế.
1.1.3 Tình hình phát triển Kinh tế giai đoạn 2001 - 2006.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, một số ngành
có mức tăng trưởng cao và toàn diện. Tổng sản phẩm (GDP) 5 năm
2001-2006 tăng bình quân 8.3%/năm, cao hơn mức bình quân chung của cả
nước. GDP bình quân đầu người đạt 6.2 triệu đồng (khoảng 380 USD), vượt
chỉ tiêu đề ra.
Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tăng bình quân 4,05%/năm.
Mặc dù diện tích trồng trọt giảm nhưng sản lượng lương thực vẫn đạt gần 1
triệu tấn/năm, không ngừng đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn mà còn
xuất khẩu với giá trị lớn. Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất canh tác đạt
38 triệu đồng. Thuỷ sản phát triển nhanh với tốc độ tăng 15,6%/năm, trong đó
nuôi trồng thuỷ sản tăng 24,4%/năm.
Ngành công nghiệp xây dựng liên tục tăng trưởng cao, đạt tốc độ tăng
bình quân 20,4%/năm, trong đó công nghiệp địa phương tăng 23,4%, công
nghiệp cơ khí tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ 28%/năm. Một số ngành cơ khí
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
8
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
chủ lực có khả năng cạnh tranh như đóng mới tàu thuỷ, sản xuất xe ô tô…
Trên địa bàn tỉnh đã đầu tư 1 khu công nghiệp tập trung với diện tích 327 ha,
16 cụm công nghiệp làng nghề, thu hút hàng trăm dự án trong và ngoài nước.
Đang triển khai xây dựng khu công nghiệp cao Mỹ Trung với diện tích 150 ha
và quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp Thành An, Bảo Minh (Vụ Bản) và
Hồng Tiến (Ý Yên) với tổng diện tích trên 700 ha.
Các ngành dịch vụ phát triển nhanh, giá trị sản xuất tăng 8,3%/năm.
Ngành du lịch có bước phát triển mới về chất lượng dịch vụ du lịch đạt hiệu
quả cao. Bưu chính viễn thông được mở rộng, 100% xã có diểm bưu điện văn
hoá xã, mật độ máy điện thoại đạt 9.1 máy/100 dân.
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông lâm
ngư nghiệp tư 40,9% năm 2000 giảm xuống còn 34,5% năm 2005; công
nghiệp xây dựng từ 20,94% lên 28,1%; ngành dịch vụ 37,4%. Cơ cấu lao
động đã thay đổi phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Lao động
trong ngành nông nghiệp đến năm 2005 còn 76,9%, lao động trong công
nghiệp chiếm 13,2%. Trong ngành nông nghiệp: thuỷ sản đã phát triển nhanh
với tỷ trọng giá trị từ 9,4% tăng lên 15,5%: ngành trồng trọt 75,3% xuống còn
66,6%; tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp 24,7% lên 33,4%.
Ngành nghề nông thôn phát triển mạnh, nhiều làng nghề truyền thống được
khôi phục. Năm 2005 có 80 làng nghề, giá trị sản xuất ước tính đạt 1.864 tỷ
đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2000.
Hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế đối ngoại có tiến bộ mới với tốc
độ tăng trưởng khá. Kim ngạch xuất khẩu đạt 150 triệu USD năm 2006, tăng
16,5%/năm, trong đó xuất khẩu địa phương tăng 18,2%/năm. Giá trị xuất khẩu
bình quân đạt 61USD/người (gấp hơn 2 lần năm 2000).
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
9
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
1.1.4 Sự cần thiết khách quan phải tăng cường hoạt động đầu tư phát
triển trên địa bàn tỉnh Nam Định
1.1.4.1 Xuất phát từ vai trò của hoạt động đầu tư phát triển đối với tăng
trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Nam Định.
Nam Định với đặc điểm là một tỉnh đồng bằng, mặc dù có nhiều điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế- xã hội nhưng cho đến nay tình hình kinh
tế- xã hội của tỉnh vẫn còn trong tình trạng phát triển chậm. Để có thể đưa
kinh tế- xã hội Nam Định phát triển không có con đường nào khác là phải
tăng cường hoạt động đầu tư phát triển.
Mức tăng GDP =
Vốn đầu tư
ICOR
Từ đó ta có:
ICOR =
Vốn đầu tư
GDP do vốn tạo ra
=
Vốn đầu tư
∆GDP
Theo tính toán của các nhà kinh tế để đạt được tốc độ tăng trưởng ở
mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15- 20% so với GDP tuỳ
thuộc vào hệ số ICOR. Khi hệ số ICOR không đổi thì mức tăng GDP phụ
thuộc vào vốn đầu tư.
Thực tế, trong những năm vừa qua trên địa bàn tỉnh cũng đã thu hút
được khối lượng vốn đầu tư tương đối lớn (giai đoạn 2001- 2006 đạt khoảng
hơn 15.000 tỷ đồng) nhờ đó tốc độ tăng trưởng phát triển của tỉnh không
ngừng tăng cao, bình quân giai đoạn 2001 - 2006 tốc độ tăng trưởng GDP đạt
8,3%/năm.
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế của tỉnh đạt
mức khá song cơ cấu kinh tế vẫn còn trong tình trạng lạc hậu. Hiện nay, trên
địa bàn tỉnh còn tới 75% lao động nông nghiệp, vấn đề nông nghiệp nông
thôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
của tỉnh. Tuy nhiên, để có thể tạo ra cho tỉnh một cơ cấu kinh tế hợp lý thì
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
10
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
vấn đề mấu chốt là vốn đầu tư được phân bổ như thế nào. Kinh nghiệm của
các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng với tốc
độ nhanh là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển cho khu vực công
nghiệp, dịch vụ bởi vì ngành nông, lâm, thủy sản do hạn chế về điều kiện đất
đai, sinh học nên ngành không thể đem lại tốc độ tăng trưởng nhanh.
Trình độ khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh còn rất lạc hậu. Các
doanh nghiệp chủ yếu vẫn chỉ chú trọng đầu tư theo chiều rộng, chưa có điều
kiện đầu tư chiều sâu, đưa khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Vấn đề
cốt lõi vẫn là do thiếu vốn đầu tư. Do đó, tỉnh cần xúc tiến các hoạt động thu
hút đầu tư nước ngoài. Các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án FDI đã góp
phần đưa vào địa bàn tỉnh máy móc thiết bị nhập khẩu cùng với chuyển giao
công nghệ vận hành, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức cạnh
tranh của sản phẩm với trình độ quản lý sản xuất kinh doanh hiện đại, nhiều
ngành nghề sản xuất mới, nhiều sản phẩm mới, mở rộng thị trường để phát
triển công nghiệp trên địa bàn.
Đầu tư phát triển còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn
nhân lực, tạo việc làm cho người lao động. Khi một doanh nghiệp tiến hành
hoạt động sản xuất mới hay mở rộng quy mô, nhu cầu thu hút lao động tăng
lên. Và trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp cũng thường xuyên tiến
hành đào tạo, đào tạo lại lao động để nâng cao trình độ cho lao động. Bên
cạnh đó thông qua quá trình lao động sản xuất người lao động cũng tự tìm tòi
học hỏi được nhiều kinh nghiệm, kỹ năng để đáp ứng nhu cầu công việc.
1.1.4.2 Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Nam Định.
Điều kiện tự nhiên: Nam Định nằm trọn vẹn trong vùng châu thổ sông
Hồng nên có địa hình bằng phẳng. Tỉnh có mạng lưới giao thông thuận tiện
bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thuỷ; trung tâm là thành phố Nam
Định cách thủ đô Hà Nội 90 km nên dễ dàng đi lại, vận chuyển và giao lưu
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
11
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
kinh tế, văn hoá với các khu vực trong cả nước. Bên cạnh đó, tỉnh còn có bờ
biển dài 72 km với hai bãi biển Quất Lâm và Hải Thịnh, vùng đất bồi rộng
lớn ở các huyện ven biển là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tổng hợp.
Điều kiện kinh tế xã hội: Nam Định từ lâu đã nổi tiếng là đất học với
truyền thống cần cù hiếu học, là quê hương của nhiều bậc hiền tài của đất
nước như trạng nguyên Lương Thế Vinh, trạng nguyên Nguyễn Hiền, cố
Tổng bí thư Trường Chinh…Cho đến nay truyền thống quý báu đó vẫn luôn
được giữ gìn và phát huy. Công tác giáo dục – đào tạo của tỉnh luôn được
quan tâm chú trọng; các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt đạt nhiều kết quả
cao. Vì vậy, Nam Định là địa phương có trình độ dân trí cao và đồng đều, là
cơ sở để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng.
Trong giai đoạn 2001-2006 kinh tế - xã hội Nam Định tiếp tục phát
triển trên một số lĩnh vực. Năng lực sản xuất được nâng lên, kết cấu hạ tầng
được cải thiện, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo tiền đề cho bước phát triển thời kỳ sau. Đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân được cải thiện một bước. Tình hình chính trị tiếp tục ổn định,
quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, so với
cả nước, tình hình kinh tế xã hội tỉnh vẫn trong tình trạng lạc hậu, phát triển
chậm. Nam Định vẫn là một tỉnh nghèo, sản xuất hàng hoá chưa phát triển,
tích luỹ từ kinh tế nội tỉnh còn rất thấp. Khu vực nông nghiệp đang chiếm tỷ
trọng lớn, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP còn nhỏ bé. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch chậm, sức cạnh tranh yếu. Đời sống nhân dân một số
vùng còn nhiều khó khăn.
Cơ sở lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng đẩy mạnh hoạt động đầu
tư là một trong những nhân tố quyết định thúc đẩy phát triển kinh tế. Vì vậy,
cần phải đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Nam
Định.
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
12
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỈNH NAM
ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2001-2006
1.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư phát triển tỉnh Nam
Định giai đoạn 2001-2006.
Bảng 1. 1: Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện tỉnh Nam Định giai
đoạn 2001-2006
STT
Năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2001 2002 2003 2004 2005 2006
1
Vốn đầu tư phát
triển
Tỷ
đồng
1725.5 1825.4 2125.2 2487.2 3230.2 4215.9
2
Tốc độ phát triển
định gốc(2001)
% 5.8 23.16 44.14 87.2 144.3
3
Lượng tăng tuyệt
đối liên hoàn
Tỷ
đồng
99.9 299.8 362.0 743.0 985.7
4
Tốc độ phát triển
liên hoàn
% 5.8 16.4 17.03 29.87 30.52
5
Vốn đầu tư xã
hội/GDP
28.88 27.17 28.57 26.3 27.3 33.6
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định
Biểu đồ 1. 1: Biểu đồ quy mô vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2001 – 2006
1725.5
1825.4
2125.2
2487.2
3230.2
4215.9
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
4500
2001 2002 2003 2004 2005 2006
năm
tỷ đồng
vốn đầu tư phát triển
đường thể hiện vốn đầu
tư
Như vậy, có thể thấy vốn đầu tư phát triểm tăng nhanh qua các năm.
Năm 2001 tổng vốn đầu tư phát triển là 1725,5 tỷ đồng, đến năm 2006 đã là
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
13
Luận văn tốt nghiệp Mai Thị Ngọc ĐT 45C
4215.9 tỷ đồng tức là tăng 2,44 lần. Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn
2001-2006 đạt 15.609 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân là 9,5%. So với tốc
độ tăng vốn đầu tư phát triển trên toàn quốc cùng giai đoạn là khoảng trên
10% thì tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển là không cao tuy nhiên tương đối ổn
định và tăng liên tục qua các năm. Đây là dấu hiệu khả quan trong thời gian
tới đánh dấu sự phục hồi của nền kinh tế bởi trong thời kỳ 1996-2000 tình
hình vốn đầu tư phát triển trong cả nước có nhiều biến động xấu do ảnh hưởng
của khủng hoảng kinh tế tài chính trong khu vực và giảm sút kinh tế toàn cầu.
Năm 2006 có sự tăng mạnh vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh lên tới 4215.9 tỷ
đồng, tăng 144% so với năm 2001 và 30.52 % so với năm 2005 và đạt tốc độ
tăng trưởng cao nhất trong 6 năm gần đây.
Đầu tư trong nền kinh tế ngày càng được thống kê đầy đủ hơn bao gồm
không chỉ các nguồn vốn làm tăng tài sản cố định mà cả tăng tài sản lưu động,
tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường…Đầu tư dù của cá nhân
hay tổ chức cuối cùng sẽ làm tăng tài sản và hứa hẹn sẽ mang lợi ích cao hơn
trong tương lai. Quan niệm này đầy đủ hơn và bao quát rộng hơn khái niệm
vốn đầu tư xây dựng cơ bản được sử dụng trong những năm trước đây. Điều
đáng ghi nhận là trong giai đoạn 2001-2006 tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với
GDP trong toàn tỉnh đạt mức cao trong khoảng 26.3– 33.6% vượt 14% so với
dự kiến kế hoạch. Tính bình quân cả giai đoạn thì tỷ lệ vốn đầu tư phát triển
toàn xã hội so với GDP đạt khoảng 28.6 %.
Bảng1.2: Tình hình thực hiện vốn đầu tư so với kế hoạch giai đoạn
2001-2006
STT
Năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2001 2002 2003 2004 2005 2006
1 VĐT kế hoạch
Tỷ
đồng
1564.2 1785.6 2030.5 2532.3 2856.8 3654
2 VĐT thực hiện
Tỷ
đồng
1725.5 1825.4 2125.2 2487.2 3230.2 4215.9
3
Tỷ lệ VĐT thực
hiện/ kế hoạch
% 110.3 102.2 104.7 98.2 113.1 115.4
Đầu tư phát triển tỉnh Nam Định – Thực trạng và giải pháp
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét