Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Nghiên cứu hoạt động của một số Tập đoàn tài chính trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam.DOC

chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm
tăng cường tích tụ, tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi
nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh”. “TĐKT” không phải là một hình
thức pháp lý cụ thể (không có tư cách pháp nhân) mà chỉ là tổ hợp các doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân.
1.2 Các hình thức liên kết TĐKT
TĐKT có sự liên kết bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác giữa các
doanh nghiệp thành viên. Đây là đặc trưng cơ bản, là tiền đề cần thiết để hình
thành TĐKT thể hiện xu thế tất yếu trong việc nâng cao trình độ xã hội hoá và
phát triển của lực lượng sản xuất.
- Về phạm vi liên kết, có những kiểu liên kết sau:
+ Liên kết ngang: là liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề
kinh doanh. Hình thức này hiện không còn phổ biến do các doanh nghiệp phải
đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và biến đổi nhanh
chóng. Nếu áp dụng hình thức này thì khó đem lại hiệu quả cao. Các chính phủ
thường hạn chế hình thức này vì nó dễ tạo ra xu hướng độc quyền, đi ngược
nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường.
+ Liên kết dọc: là liên kết các doanh nghiệp trong cùng một dây chuyền
công nghệ. Hình thức này hiện vẫn còn phổ biến trên thế giới vì chúng hoạt
động có hiệu quả cao và có thể mở rộng hoạt động kinh doanh sang nhiều quốc
gia khác. Tuy nhiên để phát triển theo hình thức này cần phải có một công ty có
tiềm lực về tài chính, có uy tín để quản lý, kiểm soát và đảm bảo tín dụng cho cả
tập đoàn. Không những thế, công ty đó cần có mối liên hệ nhiều mặt và vững
chắc với Nhà nước, có thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ, có hệ thống
thông tin toàn cầu đủ khả năng xử lý và tổng hợp những thông tin về thị trường.
Vì vậy, các nước đang phát triển chỉ mới có khả năng hình thành các tập đoàn
chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất và thương mại.
+ Liên kết hỗn hợp: là liên kết các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh kể cả những ngành, lĩnh vực không có liên quan đến nhau.
Hình thức này đang ngày được ưa chuộng trên thế giới và trở thành xu hướng
phát triển các tập đoàn hiện nay. Cơ cấu tập đoàn bao gồm một ngân hàng hoặc
một công ty tài chính lớn và nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương mại, trong đó
hoạt động tài chính, ngân hàng xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động kinh doanh
của tập đoàn.
- Về trình độ liên kết, có những kiểu sau:
+ Liên kết mềm xuất phát từ châu Âu, đặc biệt là ở Đức vào thế kỷ 19.
Đây là hình thức tập đoàn của các doanh nghiệp độc lập, cùng sản xuất, kinh
doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ. Họ hợp tác sản xuất - kinh doanh với
nhau thông qua một Hiệp định chung nhằm hạn chế cạnh tranh bằng việc thống
nhất về giá cả, dịch vụ, hoặc thoả thuận về lượng sản phẩm tiêu thụ chung, giá
nguyên liệu cung ứng. Nguyên nhân thúc đẩy sự liên kết và liên minh giữa các
doanh nghiệp là do những thay đổi của nền kinh tế trong nước và trên thế giới,
môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hoạt động kinh doanh không
ngừng mở rộng, đòi hỏi quy mô vốn lớn và trình độ công nghệ cao hơn. Vì vậy,
các doanh nghiệp liên kết lại để lợi dụng được ưu thế của quy mô tập đoàn.
+ Liên kết cứng: Trong tập đoàn loại này, các doanh nghiệp thành viên
kết hợp trong tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và
thương mại. Tập đoàn được cấu tạo dưới hình thức đa sở hữu theo kiểu công ty
cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau. Các doanh nghiệp
thành viên hoạt động trong cùng một ngành nghề hoặc có liên quan với nhau về
chu kỳ công nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh
doanh liên tục, thống nhất theo chiến lược chung của tập đoàn. Trong đó, công
ty mẹ có lợi thế nắm giữ cổ phần chi phối các công ty để giữ quyền lãnh đạo, ra
quyết định cho các doanh nghiệp khác.
+ Liên kết hỗn hợp: là sự liên kết của cả hai loại liên kết trên. Đây là hình
thức phát triển cao nhất của TĐKT. Tập đoàn được hình thành trên cơ sở xác lập
và kiểm soát thống nhất về tài chính. Các doanh nghiệp thành viên chịu sự chi
phối về tài chính của một công ty gọi là công ty mẹ (Holding Company) thông
qua quyền sở hữu cổ phiếu. Hoạt động của cả tập đoàn và các công ty con được
mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực từ tài chính đến hoạt động sản xuất, thương mại,
dịch vụ khác nhau và giữa các công ty con trong tập đoàn không nhất thiết phải
có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật. Hình thức liên kết này
đang trở nên phổ biến.
- Về hình thức biểu hiện có các kiểu sau
3
:
+ Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập về sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm nhưng có chung mục đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách thoả thuận
thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu và các hạn chế
khác nhằm hạn chế sự cạnh tranh. Đây là hình thức liên kết theo chiều ngang.
Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một số loại hàng
hoá nhất định, nơi có ít người bán và thường đòi hỏi những sản phẩm có tính
đồng nhất cao. Nhược điểm của hình thức này là dễ bị tan vỡ do sản xuất và tiêu
thụ vẫn tiến hành độc lập nên một số thành viên có thể phá bỏ hợp đồng.
+ Syndicate là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản độc lập về pháp lý
nhưng không độc lập về thương mại mà có một ban quản trị chung quản lý việc
tiêu thụ sản phẩm. Đây là loại liên minh độc quyền cao hơn, ổn định hơn so với
Cartel.
+ Trust có quy mô lớn hơn Cartel và Syndicate. Các thành viên tham gia
hoàn toàn mất tính độc lập, họ chỉ là những công ty cổ phần.
+ Consortium là liên minh giữa các nhà tư bản độc quyền đa ngành. Các
thành viên tham gia có mối liên hệ với nhau về mặt kinh tế, kỹ thuật. Công ty
mẹ đầu tư vào các công ty khác thành công ty con nhằm tạo thế lực tài chính
mạnh để kinh doanh. Hình thức này gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang giữa
các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm.
+ Conglomerate là tập đoàn kinh doanh đa ngành, các công ty thành viên
có ít mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có quan hệ
chặt chẽ về tài chính. Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính đầu tư vào
các công ty kinh doanh để tạo ra một tổ hợp doanh nghiệp tài chính - công
nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các công ty thành viên hoạt động có hiệu quả.
3
Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư
+ Concern là một tổ chức TĐKT tồn tại dưới hình thức công ty mẹ đầu tư
vào các công ty con và điều hành hoạt động của tập đoàn. Mục tiêu hình thành
tập đoàn là tạo sức mạnh tài chính để phát triển kinh doanh, hạn chế rủi ro, hỗ
trợ mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, áp dụng phương
pháp quản lý hiện đại. Các công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực như sản
xuất, thương mại, ngoại thương, dịch vụ có liên quan; chịu trách nhiệm hữu hạn
trong phạm hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung của tập đoàn thông qua các
hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư. Mô hình này được áp
dụng phổ biến hiện nay do nó có nhiều tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự
phát triển và liên kết giữa các thành viên.
+ Tập đoàn đa quốc gia (MNC) là sự liên kết giữa các đơn vị sản xuất
khác nhau trên quy mô quốc tế, theo chiều dọc thay theo chiều ngang, dưới hình
thức trực tiếp trong sản xuất hay gián tiếp qua lĩnh vực lưu thông. Đó là biểu
hiện của quá trình phân công lao động và xã hội hoá nền sản xuất trên quy mô
quốc tế. Về hình thức, chúng có một công tymẹ đặt trụ sở ở một quốc gia tư bản
phát triển và thường mang quốc tịch của nước đó và có nhiều công ty chi nhánh
phụ thuộc vào công ty mẹ ở nước ngoài.
+ Tập đoàn xuyên quốc gia (TNC): Trong những thập kỷ gần đây, việc
hợp nhất hay liên kết các doanh nghiệp đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia
dẫn đến việc hình thành tập đoàn xuyên quốc gia. Cơ cấu tổ chức của tập đoàn
này gồm có công ty mẹ thuộc sở hữu của các nhà tư bản nước chủ nhà và hệ
thống các công ty con ở nước ngoài và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau chủ yếu về
tài chính, công nghệ, kỹ thuật. Các công ty con ở nước ngoài có thể mang hình
thức công ty 100% vốn nước ngoài, cũng có thể mang hình thức công ty hỗn
hợp, công ty liên doanh với hình thức công ty cổ phần. Tuy nhiên, dù dưới hình
thức nào thì các công ty con đó thực chất cũng là những bộ phận của một tổ hợp,
quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những nhà
tư bản nước mẹ.
- Về kiểu liên kết và tổ chức: tổ chức liên kết trong hầu hết các TĐKT đều
thông qua mối liên kết chính yếu là liên kết công ty mẹ - công ty con. Công ty
mẹ đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn chi phối vào các công ty con. Công ty con
có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập với công ty mẹ. Mối liên kết được duy
trì hoặc chấm dứt qua việc công ty mẹ tiếp tục duy trì hay rút vốn đầu tư vào
công ty con. Hầu hết các công ty mẹ thường nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt
động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển.
Dù là liên minh như thế nào thì khi các doanh nghiệp liên kết lại với nhau
đều mang lại lợi ích cơ bản như: tăng vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển
sản phẩm; giảm thời gian thâm nhập thị trường và chu kỳ sống của sản phẩm;
khả năng đóng góp các kỹ năng và tài sản bổ sung mà không một công ty nào có
thể dễ dàng tự mình phát triển; tiếp cận với kiến thức và kinh nghiệm từ bên
ngoài; nhanh chóng đạt được quy mô, khối lượng và tạo đà phát triển; mở rộng
kênh phân phối và thị trường quốc tế.
2. Nguyên tắc tạo lập TĐKT
Việc phát triển TĐKT dựa trên nguyên tắc hiệu quả, tư nguyện và theo
quy luật của thị trường. Các nguyên tắc đó là:
• Phù hợp với chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước. Việc
hình thành TĐKT phải có tác động tích cực tới điều chỉnh cơ cấu sản xuất và
cơ cấu sản phẩm. Trước hết cần hình thành tập đoàn trọng điểm có khả năng
thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển, tác động tích cực tới việc nghiên
cứu và triển khai sản xuất các mặt hàng chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị
trường.
• Khuyến khích cạnh tranh, hạn chế độc quyền: đảm bảo cạnh tranh lành
mạnh, nghiêm cấm các hoạt động lũng đoạn thị trường hoặc phong toả theo
khu vực.
• Phân định rõ chức năng quản lý kinh doanh với các chức năng quản lý hành
chính. Công ty mẹ của tập đoàn không thể thực hiện cả hai chức năng quản
lý kinh doanh và quản lý hành chính. Tập đoàn cần xác định không phải là cơ
quan quản lý nhà nước cũng không phải là hiệp hội ngành nghề mà là một tổ
chức kinh tế. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên
được thiết lập trên cơ sở giữ cổ phần hoặc quan hệ kỹ thuật sản xuất, không
phải là quan hệ hành chính.
• Thực hiện nguyên tắc đầu tư tự nguyện. Việc hình thành TĐKT phải tuân
theo các quy luật kinh tế, không thể lắp ghép bằng mệnh lệnh hành chính,
phải tuân theo phương thức tự nguyện đóng góp cổ phần, tham gia cổ phần
của người đầu tư, với sợi dây liên kết giữa các doanh nghiệp chủ yếu là vốn.
Như vậy mới đảm bảo các mối quan hệ rõ ràng trong nội bộ tập đoàn và ổn
định cơ cấu tổ chức của tập đoàn.
Tóm lại, nguyên tắc hình thành TĐKT là cùng có lợi, tự do tham gia và
rút khỏi tập đoàn, chống độc quyền trong hoạt động.
3. Một số mô hình TĐKT của các nước trên thế giới
3.1 Mô hình Keiretsu của Nhật Bản
Trước Chiến tranh Thế giới thứ II, nền công nghiệp Nhật Bản bị kiểm
soát bởi các tập đoàn lớn gọi là Zaibatsu. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, các
liên minh (Alliance) đã phá bỏ các Zaibatsu, nhưng các công ty được thành lập
đã phá bỏ các Zaibatsu lại liên kết với nhau thông qua việc mua cổ phần để hình
thành nên các liên minh liên kết theo chiều ngang giữa nhiều ngành nghề khác
nhau. Từ đây Keiretsu ra đời. Do sở hữu cổ phần lẫn nhau và chịu ảnh hưởng
của một ngân hàng và công ty thương mại chung, nên các doanh nghiệp trong
Keiretsu thường có chiến lược kinh doanh giống nhau, phát huy khả năng hợp
tác, tương trợ, đặc biệt là khi gặp khó khăn về tài chính. Bên cạnh đó, các công
ty thành viên còn chia sẻ với nhau những bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm
quản lý và các cách thức tiếp thị, thâm nhập thị trường.
Mỗi Keiretsu lớn thường lấy một ngân hàng làm trung tâm. Ngân hàng
này cung cấp tín dụng cho các công ty thành viên của Keiretsu và nắm giữ vị thế
về vốn trong các công ty. Mỗi một ngân hàng trung tâm có vai trò kiểm soát rất
lớn đối với các công ty trong Keiretsu và hành động với tư cách là một tổ chức
giám sát và hỗ trợ tài chính trong các trường hợp khẩn cấp. Một trong những tác
động của cơ cấu này là giảm thiểu sự hiện diện của những người tiếp quản đối
lập ở Nhật Bản, bởi vì không một thực thể kinh doanh nào muốn đối đầu với sức
mạnh kinh tế của các ngân hàng.
Trên thực tế có hai loại Keiretsu: Keiretsu liên kết dọc và Keiretsu liên
kết ngang. Keiretsu liên kết dọc là điển hình của tổ chức và mối quan hệ như
trong một công ty (từ khâu sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu đến tiêu thụ sản
phẩm trong một ngành nghề nhất định). Các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật
liệu hoạt động như là những vệ tinh xoay quanh các nhà máy sản xuất lớn trên
cơ sở chia sẻ về công nghệ, thương hiệu và quy trình tổ chức kinh doanh. Mối
liên kết giữa các doanh nghiệp này được thiết lập dựa trên lợi ích kinh tế, đồng
thời là sự ràng buộc về niềm tin và sự trung thành nên rất bền chặt.
Trong khi đó, Keiretsu liên kết ngang thể hiện mối quan hệ giữa các thực
thể, thông thường xoay quanh một ngân hàng và một công ty thương mại
(thường gồm nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề khác nhau).
Sau chiến tranh, Nhật Bản có 6 Keiretsu liên kết ngang khổng lồ trong ngành
công nghiệp gồm: Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Dai – Ichi Kangyo, Fuyo và
Sanwa. Thời kỳ suy thoái của Nhật Bản vào những năm 1990 đã có ảnh hưởng
sâu sắc đến các Keiretsu. Nhiều ngân hàng lớn đã chịu sự tác động mạnh mẽ bởi
các khoản nợ xấu và buộc phải sáp nhập hoặc đi đến phá sản. Từ đó mà có sự ra
đời của Sumitomo Mitsui Banking Corporation vào năm 2001 là sự kết hợp của
Ngân hàng Sumitomo và Ngân hàng Mitsui. Trong khi đó, Ngân hàng Sanwa
(Ngân hàng thuộc Hankyu – Toho Group) trở thành một phần của Ngân hàng
Tokyo – Mitsubishi UFJ.
Các Keiretsu ở Nhật Bản rất chú ý đến việc lựa chọn đội ngũ các nhà
quản trị. Các TĐKT thường thích bổ nhiệm các nhà quản trị là người ngay tại
địa phương bởi nhà quản trị địa phương thông hiểu những điều kiện hoạt động
và môi trường kinh doanh ở địa phương. Hơn nữa, người địa phương có thể tập
trung vào các hoạt động nhằm phục vụ cho mục tiêu dài hạn của tập đoàn mình
sao cho phù hợp với địa phương. Với cách thức này, các tập đoàn Nhật Bản chỉ
cần điều động một số ít chuyên gia ra nước ngoài để truyền đạt những kỹ năng
chuyên môn cần thiết và cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh chính
yếu, đồng thời kiểm soát các hoạt động ở nước ngoài và phát triển năng lực cho
nhà quản trị.
3.2 Mô hình Cheabol ở Hàn Quốc
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế Hàn Quốc đã có bước phát
triển vượt bậc. Một trong những nhân tố làm nên những kỳ tích về kinh tế của
Hàn Quốc chính là các doanh nghiệp nói chung và các Cheabol nói riêng với
những chiến lược kinh doanh táo bạo và đầy tham vọng. Các Cheabol bắt đầu
phát triển mạnh từ những năm 1950 -1960 theo mô hình công ty mẹ là công ty
sở hữu thương hiệu (Brand name) và thực hiện chức năng đầu tư tài chính. Các
công ty con có mối quan hệ liên kết về tài chính, chiến lược kinh doanh và sự
điều phối chung trong hoạt động với công ty mẹ, ví dụ như Samsung, Daewoo
hay LG.
Đặc trưng của Cheabol là toàn bộ các công ty thành viên thường do một
hoặc một số ít gia đình sáng lập và nắm giữ cổ phần chi phối. Vì vậy việc quản
lý điều hành trong các Cheabol mang đậm màu sắc gia tộc. Đó cũng là điều khác
biệt cơ bản của tập đoàn Hàn Quốc với các nước công nghiệp phát triển khác.
Chủ tịch hội đồng quản trị là người có quyền lãnh đạo tối cao và thường là cổ
đông lớn nhất của tập đoàn. Mỗi tập đoàn đều có câu lạc bộ chủ tịch (Presidents
Club) bao gồm các chủ tịch là đại diện công ty mà chủ tịch đó nắm vốn. Về mặt
pháp lý, Cheabol không phải là một pháp nhân và không phải là một thực thể
hữu hình. Các hoạt động kinh doanh đều thực hiện thông qua các công ty thành
viên. Tuy nhiên cái bóng vô hình của Cheabol bao trùm lên mọi hoạt động giao
dịch kinh doanh của công ty thành viên chính là sự thống nhất về chiến lược
kinh doanh, sự tập trung và phân bổ các nguồn lực một cách linh hoạt, phù hợp
với từng trường hợp cụ thể.
Các tập đoàn ở Hàn Quốc và Nhật Bản đều xuất phát điểm từ lĩnh vực sản
xuất công nghiệp và mở rộng dần ra các lĩnh vực khác. Từ sản xuất điện tử, ôtô
đến các sản phẩm công nghiệp nặng như khai thác mỏ, tàu biển, hoạt động
thương mại, dịch vụ, các sản phẩm tiêu dùng và cuối cùng là lĩnh vực ngân
hàng, bảo hiểm.
3.3 Mô hình Jituan Gongsi ở Trung Quốc
Trung Quốc có kế hoạch chuẩn bị thành lập TĐKT từ những năm 80 của
thế kỷ XX với hai đợt thí điểm thành lập 120 tập đoàn doanh nghiệp vào các
năm 1991 và 1997. Nhà nước Trung Quốc đã tạo ra khung pháp lý cho tập đoàn
doanh nghiệp ra đời và phát triển. Quá trình này bắt đầu bằng việc sáp nhập các
doanh nghiệp nhà nước thành những tổng công ty lớn. Cho đến khi đạt đến một
quy mô nhất định nào đó, Tổng công ty sẽ phân quyền kinh doanh cho các
doanh nghiệp thành viên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành. Tiếp theo
là giai đoạn đa dạng hóa sở hữu và hình thức nắm giữ cổ phần đan chéo giữa các
doanh nghiệp thành viên thông qua việc cổ phần hoá và giảm tỷ lệ cổ phần của
Nhà nước. Và cuối cùng là thực hiện các biện pháp thu hút đầu tư vốn và chuyển
giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.
Các TĐKT của Trung Quốc tồn tại chủ yếu trên cơ sở các hình thức sau:
Hình thức thứ nhất là TĐKT tổng hợp nhiều cấp. Đây là loại tập đoàn
doanh nghiệp nắm trong tay nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, thương
mại, tài chính, dịch vụ và lấy vốn làm nút liên kết chủ yếu. Chúng được tổ chức
thành bốn cấp, thực hiện nhất thể hoá kinh doanh bằng cách thôn tính, sáp nhập,
xoá bỏ tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp cũ lập ra Tập đoàn doanh
nghiệp trong đó công ty có tư cách pháp nhân làm nòng cốt (công ty mẹ) bằng
cách nắm giữ cổ phần khống chế, thầu khoán, thuê các doanh nghiệp có liên
quan. Doanh nghiệp nòng cốt sẽ nắm quyền lãnh đạo đối với các doanh nghiệp
này trong việc đưa ra các quyết sách về nhân lực, vật lực, sản xuất, cung ứng,
tiêu thụ… biến chúng thành những doanh nghiệp cấp dưới trực tiếp (tức là công
con) của tập đoàn. Các doanh nghiệp này vẫn bảo lưu tư cách pháp nhân của
chúng, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách độc lập tương đối.
Tóm lại, tập đoàn doanh nghiệp này phần nhiều là các tổ chức liên hiệp giữa các
pháp nhân doanh nghiệp. Nó giúp điều chỉnh kết cấu tổ chức doanh nghiệp, bổ
sung lợi thế cho nhau, sử dụng hiệu quả, hợp lý các yếu tố sản xuất, kinh doanh
đa dạng, cùng có lợi.
Hình thức thứ hai là Tập đoàn theo mô hình liên kết dây chuyền. Loại này
chủ yếu là tổ chức liên hiệp lỏng lẻo, lấy sản xuất làm nút liên kết. Chúng
thường lấy một doanh nghiệp lớn làm nòng cốt của Tập đoàn, lấy sản phẩm nổi
tiếng độc đáo của Tập đoàn này làm đặc trưng, áp dụng hình thức chuyên môn
hoá, hiệp tác sản xuất, kinh doanh thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Hình thức thứ ba là Tập đoàn phối hợp đồng bộ. Loại tập đoàn này lấy
hợp đồng nhận thầu công trình làm nút liên kết. Chúng hình thành chủ yếu dựa
vào một số doanh nghiệp công nghiệp lớn, đơn vị nghiên cứu, thiết kế, lấy việc
liên doanh nhận thầu đồng bộ hạng mục công trình lớn làm hình thức chủ yếu.
Dưới sự lãnh đạo của hội đồng giám đốc, doanh nghiệp đầu đàn loại lớn tổ chức
thành công ty liên doanh thống nhất, mạnh, lập ra các đơn vị thành viên có tư
cách pháp nhân nhằm đạt được mục tiêu và lợi ích chung.
Hình thức thứ tư là Tập đoàn hoà nhập nghiên cứu khoa học với sản xuất
kinh doanh, lấy liên kết phát triển kỹ thuật làm nút liên kết. Loại tập đoàn này
lấy những đơn vị nghiên cứu khoa học trong cùng ngành hoặc xí nghiệp công
nghiệp lớn làm chủ thể, bổ sung cho nhau lợi thế khoa học - kỹ thuật và vốn
nhằm phát triển sản phẩm kỹ thuật cao từ đó chế tạo sản phẩm có giá trị cao,
nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hình thức thứ năm là Tập đoàn liên kết mạng lưới cùng ngành: Đây là
hình thức biến tướng của những liên hiệp xí nghiệp đặc biệt lớn có cùng ngành
nghề.
Hình thức thứ sáu là Tập đoàn theo mô hình cổ phần: Loại tập đoàn này
lấy công ty của Nhà nước có thực lực rất mạnh nắm giữ cổ phần khống chế làm
doanh nghiệp nòng cốt. Toàn bộ tập đoàn lấy tài sản dưới hình thức cổ phần làm
nút liên kết, hình thành thể liên hợp các pháp nhân, triển khai hoạt động sản xuất
kinh doanh theo hình thức cổ phần.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét