vị thế đàm phán dựa trên nền tảng sức mạnh có lợi cho Liên minh châu Âu và
Hoa Kỳ, và có thể không đem đến sự cải thiện Pareto. Thất bại nổi tiếng nhất và
cũng gần đây nhất trong việc đạt được một sự đồng thuận là tại các Hội nghị Bộ
trưởng diễn ra ở Seattle (1999) và Cancún (2003) do một số nước đang phát triển
không chấp thuận các đề xuất được đưa ra.
WTO bắt đầu tiến hành vòng đàm phán hiện tại, Vòng đàm phán Doha, tại Hội
nghị Bộ trưởng lần thứ 4 diễn ra tại Doha, Qatar vào tháng 11 năm 2001. Các
cuộc đàm phán diễn ra căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm
phán vẫn đang tiếp diễn qua suốt Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 tại Cancún,
Mexico vào năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 6 tại Hồng Kông từ ngày
13 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 2005.
- Giải quyết tranh chấp
Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động
như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan
đến việc áp dụng quy định của WTO. Không giống như các tổ chức quốc tế
khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình
thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên
không tuân thủ theo phán quyết của WTO. Một nước thành viên có thể kiện lên
Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành
viên khác đã vi phạm quy định của WTO.
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc
thẩm. Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải
quyết Tranh chấp. Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 chuyên gia trong lĩnh
vực thương mại liên quan. Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của của các bên và
soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của
ban hội thẩm. Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung
phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lên Cơ
quan phúc thẩm. Cơ quan này sẽ xem xét đơn khiếu nại và có phán quyết liên
quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình. Phán quyết của các
cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải
quyết Tranh chấp. Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ
có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng Giải
quyết Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải
quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan).
Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện
pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội
5
đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa"
(trừng phạt thương mại). Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng
được áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kỳ hay Liên
minh châu Âu. Ngược lại, ý nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi
kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế
mạnh hơn, chẳng hạn như trong tranh chấp mang mã số DS 267 về trợ cấp bông
trái phép của Hoa Kỳ.
-Cơ cấu tổ chức
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy ban của
WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp
và các ủy ban đặc thù.
+ Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai
năm một lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO. Các thành
viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng
đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề
trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO.
+ Cấp thứ hai: Đại Hội đồng
Công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại Hội đồng,
Hội đồng Giải quyết Tranh chấp và Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại.
Tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau,
đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các
nước thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được nhóm họp để thực
hiện các chức năng khác nhau của WTO.
Đại Hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được
nhóm họp thường xuyên. Đại Hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ
hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định
nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả
các công việc của WTO.
Hội đồng Giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các
phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm
đệ trình. Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ
hoặc tương đương).
Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà
soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính
sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát
6
diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối với những thành viên khác, việc rà
soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.
+ Cấp thứ ba: Các Hội đồng Thương mại
Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng. Có ba Hội
đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng Thương mại
Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến
Thương mại. Mội hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng. Cũng tương tự như
Đại Hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên
WTO. Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu
trách nhiệm báo cáo lên Đại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và
phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản
lý khác. Đáng chú ý là trong số này có Nhóm Công tác về việc Gia nhập chịu
trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO.
Hội đồng Thương mại Hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc
phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tức là các
hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa.
Hội đồng Thương mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc
phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các hoạt
động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ. Hội đồng Các khía cạnh của
Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại chịu trách nhiệm đối với các
hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí
tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức
quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.
+ Cấp thứ tư: Các Ủy ban và Cơ quan
Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên
môn riêng biệt.
Dưới Hội đồng Thương mại Hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm công tác, và 1 ủy
ban đặc thù.
Dưới Hội đồng Thương mại Dịch vụ là 2 ủy ban, 2 nhóm công tác, và 2 ủy ban
đặc thù.
Dưới Hội đồng Giải quyết Tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ quan
phúc thẩm.
Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập Ủy
ban Đàm phán Thương mại trực thuộc Đại Hội đồng để thức đẩy và tạo điều
kiện thuận lợi cho đàm phán. Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên
quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
7
- Các hiệp định:
Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các
vấn đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của
Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại
Marrakesh, Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Bốn phụ lục đó bao gồm các
hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc tế, cơ chế giải
quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên,
các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt
được đồng thuận tại diễn đàn chung. Các nước muốn trở thành thành viên của
WTO phải ký kết và phê chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa
thuận tự nguyện. Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO:
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí
tuệ (TRIPS) Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại
(TRIMS) Hiệp định về Nông nghiệp (AoA)
+ Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC)
+ Hiệp định về Chống bán Phá giá
+ Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp Hiệp định về Tự vệ
+ Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu
+ Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS)
+ Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT)
+ Hiệp định về Định giá Hải quan
+ Hiệp định về Kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển
+ Hiệp định về Xuất xứ Hàng hóa (ROO)
+ Thỏa thuận về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp
2. Một số nguyên tắc của WTO
Các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) rất nhiều và phức tạp
bao gồm cả nông nghiệp, dệt may, ngân hàng, viễn thông, nông nghiệp và cả
thực phẩm Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc, và
chúng được coi là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương.
a. Thương mại không phân biệt đối xử: thể hiện ở hai nguyên tắc:
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc: Tối huệ quốc có nghĩa là “nước
(được) ưu đãi nhất”, “nước (được) ưu tiên nhất”. Nội dung của nguyên tắc này
8
được WTO quy định rằng các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối
tác thương mại của mình.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc là mỗi thành viên của WTO phải đối xử với
các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác “ưu tiên
nhất”. Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số
ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các
thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được “ưu tiên
nhất”.
- Nguyên tắc đối xử quốc gia là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước
ngoài và sản phẩm nội địa. Nội dung của nguyên tắc này là hàng hóa nhập khẩu
và hàng hóa tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình
đẳng như nhau.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này: Bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau
khi đã qua biên giới,trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt
đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém
ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước.
Thương mại ngày càng tự do hơn là nhằm thực thi được mục tiêu tự do hóa
thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán
hàng hóa
Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng. WTO đôi khi được miêu tả
như là một hệ thống "thương mại tự do", tuy nhiên điều đó không hoàn toàn
chính xác. Hệ thống này vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và, trong một
số trường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ. Như vậy, nói
một cách chính xác hơn thì WTO đem lại một sự cạnh tranh lành mạnh và công
bằng hơn.
WTO cũng có thể hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không
bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh
nghiệp nhất định
b. Nguyên tắc tiếp cận thị trường:
- Nguyên tắc tiếp cận thị trường thực chất là việc mở của thị trường, hàng
hoá dịch vụ và đầu tư ngôàich các quốc gia khác trong khối. trong một hệ thống
thương mại đa phương, khi tất cả quốc gia tham gia đều chấp nhận mở cửa thị
trường thì điều đó đồng nghĩa với một việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn
cầu mở.
Về mặt chính trị, nguyên tắc này thể sự tự do hoá thương mại của WTO . các rào
cản thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà hoạch định chiến lược
9
kinh doanh dài hạn, có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc
chuyển đổi cơ cấu. mức đọ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông
qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương. tuy nhiên, mức độ thực hiện
tiếp cận thị trường của các quốc gia tương đối khác nhau.
về mặt pháp lý, nguyên tắctiếp cận thị trường thể hiện nghĩa vụ và tính chất ràng
buộc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà các nước chấp đã chấp
nhận khi đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
c. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
Nguyên tắc cạnh tranh công bằng thể hiện sự tự do cạnh tranh trong
nhưng điều kiệnbình đẳng như nhau. Nguyên tắc này nhằm hạn chế những tác
động nhưng tiêu cực của biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá,
trợ cấp hay dành một số đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định.
d. Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi:
Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên
đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số quyền và không
phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính
sách.
Qua các vòng đàm phán, lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát
triển đã tăng lên khá nhiều. Sau vòng đàm phán Uruguay, các nước giàu trong
WTO đã cam kết sẽ rộng mở hơn nữa đối với hàng hoá xuất khẩu từ những nước
kém phát triển và trợ giúp kỹ thuật cho các nước này. Gần đây, những nước phát
triển đã bắt đầu cho phép nhập khẩu tự do, không thuế, không hạn ngạch đối với
tất cả những sản phẩm từ hầu hết quốc gia kém phát triển trong WTO.
10
Chương II
THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM
LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO
1. Kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
a. Những điều đạt được của kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập
WTO
Năm 2007, kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện khó khăn nhiều hơn
thuận lợi so với các năm trước. Thành công tiêu biểu nhất của việt nam là tốc độ
tăng trưởng GDP cao hơn dự kiến, đạt 8,44%, cao nhất trong 10 năm qua,dẫu
rằng có nhiều khó khăn về thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp và sự biến
động thị trường bất lợi về giá cả tăng song nền kinh tế nước ta vẫn tăng GDP
cao, đứng thứ 3 châu Á (sau Trung Quốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%)
Thu hút đầu tư nước ngoài đạt 20,3 tỷ usd gần tăng 70% so với năm 2006, tăng
gấp đôi so với năm trước. . Điều đáng chú ý là: lần đầu tiên trong nhiều năm, tốc
độ tăng xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước cao hơn khu vực có vốn
nước ngoài (22,1% so với 18,6%) chứng tỏ các doanh nghiệp trong nước đã
năng động khai thác thị trường - cơ hội do việc gia nhập wto mang lại; do không
bị khống chế về hạn ngạch khi trở thành thành viên của wto, 11 tháng kim ngạch
xuất khẩu dệt may đã đạt trên 7 tỉ usd, tăng 32% so với cùng kỳ chiếm trên 16%
tổng kim ngạch xuất khẩu; xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm các hàng hóa
khác mà chúng ta không thống kê được các sản phẩm cụ thể tăng mạnh, tỉ lệ
tăng 38,9% với kim ngạch 8 tỉ 700 triệu usd chiếm 20% tổng kim ngạch xuất
khẩu (nếu thống kê rõ được chi tiết các sản phẩm, chúng ta sẽ có những giải
pháp thúc đẩy tăng trưởng cao hơn).
Đầu tư và xuất khẩu tăng, thị trường nội địa được mở rộng tạo điều kiện cho
công nghiệp và dịch vụ phát triển, nên GDP tăng gần 8,5%, là mức tăng cao nhất
trong 10 năm qua.
b. Những hạn chế mà nền kinh tế gặp phải
- Giá cả tăng cao, không đạt được mục tiêu đề ra. Chỉ số giá tiêu dùng
ước tăng 12,4% so với tháng 12-2006. Đây là tốc độ tăng giá cao nhất trong
những năm gần đây, vượt qua tốc độ tăng GDP và không đạt mục tiêu đề ra.
Nhóm hàng tăng giá cao nhất trong năm qua là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng
18,92%, riêng lương thực tăng 15,4%, giá thực phẩm tăng 21,16%, thứ 2 là nhà
ở và vật liệu xây dựng tăng 17,12%, thứ 3 là đồ dùng và dịch vụ khác tăng
11
9,02%, thứ 4 là dược phẩm, y tế tăng 7,05% và thứ 5 là may mặc, mũ nón, giày
dép tăng 5,47%. ở Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ số giá cả ước cả năm tăng trên
12%.
Nguyên nhân tăng giá: Về khách quan, giá thế giới tăng, thiên tai, dịch bệnh lan
rộng, gây thiệt hại nặng nề. Về nguyên nhân chủ quan do điều hành giá yếu, dự
báo sai, điều hành chính sách tiền tệ chưa tốt. "Việc lúng túng trong điều hành
thị trường tiền tệ cũng là một lý do khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) vượt
quá tốc độ tăng GDP" (đánh giá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị
Kế hoạch và Đầu tư năm 2007, ngày 30-11-2007. Theo đánh giá của chuyên gia
kinh tế WB tại Hà Nội: Lượng tiền lưu thông quá lớn, tỷ lệ tăng tín dụng trên
38%, so với tốc độ tăng GDP khoảng 8% thì con số đó là rất nhiều, dù cho các
ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ dự trữ, nhưng lượng tiền lưu thông vẫn rất
nhiều. Do dòng vốn đổ vào thị trường mạnh nhưng chưa có cơ quan điều tiết đủ
năng lực, chính sách ngoại hối, ngoại tệ chưa phát huy tác dụng vì chính sách
của Chính phủ trong thị trường tiền tệ và hối đoái không nhất quán. Chính phủ
mua USD vào nhiều và bơm tiền đồng ra thị trường có thể làm giảm giá đồng
USD sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và tạo sức ép cho lạm phát. Nhập siêu lớn.
Chung cả năm, nhập siêu ước lên tới trên 13,1 tỉ USD, bằng 27,5% kim ngạch
xuất khẩu. Điều này thể hiện rõ nhất trong 2 tháng cuối năm. Đáng chú ý là 3
mặt hàng nhập khẩu tăng gấp hơn 2 lần so năm 2006 là ô-tô nguyên chiếc xe
máy nguyên chiếc và dầu mỡ động thực vật, không có mặt hàng nào giảm so với
năm 2006 về kim ngạch.
Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2007 ước đạt 60,8 tỉ USD, tăng 35,5% so
năm 2006.
Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dich theo hướng tích cực. Tỷ trọng GDP
khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản giảm còn dưới 20,0%/ so với 20,81% năm
2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm trên 41,7% so với
41.56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08% trong 2 năm
tương ứng. Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao và tốc
độ tăng khá ổn định, quý sau cao hơn quý trước, trong điều kiện có khó khăn
nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng trong
bối cảnh hội nhập WTO.
Do kinh tế tăng trưởng cao nên tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân sách
nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép. Theo Bộ
Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt 287.900 tỉ đồng,
vượt dự toán cả năm (dự toán 281.900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với năm 2006.
12
Các khoản thu có tỷ trọng lớn đều đạt mức khá. Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của
mưa lũ, song nhiều khoản thu chủ yếu như thu từ doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài, thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, phí và lệ phí, thu
từ khu vực kinh tế quốc doanh, thu từ nhà, đất tăng khá. Một số khoản thu đạt
khá so với dự toán, trong đó: thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh; thuế
thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 100,8%; thu từ nhà và đất đạt
117,6% dự toán.
Tổng số chi ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt dự toán năm. Bội chi ngân
sách cả năm ước đạt 5% GDP. Đến nay ngân sách trung ương đã cấp chuyển
100% dự toán chi bổ sung cân đối cho các địa phương, trong đó một số địa
phương có khó khăn đã được cấp đủ 100% trợ cấp cân đối ngân sách theo dự
toán để chủ động nguồn xử lý các nhiệm vụ chi trong tháng cuối năm. Bên cạnh
đó, việc bảo đảm lương thực cho công tác cứu trợ nhân dân và kinh phí để hỗ trợ
các địa phương bị thiệt hại do mưa lũ gây ra cũng được chú trọng, đáp ứng kịp
thời yêu cầu đề ra.
2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành dệt may Việt
Nam
- Toàn quốc hiện có khoảng 2.000 DN dệt may với hơn 2 triệu lao động; 25%
trong số đó là các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Các DN may hiện nay phần lớn
là các DN tư nhân hay Cty cổ phần. Họ thường chú trọng ưu tiên thực hiện các
hợp đồng may gia công XK. Nhiều DN chỉ sản xuất các sản phẩm theo đơn đặt
hàng từ nước ngoài dưới dạng gia công thuần tuý.
Trong nhiều năm qua ngành dệt may Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu tương đối cao - bình quân 20%/năm trong giai đoạn 2000-2005.
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của ngành dệt may ĐVT: triêu đồng
2000 2001 2002 2003 2004
Doanh
thu 23451 26587
113
(%) 33969
128
(%) 33471
128
(%) 52980
122
(%)
Lợi
nhuận 476 208
44
(%) 400
193
(%) 684
171
(%) 509
74
(%)
Thuế 765 837
109
(%) 977
117
(%) 1102
113
(%) 2388
217
(%)
13
Trong năm 2006 ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu hàng hoá trị giá 5,83 tỷ
USD, tương đương mức tăng trưởng 20,5% so với năm trước và chiếm 15%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các nước nhập khẩu hàng dệt may
lớn nhất của Việt Nam là Mỹ (doanh thu 3.04 tỷ USD), EU (1,24 tỷ USD) và
Nhật (628 triệu USD). Trong khi đó, toàn bộ thị trường trong nước chỉ đạt doanh
số khoảng 1,8 tỷ USD. Sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất là áo khoác, quần
dài, sơmi, hàng dệt kim và quần áo các loại. Các lô hàng XK vẫn chủ yếu là các
hợp đồng gia công lại cho đối tác nước ngoài; nhiều DN VN hầu như không có
đối tác phân phối trực tiếp trên thị trường quốc tế. Lợi nhuận của các DN dệt
may thường khá thấp (so với doanh thu) do phần lớn nguyên phụ liệu, mẫu mã
thiết kế và hoạt động phân phối đều được quyết định bởi đối tác nước ngoài.
Phần đóng góp của phía VN vào việc hoàn thiện một chiếc áo khoác chỉ vào
khoảng 11%, đối với sơ mi là 25%, quần dài là 15% và trong các sản phẩm khác
luôn dưới mức 25%.
Cũng trong năm 2006, ngành dệt may phải chi 5,65 tỷ USD cho nhập khẩu, chủ
yếu là vải (chiếm 52%), nguyên phụ liệu (34%), sợi (10%) và bông xơ (4%). Các
mặt hàng này đa phần được nhập từ Trung Quốc, Đài Loan và các nước
ASEAN.
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành dệt đạt
khoảng 13%. Năng lực của các DN cung ứng nguyên phụ liệu trong nước còn
khá khiêm tốn. Với 24.000 ha diện tích trồng bông, hàng năm VN mới chỉ sản
xuất ra được 8.000 tấn bông xơ, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu trong nước. Ngoài
ra, 70% nhu cầu sợi tổng hợp, 40% nhu cầu sợi xơ ngắn, 40% nhu cầu vải dệt
kim và 60% nhu cầu vải dệt thoi vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Kim ngạch xuất nhập khẩu theo mặt hàng
ngành trang thiết bị lực lượng sản xuất
(/năm)
ngành sợi
ngành dệt thoi
ngành dệt kim
ngành may
2,5 triệu cọc sơi
20000 máy may
4000 máy
300000 máy may công nghiệp
250000 tấn
600 triệu m
2
100000 tấn
1,25 tỷ sản phẩm
3. Những tác động tích cực đến các doanh nghiệp việt nam
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét