Lời mở đầu
Dới chế độ t bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân còn đợc gọi là giai cấp
vô sản, là giai cấp hoàn toàn không có t liệu sản xuát, phải bán sức lao động
cho nhà t bản để kiếm sống. Là giai cấp gắn liền với sản xuất đại công nghiệp
và đợc nền công nghiệp rèn luyện, giai cấp công nhân có tính tổ chức, kỷ luật
cao và có điều kiện thuận lợi tập hợp lực lợng, biểu thị sức mạnh của mình. Là
giai cấp bị áp bức, bóc lột, có lợi ích đối lập trực tiếp với giai cấp t sản, giai
cấp công nhân kiên quyết đấu tranh chống giai cấp t sản, có khả năng đoàn kết
với quần chúng lao động bị áp bức bóc lột trong cuộc đấu tranh chung.
Cùng với sự phát triển không ngừng của sản xuất đại công nghiệp, giai
cấp công nhân không ngừng lớn lên về mặt số lợng và chất lợng. Do lợi ích đối
lập của giai cấp t sản, giai cấp công nhân không ngừng đấu tranh chống giai
cấp t sản. Cuộc đấu tranh ấy dẫn đến hình thành ý thức giai cấp và chính đảng
của giai cấp công nhân. Thông qua chính đảng tiên phong của mình, giai cấp
công nhân lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền tiến hành cuộc cải biến
cách mạng đối với xã hội không có giai cấp, do đó, giai cấp công nhân tự xoá
bỏ với t cách là một giai cấp.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản C.Mác và Ăngghen
có viết:
Sự phát triển của nền đại công nghiệp đã phá sập d ới chân giai cấp t
sản chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp t sản đã xây dựng lên chế độ
sản xuất và chiếm hữu nó Sự sụp đổ của giai cấp t sản và thắng lợi của
giai cấp vô sản là tất yếu nh nhau
1
I. Cơ sở lý luận
1. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên.
Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ
thấp đến cao. Tơng ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xã hội. Sự
vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử đều do
tác động của quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.
Marx viết "Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một
quá trình lịch sử tự nhiên".
Các mặt cơ bản hợp thành một hình thái kinh tế - xã hội: lực lợng sản
xuất quan hệ sản xuất và kiến trúc thợng tầng tách rời nhau, mà liên hệ biện
chứng với nhau hình thành nên những quy luật phổ biến của xã hội. Do tác
động của quy luật khách quan đó, mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động
và phát triển thay thế nhau từ thấp lên cao trong lịch sử nh một quá trình lịch
sử tự nhiên không phụ thuộc và ý trí, nguyện vọng chủ quan của con ngời.
Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có nguồn gốc sâu xa ở sự
phát triển của lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất, một mặt của phơng thức sản xuất, là yếu tố bảo đảm
tính kế thừa trong sự phát triển lên của xã hội qui định khuynh hớng phát triển
từ thấp. Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phơng thức sản xuất biểu hiện tính
gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử. Những quan hệ sản xuất lỗi thời đợc
xoá bỏ và đợc thay thế bằng những kiểu quan hệ sản xuất mới cao hơn và hình
thái kinh tế - xã hội mới cao hơn ra đời. Nh vậy, sự xuất hiện, sự phát triển của
hình thái kinh tế - xã hội, sự chuyển biến từ hình thái đó lên hình thái cao hơn
đợc giải thích trớc hết bằng sự tác động của quy luật về sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Quy luật đó là
khuynh hớng tự tìm đờng cho mình trong sự phát triển thay thế các hình thái
kinh tế - xã hội. Nghiên cứu con đờng tổng quát của sự phát triển lịch sử đợc
2
quy định bởi quy luật chung của sự vận động của nền sản xuất vật chất chúng
ta nhìn thấy logic của lịch sử thế giới.
Thực tế lịch sử loài ngời đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội: cộng
sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa. Sau khi xây
dựng học thuyết hình thái kinh tế xã hội, C.Mác đã vận dụng học thuyết đó vào
phân tích xã hội t bản, vạch rõ các quy luật vận động, phát triển của xã hội và
đã đi đến dự báo sự ra đời cùa hình thái kinh tế xã hội cao hơn, hình thái cộng
sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
Vạch ra con đờng tổng quát của lịch sử, điều đó có nghĩa là giải thích đ-
ợc rõ ràng sự phát triển xã hội trong mỗi thời điểm của quá trình lịch sử. Lịch
sử cụ thể vô cùng phong phú, có hàng loạt những yếu tố làm cho quá trình lịch
sử đa dạng và thờng xuyên biến đổi, không thể xem xét quá trình lịch sử nh
một đờng thẳng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhân tố quyết định quá
trình lịch sử, xét đến cùng là nền sản xuất đời sống thực hiện. Nhng nhân tố
kinh tế không phải là nhân tố duy nhất quyết định các nhân tố khác nhau của
kiến trúc thợng tầng đều có ảnh hởng đến quá trình lịch sử. Nếu không tính
đến sự tác động lẫn nhau của các nhân tố đó thì không thấy hàng loạt những sự
ngẫu nhiên mà tính tất yếu kinh tế xuyên qua để tự vạch ra đờng đi cho mình.
Vì vậy để hiểu lịch sử cụ thể thì cần thiết phải tính đến tất cả các nhân tố bản
chất có tham gia trong quá trình tác động lẫn nhau đó.
Có nhiều nguyên nhân làm cho quá trình chung của lịch sử thế giới có
tính đa dạng, điều kiện của môi trờng địa lý có ảnh hởng nhất định đến sự phát
triển xã hội. Đặc biệt ở buổi ban đầu của sự phát triển xã hội, thì điều kiện của
môi trờng địa lý là một trong những nguyên nhân quy định quá trình không
đồng đều của lịch sử thế giới, có dân tộc đi lên, có dân tộc trí tuệ lạc hậu. Cũng
không thể không tính đến sự tác động của những yếu tố nh Nhà nớc, tính độc
đáo của nền văn hoá của truyền thống của hệ t tởng và tâm lý xã hội vv đối
với tiến trình lịch sử.
3
Điều quan trọng trong lịch sử là sự ảnh hởng lẫn nhau giữa các dân tộc.
Sự ảnh hởng đó có thể diễn ra dới những hình thức rất khác nhau từ chiến tránh
và cớp đoạt đến việc trao đổi hàng hoá và giao lu văn hoá. Nó có thể đợc thực
hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, khao học - kỹ
thuật đến hệ t tởng. Trong điều kiện của thời đại ngày nay, có những nớc phát
triển kỹ thuật rất nhanh chóng, nhờ nắm vững và sử dụng những thành tựu
khoa học - kỹ thuật của các nớc khác. ảnh hởng của ý thức đã có một ý nghĩa
lớn lao trong lịch sử.
Không thể hiểu đợc tính độc đáo của các riêng biệt nếu không tính đến
sự phát triển không đồng đều của sự phát triển lịch sử thế giới một dân tộc này
tiến lên phía trớc, một số dân tộc khác lại ngừng trệ, một số nớc do hàng loạt
những nguyên nhân cụ thể lại bỏ qua một hình thái kinh tế- xã hội nào đó.
Điều đó chứng tỏ là sự kế tục thay thế các hình thái kinh tế - xã hội không
giống nhau ở tất cả các dân tộc.
Tuy nhiên, trong toàn bộ tính đa dạng của lịch sử của các dân tộc khác
nhau thì trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể vẫn có khuynh hớng chủ đọ nhất định
của sự phát triển xã hội. Để xác định đặc trng của giai đoạn này hay giai đoạn
khác của lịch sử thế giới phù hợp với khuynh hớng lịch sử chủ đạo đó là khái
niệm thời đại lịch sử.
2. Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có các giai
cấp đối kháng
Nghiên cứu phép biện chứng nói chung, quy luật thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập nói riêng, chúng ta thấy rằng, mâu thuẫn nói chung
và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Nguồn gốc của sự phát triển xã hội là do sự phát triển của sản xuất, là sự thay
thế các phơng thức sản xuất khi lực lợng sản xuất phát triển đến mức mâu
thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất lỗi thời.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, do lợi ích của mình, giai cấp thống
trị đã duy trì, bảo vệ quan hệ sản xuất cũ bằng tất cả sức mạnh hiện có, đặc
4
biệt dùng bộ máy nhà nớc thống trị để chống lại lực lợng của các giai cấp mới
đại diện cho lực lợng sản xuất tiên tiến. Vì vậy muốn thay đổi quan hệ sản xuất
cũ bằng quan hệ sản xuất mới mở đờng cho lực lợng sản xuất tiếp tục phát
triển phải gạt bỏ sự cản trở của giai cấp thống trị, phải thông qua cuộc đấu
tranh giai cấp. Rõ ràng, mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
đợc biểu hiện về mặt xã hội là cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp đại diện
cho lực lợng sản xuất mới và giai cấp thống trị muốn duy trì quan hệ sản xuất
cũ, để bảo vệ lợi ích của chúng. Song, vì giai cấp thống trị có cả bộ máy quyền
lực nhà nớc để chống lại các lực lợng tiến bộ, cho nên cuộc đấu tranh giai cấp
ấy dẫn tới cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội cái đầu tiên của lịch sử
ấy dẫn đến xoá bỏ chế độ xã hội chũ, xoá bỏ giai cấp thống trị và quan hệ sản
xuất thống trị, thiết lập chế độ mới, tạo điều kiện để quan hệ sản xuất mới ra
đời phát triển, trở thành quan hệ sản xuất chi phối, thống trị, mở đờng cho lực
lợng sản xuất phát triển. Bởi vậy, đấu tranh giai cấp có ý nghĩa là động lực lớn
của sự phát triển xã hội, nó là một phơng thức cơ bản để giải quyết mâu thuẫn
giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, xác lập phơng thức sản xuất mới,
thúc đẩy tiến bộ xã hội. Có thể nói rằng, đấu tranh giai cấp trong mỗi thời kỳ
lịch sử có các giai cấp đối kháng đều xuất phát từ kinh tế và nhằm giải quyết
vấn đề kinh tế, từ đó kéo theo những vấn đề khác và thông qua đó thúc đẩy xã
hội phát triển.
Đấu tranh giai cấp là phơng tiện, điều kiện chứ không phải là mục đích,
mục đích của đấu tranh giai cấp là làm cho sản xuất phát triển, kinh tế phát
triển, xã hội tiến bộ, xác lập một hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ, thay
thế cho hình thái kinh tế xã hội cũ đã lỗi thời.
Đối với ngời cộng sản, lý tởng của họ là đấu tranh nhằm tiến tới xoá bỏ
giai cấp bóc lột cuối cùng trong lịch sử, thực hiện tự do, bình đẳng, bác ái trên
thực tế. Song đó là một quá trình lịch sử lâu dài, trải qua các bớc gập ghềnh,
quanh co, chứ không phải là con đờng thẳng tắp, dễ dàng.
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển quan trọng
của xã hội có giai cấp, nh C.Mác và Ăngghen nói, nó là một đòn bẩy vĩ đại của
5
cuộc cách mạng xã hội hiện đại . Nhu cầu ngày càng tăng của con ng ời, sự
phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cả những nhân tố, về t tởng,
đạo đức . đều là những động lực của sự phát triển xã hội. Đấu tranh giai cấp
là một động lực cơ bản của sự phát triển của xã hội có các giai cấp đối kháng
3. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Chủ nghĩa Mác Lênin không coi giai cấp công nhân chỉ là giai cấp chịu
nhiều đau khổ, đáng đợc cứu vớt mà chính là giai cấp có sự mệnh lịch sử hết
sức to lớn là xoá bỏ chế độ bóc lột t bản chủ nghĩa chế độ bóc lột cuối cùng
trong xã hội loài ngời, thực hiện sự chuyển hoá từ xã hội t bản lên xã hội xã
hội chủ nghĩa.
Theo Mác và Ăngghen, sứ mệnh lịch sử ấy không phải do ý muốn chủ
quan của giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của các nhà t tởng, mà do
những điều kiện khách quan quy định. Hai ông viết: Vấn đề không phải ở chỗ
hiện nay ngời vô sản nào đó, thậm chí toàn bộ giai cấp vô sản, coi cái gì là
mục đích của mình. Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp
với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch
sử
Giai cấp công nhân là giai cấp đợc nền đại công nghiệp tuyển lựa tà
tất cả các giai cấp và tầng lớp lao động trong dân c mà chủ yếu là nông dân. Sự
ra đời của giai cấp công nhân gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp và chỉ
trở thành một giai cấp ổn định khi sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ
bản nền sản xuất thủ công.
Cùng với sự phát triển không ngừng của sản xuất đại công nghiệp, giai
cấp công nhân không ngừng lớn lên về mặt số lợng và chất lợng. Do lợi ích đối
lập của giai cấp t sản, giai cấp công nhân không ngừng đấu tranh chống giai
cấp t sản. Cuộc đấu tranh ấy dẫn đến hình thành ý thức giai cấp và chính đảng
của giai cấp công nhân. Thông qua chính đảng tiên phong của mình, giai cấp
công nhân lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền tiến hành cuộc cải biến
6
cách mạng đối với xã hội không có giai cấp, do đó, giai cấp công nhân tự xoá
bỏ với t cách là một giai cấp.
Khi nghiên cứu quá trình hình thành ý thức giai cấp vô sản, chủ nghĩa
Mác Lênin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đầu tiên nảy
sinh một cách tự phát theo bản năng. Điều đó cần thiết nh Lênin nói: Nếu
công nhân không tự giải phóng mình thì chẳng ai giải phóng cho họ cả. Nhng
chỉ có bản năng thôi thì chẳng đi đ ợc xa. Cho nên phải nâng bản năng đó
thành ý thức.
Vì vậy, việc rèn luyện ý thức giai cấp chân chính của giai cấp công nhân
là quá trình đấu tranh thờng xuyên và quyết liệt giữa hai hệ t tởng t sản và vô
sản. Muốn thắng lợi đợc trong sự nghiệp này, phải làm cho giai cấp công nhân
và phong trào công nhân thấm nhuần lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Nhiệm vụ này phải do đảng của giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác
Lênin làm hệ t tởng của mình đảm nhận. Chỉ có một đảng nh vậy mới có
khả năng đa vào trong phong trào công nhân tự phát những ý tởng xã hội chủ
nghĩa thật rõ rệt, gắn phong trào đó với những t tởng xã hội xã hôi chủ nghĩa
những t tởng này phải đạt tới trình độ hiện đại.
Trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền và lãnh đạo xãy dựng xã hội
mới, giai cấp công nhân không có vũ khí nào quan trọng hơn là tổ chức. Hình
thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân là đảng cộng sản.Khi không có
một đảng theo học thuyết cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin thì
không những giai cấp công nhân không vơn tới cuộc đấu tranh giai cấp có ý
thức, mà cũng không thể trở thành giai cấp lãnh đạo quần chúng lao động bị áp
bức, bóc lột lật đổ giai cấp t sản, cải tạo xã hội theo chủ nghĩa xã hội.
4. Sự phát triển biện chứng của lịch sử
7
Lịch sử thế giới đã trải qua những bớc tiến lớn, vĩ đại và cả những bớc
lùi lớn là một sự thật, là biện chứng, đúng với quan điểm của chủ nghĩa duy
vật.
Không chỉ có chủ nghĩa xã hội trải qua bớc lùi lớn mà chủ nghĩa t bản
cũng có những bớc lùi tởng nh không thể tiến lên đợc. Sau thắng lợi của cuộc
cách mạng t sản Pháp 1789, sau những thắng lợi nhằm phát triển chủ nghĩa t
bản ra toàn châu Âu, cách mạng t sản thoái trào, triều đại Buốcđông đã phục
tích. Năm 1830, rồi năm 1848 laịo tiếp tục cuộc cách mạng t sản. Rồi lại đến
Lui Bônapáctơ lên ngôi hoàng đế nớc Pháp. Nhng rồi chế độ phong kiến cũng
không thể kéo lùi đợc lịch sử. Đến 1870, rốt cuộc cách mạng t sản Pháp đã
thắng lợi hoàn toàn. Những quan hệ t bản chủ nghĩa đã chiến thắng quan hệ
sản xuất phong kiến.
Ngày nay cũng vậy, những thành tựu của chủ nghĩa xã hội mở đầu từ
Cách mạng Tháng Mời Nga vĩ đại năm 1971, sẽ mãi mãi mở đầu một thời đại
mới, thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của những t tởng tự do bình
đẳng bác ái thực sự chứ không còn trên danh nghĩa nh dới thời của chủ
nghĩa t bản. Du quanh co, phức tạp, những t tởng của Cách mạng Tháng Mời
và của Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc và sự giải phóng con ngời khỏi
áp bức, bóc lột của chủ nghĩa t bản sẽ nhất định chiến thắng. Nhân loại sẽ tự
nguyện lựa chọn nhiều con đờng đi tới tự do bình đẳng bác ái thật sự. Có
nhìn nhận lịch sử nh vậy thì dù thấy Exin hạ lá cờ đỏ búa liềm thay bằng lá cờ
ba sắc thời Nga hoàng, phủ định Cách mạng Tháng Mời, du thấy trớc này 7-
11-1991, con cháu dòng họ vua Nga có trở về chúng ta cũng không bàng
hoàng. Phải chăng đó là những diễn biến lịch sử, nhng rồi trớc sau lịch sử vần
tìm thấy con đờng đi của nó. Phải chăng lịch sử vẫn lắp lại quy luật phủ định
của phủ định lại diễn ra. Lôgích của sự phát triển là nh vậy.
II. Cơ sở thực tiễn
1. Cơ sở thực tiễn
8
Thực tiễn chủ nghĩa t bản vẫn không giải quyết đợc các tệ nạn cỗ hữu
của nó, nhát là nạn thất nghiệpp và nếu tệ phân biệt chủng tộc vốn là ung nhọt
của xã hội hiện đại, chủ nghãi t bản không tìm cách tiêu diệt nó, mà trái lại
trong nhiều lúc nó vẫn dùng để phục vụ cho quyền lợi vị kỷ của giai cấp t sản.
Ngay cả quyền bình đẳng của phụ nữ vẫn đang lâm vào tình trạng tồi tệ nhất
đặc biệt là ở các lĩnh vực tiền công, việc làm và các quan hệ xã hội và các điều
kiện sinh hoạt. Một tình trạng nữa là sự phát triển của khoa học kỹ thuật là các
phơng tiện thông tin đại chúng hiện đaị vốn là sản phẩm của văn minh - văn
hoá thì không hiếm nơi đã đợc sử dụng để chống lại văn hoá văn minh vì mục
đích thơng mại. Ngời ta cũng làm tởng về lòng từ thiện của các chính quyền t
sản và giới chủ khi thấy đâu đó ở họ có những cải cách về mặt phúc lợi, nhng
kỳ thực đó là kết quả của những cuộc đấu tranh ngày càng có ý thức của giai
cấp công nhân, thờng là do các chính đảng cánh tả làm nòng cốt và hơn nữa đó
chính là điều mà giai cấp t sản bắt buộc phải làm để bảo vệ lợi ích lâu dài của
họ.
Nếu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội chủ nghĩa t bản hiện đại luôn tìm
đủ cách để điều chỉnh và thích nghi với những điều kiện mới nhằm vợt qua
những cuộc khủng hoảng, tìm con đờng phát triển, thì trong lĩnh vực chính trị
cũng vậy. Bài học lịch sử cho thấy, vấn đề lớn nhất đối với các Nhà nớc t sản là
ngăn chặn đợc các cơn bão táp cách mạng thờng phát sinh do sự bất mãn cao
độ của giai câp công nhân, hoặc tiếp theo những thời kỳ hỗn loạn của xã hội,
mà trong đó giai cấp t sản xâu xé lẫn nhau để bòn rút xơng tuỷ của nhân dân
lao động. Giai cấp t sản và đang cố gắng xoa dịu mâu thuẫn cơ bản này bằng
mọi thủ đoạn. Một khi quyền lợi vị kỷ của giai cấp t sản bị đụng chạm thì kể
cả chủ nghĩa t bản Nhà nớc hay các mặt trận liên minh dới các tên gọi khác,
cuối cùng đều tan vỡ. Rõ ràng vấn đề không thể đợc giải quyết nếu nh mẫu
thuẫn cơ bản ấy không đợc giải quyết.
Trong tình hình đó chủ nghĩa t bản cỉa lơng lại xuất đầu lộ diện. Nhiều
chính trị gia, học giả t sản thờng nêu ra chiêu bài xã hội sẽ biến đổi về cơ bản
không phải bàng đấu tranh cách mạng mà bằng sự chuyển biến dần nhận thức
9
và lòng chắc ẩn của giai cấp t sản, số khác thì rêu rao về các khả năng giải
quyết những mâu thuẫn giữa t bản và lao động nằm ngay trong quá trình thực
hiện những nhiệm vụ sản xuất. Nghĩa là, theo họ cần phải tiến hành "cuộc cải
cách trí tuệ và đạo đức" ngay trớc khi giành đợc chính quyền từ giai cấp t sản.
Tất cả chỉ là mị dân bởi trong tình hình hiện nay mà giai cấp t sản đang làm ra
sức củng cố lực lợng và sẵn sàng tiêu diệt bất cứ một sự phản kháng nào hay
một ý đồ nào đụng tới sự tồn vong cuả chính quyền t sản.
Gần đây, ngời ta cũng luôn bàn luận nhiều về một yếu tố trong nền
chính trị của các nớc chủ nghĩa t bản phát triển là chế độ xã hội dân chủ ở một
số nớc từng đợc coi là kiểu mẫu chính trị cho các nớc t bản. Đúng là không ai
phủ nhận đợc một số thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội mà các nớc ày
đạt đợc và một thời tạo ra cái ảo tởng về một lối thoát cho chủ nghĩa t bản là có
thể thay đổi đợc hoàn toàn thực trạng mà không thay đổi thực chất nhng hiện
nay tình hình đã không nh ngời ta mong muốn. Nhng vấn đề cố hữu của chủ
nghĩa t bản một thời đợc khoả lấp nay lại nổi lên.
Cuối cùng nếu quan sát một các cách khách quan trên bình diện các mối
quan hệ quốc tế, ngời ta không thể thấy rõ số phận của các nớc t bản chủ nghĩa
phát triển nói riêng và vận mệnh của chủ nghĩa t bản nói chung. Chủ nghĩa t
bản không thể sử dụng mãi những biện pháp đàn áp, khai thác hay lợi dụng nh
trớc đây đối với các nớc thuộc thế giới thứ ba. Vị trí và quyền lợi cua rhọ ở các
nớc thứ ba luôn bị đe doạ. Những món nợ cũ liệu có mãi là xích xiềng đối với
các nớc thế giới thứ ba, khi ngày càng nhiều nớc đói xoá nợ giảm nợ hoặc hoãn
trả nợ vô thời hạn? và các Nhà nớc thế giới thứ ba liệu có cam chịu mãi những
cuộc trao đổi bất bình đẳng với các nớc t bản trong khi họ không thiếu cơ hội
trong trao đổi với các nớc khác và giữa họ với nhau? điều này đã trực tiếp làm
lung lay địa vị và chi phối số phận của chủ nghĩa t bản.
Thậm chí, ngay sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông
Âu, liệu sự ổn định của chủ nghĩa t bản có đủ sức chứng tỏ chủ nghĩa t bản là
con đờng phát triển tối u của nhân loại ? không bởi vì chủ nghĩa t bản vẫn
không thoát khỏi những căn bệnh "thâm căn cố đế" của nó, dù "mối đe doạ
10
cộng sản" tởng nh nhẹ đi. Chủ nghĩa t bản vẫn không khát vọng xâm phạm
nền độc lập của các quốc gia, trà đạp quyền lợi tự do của các dân tộc bằng đủ
hình thức can thiệp vũ trang thô bạo cuộc chiến Kôsôvô - hay âm mu diễn biến
hoà mình với những cuộc chiến trah nhung lụa kích động và xô đầy các nớc và
chém giết đẫm mấu ở khắp các châu lục. Và ngời ta cũng đang chức thực khối
mâu thuẫn ngày càng lớn và căng thằng giữa các nớc t bản phát triển trong
cuộc xấu xé giành vị trí hàng đầu trong trật tự thế giới hiện nay, mâu thuẫn đó
đang trở thành nguy cơ đe doạ không những chính số phận họ mà còn cả nhân
loại. Đó là bằng chứng không gì chối bỏ đợc.
Sự đổ vỡ của Đông Âu xã hội chủ nghĩa và của Liên Xô là sự đổ vỡ của
mọt mô hình xã hội chủ nghĩa có một số mặt thích hợp ở một thời kỳ thích hợp
nhng chậm đổi mới cho phù hợp với sự tiến hoá. Đây không phải là sự phá sản
của chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta cho rằng đây là sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã
hội nói chung, là sự phá sản của học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phải chăng
chúng ta cho rằng lịch sử đã đi tới sự kết thúc vận động. Thực ra, lịch sử luôn
vận động, không tuỳ thuộc vào ý muốn của ai. Một số chính khách, học giả t
sản muốn kéo lùi lịch sử, muốn chủ nghĩa t bản tồn tại vĩnh viễn nhng lịch sử
vẫn tìm ra con đờng phát triển của nó để tiến tới một xã hội công bằng, bác ái
thực sự thay thế chủ nghĩa t bản. Đó là chủ nghĩa xã hội. Mộ hình chủ nghĩa xã
hội của Liên Xô trớc đây là một mô hình đợc thể nghiệm, không đồng nhất với
chủ nghĩa xã hội khoa học. Từ khi Liên Xô sụp đổ đến nay, phong trào xã hội
chủ nghĩa với những mô hình mới nh mô hình của chủ nghĩa xã hội mang đặc
sắc Trung Quốc, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam đang phát triển.
Những tìm tòi sáng tạo mới đang thúc đẩy phong trào xã hội chủ nghĩa đi lên,
không bị gò bó bởi những công thức có sẵn.
Trong thời đại ngày nay, nhân tố kinh tế sự phát triển cao của lực lợng
sản xuất suy cho cùng là nhân tố quyết định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Song nhân tố chính trị xét về mặt chủ thể (chủ quan ) của lịch sử lại trở thành
nhân tố quyết định trong bớc đờng phát triển của dân tộc.
11
Vào giữa những năm 80, kinh tế xã hội nớc ta lầm vào cuộc khùng
hoảng trầm trọng, chế độ xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đang chao đảo. Nhng
cũng chính vào lúc ấy, Đảng ta đã quyết định đờng lối đổi mới, chủ trơng xây
dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và mở
cửa với bên ngoài. Một lần nữa sự khẳng định của Đảng ta về con đờng đi lên
chủ nghĩa xã hội đã đợc thực tiễn xác nhận là đúng đắn.
Có thể nói, những quyết sách của Đảng ta ở thời kỳ này thể hiện sự năng
động về t duy lý luận gắn liền với sự mẫn cảm về thực tiễn cùng bản lĩnh chính
trị vững vàng. Đó là sự khẳng định tính tất yếu của sự đổi mới theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, đổi mới để phát triển, để thoát khỏi tình trạng khùng hoảng,
để vợt qua những kìm hãm của mô hình cũ - mô hình hành chính bao cấp, để
giải phóng và khia thác mọi tiềm năng phát triển của xã hội nhằm thực hiện
mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Đổi mới không phải
là từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà là khẳng định tính quy luật của con đờng phát
triển đó làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội công bừng văn minh,
đúng với quy luật khách quan hơn phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế
của đất nớc với xu thế, đặc điểm của thế giới hiện đại. Đổi mới là để xây dựng
chủ nghĩa xã hội hiệu quả hơn làm cho chủ nghĩa xã hội hộc lộ và khẳng định
bản chất u việt của nó, từng bớc định hình và phát triển trong thực tế, làm, cho
đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày
càng văn minh, tiến bộ", để cho nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc đ-
ợc học hành tiến bộ và phát triển mọi khả năng sáng tạo của mình" để cho
"dân thực sự là chủ và làm chủ lẫy và cuộc xống của mình? Nh Hồ Chí Minh
đã nhấn mạnh.
Mặc dù xuất phát điểm khi bớc vào thời kỳ quá độ ở nớc ta còn rất thấp,
nhiều yếu tố còn ở mức tiền thời kỳ quá độ. Song, trong những năm qua, chúng
ta đã xây dựng đợc một số cơ sở vật chất kỹ thuật bớc đầu rất quan trọng (tuy
còn non yếu). Hơn nữa, bằng vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của
Nhà nớc, chúng ta có thể đa ra đờng lối đúng và có kế hoạch, biện pháp thích
12
hợp để giải phóng và khai thác mọi tiềm năng về sức sản xuất hiện có; động
viên tối đa mọi nguồn lực vật chất, trí tuệ của dân tộc; kết hợp tối u sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại. Tranh thủ ứng dụng có hiệu quả những thành
tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại do quá trình quốc tế hoá tạo ra.
Đó là cách đi tốt nhất để pháp triển lực lợng sản xuất nhằm khắc phục tình
trạng lạc hậu về kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội, để rút ngắn quá trình lịch sử tự nhiên, bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, từng
bớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả
các nớc. Mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc, các tổ chức quốc tế, kể cả t
nhân nớc ngoài trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng cùng
có lợi để khai thác tốt nhất mọi nguồn lực bên ngoài: thành tựu khoa học - kỹ
thuật và công nghệ, vốn và kinh nghiệm tổ chức quản lý v.v
Nh vậy, đi lên xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, và nó đợc thể
hiện trong cuộc sống đổi mới của Đảng ta, đổi mới để xác lập một sự ổn định
mới nhằm làm cho đất nớc đạt tới sự phát triển bền vững. Chế độ xã hội chủ
nghĩa mà chúng ta đa xây dựng sẽ là chế độ phát triển và sử dụng tốt nhất
những nguồn lực của chính mình, trong đó sức mạnh quyết định chính là là
nguồn lực con ngời. Đó là mục tiêu quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội.
2. Liên hệ bản thân
Trong hoàn cảnh hiện nay khi mà hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa bị
thu hẹp, kẻ địch đang tấn công quyết liệt bằng nhiều hình thức và thủ đoạn,
mặt tiêu cực của kinh tế thị trờng, những tệ nạn xã hội hàng ngày hàng giờ
đang tác động nhng tôi vẫn giữ niềm tin, phấn đấu không mệt mỏi để góp một
phần nhỏ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta mà Đảng ta đã
vạch ra, tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới đất nớc, hoàn thành tốt
nhiệm vụ đợc giao, chấp hành nghiệp chỉnh Cơng lĩnh, đờng lối, nghị quyết,
chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nớc, có một cuộc sống lành mạnh vui t-
ơi không chịu ảnh hởng của các tệ nạn xã hội.
13
Đất nớc ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, với nhiệm vụ trọng
tâm là xây dựng phát triển kinh tế. Vì vậy tôi luôn cố gắng phấn đấu học tập,
nghiên cứu khoa học, ngoài ra tôi vẫn tham gia tiếp tục các khoá học nh tin
học, ngoại ngữ đế có điều kiện tiếp cận với những tri thức của thế giới, ngoài
ra tôi còn thờng xuyên đọc thêm các tài liệu sách báo, theo dõi các sự kiện
trong nớc và quốc tế để trau dồi kiến thức góp phần, phục vụ công cuộc xây
dựng và phát triển đất nớc. Luôn luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc
giao
Kết Luận
Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đờng tất yếu đối với tất cả nhân loại.
Chúng ta phải nhận thấy rằng con đờng mà chúng ta đang đi tới là một con đ-
ờng gian lao, thử thách, đòi hỏi toàn Đảng - toàn dân - toàn quân ta phải cùng
đồng lòng, chung sức và cùng cố gắng, thì mới có thể thành công. Chúng ta b-
ớc đợc tới đỉnh vinh quang hay không, có bớc đợc đến CNXH-CNCS hay
không, điều đó còn phải tuỳ thuộc vào tất cả mọi ngời có cố gắng, nỗ lực hay
không. Tất cả chúng ta sẽ cùng cố gắng để có thể thực hiện đợc ớc mơ và
nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, bởi quá độ đợc đến CNXH,
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét