Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Cách tiếp cận kiểm thử khác nhau và đề xuất phương pháp kiểm thử hệ thống

2


Danh sách hình vẽ

Tên hình vẽ Trang

Hình 1.1 Vùng ALAPR
……………………………………………….
23
Hình 4.1: Sơ đồ lớp UML thể hiện mô hình dữ liệu cho
công cụ phần mềm …………………………………………………… 54
Hình 4.2: Màn hình của trang Xuatphat.asp ………………………… 56

Hình
4
.3: Màn hình trang
Them
Duan.aspx………………………… 57
Hình 4.4: Màn hình trang LoaiRuiro.aspx ……………………………. 58
Hình 4.5: Màn hình trang Modules.aspx …………………………… 59
Hình 4.6:
M
àn hình trang GiatriModules.aspx……………………… 60

Hình 4.7:

Màn hình trang Taokiemthu.aspx………………………… 61
Hình 4.8:

Màn hình trang

Trangchu.aspx …………………………… 62
Hình 4.9:

Màn hình trang

Ruiro.aspx ………………………………….63
Hình

4.10: Màn hình trang Raocan.aspx ……………………………… 64

3


Ký hiệu viết tắt

PM Phần mềm
KTPM Kiểm thử phần mềm
PTPM Phát triển phần mềm
PHA Phân tích lỗi sơ bộ
HazOp Phân tích lỗi và khả năng thực hiện
FMEA Phân tích các kiểu lỗi và hậu quả FMEA
4


Lời nói đầu

Kiểm thử phần mềm là một công việc đòi hỏi rất nhiều thời gian trong
qui trình phát triển phần mềm. Thế nhưng, kiểm thử phần mềm lại thường
được thực hiện vào pha gần cuối của vòng đời phát triển hệ thống khi tiền bạc
và thời gian không còn dư rả nữa. Những người quản lý đều rất mong muốn
sớm có được một phiên bản của sản phẩm và thường thúc ép những người
kiểm thử phải hoàn thành công việc trong một khoảng thời gian không dễ
dàng có thể thực hiện được. Nhưng cho dù thế nào thì những người kiểm thử
vẫn phải làm công việc của họ, và vì vậy có thể họ không thể kiểm thử tất cả
những thứ cần phải kiểm thử. Do đó, họ chỉ kiểm thử những thứ mà họ cho là
quan trọng nhất.
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu các cách tiếp cận kiểm thử khác
nhau và tìm cách đề xuất một phương pháp kiểm thử hệ thống dựa trên các rủi
ro đã phân tích được. Những rủi ro có thể có đối với hệ thống sẽ được phân
tích cho từng ca sử dụng. Việc đánh giá những rủi ro này sẽ được sử dụng để
tìm ra bản chất của rủi ro cho từng ca sử dụng. Các ca kiểm thử sẽ được thiết
lập từ những ca sử dụng này và các ca kiểm thử có rủi ro cao nhất sẽ được
chọn để thực hiện. Ngoài ra, trong luận văn sẽ xác định thêm những yêu cầu
cần thiết cho việc xây dựng một công cụ phần mềm hỗ trợ cho phương pháp
kiểm thử này và đề xuất một mô hình thử nghiệm.
Kinh nghiệm cho thấy khi gặp một vấn đề nào đó trong cuộc sống, con
người thường giải quyết bằng cách nhớ lại những vấn đề họ đã gặp trước đây
để tìm ra vấn đề tương tự, rồi lục lại trí nhớ để tìm lại cách giải quyết của vấn
đề tương tự này, và cuối cùng điều chỉnh cách giải quyết vừa tìm thấy nếu cần
thiết để đưa ra cách giải quyết hợp lý cho vấn đề hiện tại của mình. Trong
phân tích và quản lý rủi ro cũng vậy, khi tiếp nhận một dự án, những người
5


quản trị dự án bao giờ cũng nhớ lại những dự án trong quá khứ mà họ đã quản
lý để tìm ra một số dự án tương tự, sau đó tìm lại danh sách rủi ro của các dự
án tương tự này, và cuối cùng hiệu chỉnh trên các danh sách rủi ro vừa tìm
thấy cho phù hợp với ngữ cảnh hiện tại để đưa ra dự đoán danh sách rủi ro
cho dự án đang phát triển. Thực tế, các dự án luôn luôn có một độ tương tự
nhất định tùy theo hướng nhìn nhận của người quản trị dự án và rủi ro phần
mềm là một vấn đề phức tạp không nằm trong tầm kiểm soát của người quản
trị dự án.
Mục tiêu của mô hình là đảm bảo tự động hóa một phần quá trình phân
tích và quản lý rủi ro. Dựa trên những thông tin về phân tích và quản lý rủi ro
của các dự án phần mềm đã hoàn thành, mô hình đưa ra một dự đoán danh
sách rủi ro cho dự án hiện tại, và mỗi rủi ro trong danh sách này là một trong
những rủi ro đã được dự đoán trong quá khứ. Vì vậy khi sử dụng mô hình
này, các nhà quản trị dự án có thể tận dụng và trau dồi những kinh nghiệm
phân tích và quản lý rủi ro mà họ đã trải qua trong quá khứ, và họ có thể tự bổ
sung kinh nghiệm bằng cách thêm những rủi ro mới xuất hiện và kế hoạch
quản lý rủi ro tương ứng vào danh sách rủi ro của dự án hiện tại.
Ngoài ra, do đặc điểm của lý thuyết, mô hình thử nghiệm được đề xuất
trong luận văn chỉ áp dụng trong một ngữ cảnh hẹp, chẳng hạn một công ty
phần mềm. Hiện nay, các công ty phần mềm có xu hướng phát triển phần
mềm trong một số lĩnh vực nhất định, đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng
khách hàng nhất định, sử dụng một số công nghệ phát triển nhất định, … nên
xây dựng mô hình trong một ngữ cảnh hẹp là hoàn toàn hợp lý.
6


Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 4 chương, nội dung của mỗi chương được tóm tắt như sau:
Chương 1: Trình bày những khái niệm cơ bản về kiểm thử nói chung và kiểm
thử dựa trên các rủi ro.
Chương 2: Trình bày các phương pháp phân loại ưu tiên các kiểm thử rủi ro
và so sánh các phương pháp kiểm thử dựa trên rủi ro.
Chương 3: Đề xuất một phương pháp kiểm thử dựa trên rủi ro mới.
Chương 4: Phân tích các yêu cầu của một công cụ phần mềm kiểm thử và
thiết kế các giao diện và cơ sở dữ liệu của phần mềm kiểm thử.
7


Chương 1 Kiểm thử phần mềm dựa trên các rủi ro

Việc xem xét các rủi ro trong kiểm thử phần mềm không phải là mới.
Những người kiểm thử phần mềm có kinh nghiệm thường kiểm thử hệ thống
dựa trên các rủi ro với những linh cảm riêng. Hiện tại, đã có một vài cách tiếp
cận dùng để kiểm thử phần mềm dựa trên các rủi ro.
Mục tiêu của chương này là tìm hiểu xem rủi ro trong công nghệ phần
mềm là gì và cách phòng ngừa, xử lý các rủi ro. Tiếp theo là nghiên cứu để
biết rõ được kiểm thử phần mềm là gì và có các loại hình kiểm thử nào. Cuối
cùng là nghiên cứu tìm hiểu một số phương pháp kiểm thử dựa trên các rủi ro
đã phát hiện được khi phân tích.
1.1 Rủi ro
Mỗi người đều có một ý niệm nào đó về rủi ro. Hàng ngày, chúng ta có
thể gặp phải các rủi ro nào đó. Để có được một cái gì đó người ta thường phải
chấp nhận các rủi ro. Băng qua một đường phố đông đúc để uống một tách cà
phê có thể sẽ bị một tai nạn giao thông là một ví dụ về việc chấp nhận rủi ro
để có một lợi ích nào đó. Việc mua xổ số là ví dụ khác của việc chấp nhận rủi
ro, ta có thể được hoặc có thể mất. Trong thực tế, một số người sẵn sàng chấp
nhận rủi ro trong khi những người khác lại rất ghét rủi ro. Theo từ điển
Wikipedia thì “Rủi ro là thiệt hại tiềm tàng mà có thể xuất hiện từ quá trình
hiện hữu nào đó hoặc từ sự kiện tương lai nào đó”. Tức là, rủi ro chưa trở
thành một vấn đề nhưng nó có thể là một vấn đề nếu không tiến hành những
hành động phù hợp. Trong ngữ cảnh một dự án, rủi ro là khả năng xảy ra một
sự kiện nào đó và khả năng ảnh hưởng đến những mục tiêu của dự án nếu sự
kiện đó xảy ra. Nó chứa đựng khả năng thiệt hại, và khả năng dẫn đến những
sai khác so với kết quả mong đợi.
8


Tóm lại, rủi ro gồm hai thành phần: khả năng xảy ra và hậu quả phải
gánh chịu nếu nó xảy ra. Hai thành phần này tạo nên hai đặc trưng của rủi ro:
không chắc chắn (rủi ro có thể xảy ra hoặc không) và gây thiệt hại (rủi ro
mang đến những hậu quả không mong đợi).
Như vậy, rủi ro là nhân tố bất kỳ có thể gây trở ngại cho thành công của
dự án. Một rủi ro chưa phải là một vấn đề mà chính xác hơn một rủi ro là một
vấn đề có thể xảy ra.
1.1.1 Độ phơi nhiễm rủi ro
Khi xem xét rủi ro, chúng ta phải tính đến những thiệt hại do rủi ro gây
ra và khả năng có thể xảy ra rủi ro này. Thiệt hại là những thứ không may bị
mất mát như thời gian, chất lượng, tiền bạc, kiểm soát hoặc hiểu biết.
Khả năng mà một sự kiện có thể dẫn đến các thiệt hại nào đó thường được
tính như một xác suất có giá trị từ 0 đến 1. Nếu xác suất này bằng 0 thì sự
kiện sẽ không bao giờ xảy ra và không được coi là một rủi ro. Một xác suất
bằng 1 có nghĩa là sự kiện này sẽ xảy ra trừ khi một vấn đề nào đó được giải
quyết hoặc thay đổi.
Nếu ta có một số rủi ro có thể xảy ra đối với một vấn đề nào đó thì có
thể sẽ rất khó để xác định xem những rủi ro nào cần phải đặc biệt chú ý. Bởi
vậy cần phải có một phương thức để đánh giá mức độ nguy hại của các rủi ro.
Một trong những cách thức đó là tính Độ phơi nhiễm rủi ro (Risk Exposure).
Đây là một tính toán đơn giản dùng để gán cho mỗi rủi ro một giá trị số cho
phép so sánh các rủi ro với nhau.
Độ phơi nhiễm rủi ro = Xác suất xảy ra rủi ro * Tổng thiệt hại nếu rủi ro xảy ra
1.1.2 Xử lý rủi ro
Sau khi nhận dạng được các rủi ro, chúng ta sẽ xem xét phải làm gì với
chúng. Trước hết, cần phải xem xét mức độ mà ta có thể thay đổi được các
9


hậu quả của rủi ro. Tức là chúng ta có thể giảm thiểu hoặc ngăn ngừa hậu quả
của một rủi ro ở mức độ như thế nào. Các rủi ro có thể được chấp nhận, bị
ngăn ngừa hoặc được san sẻ.
Nếu rủi ro được chấp nhận thì những thiệt hại do rủi ro này gây ra phải
được tính vào chi phí của dự án. Nếu phải chấp nhận nhiều rủi ro thì cần phải
sử dụng độ phơi nhiễm rủi ro khi dự toán chi phí. Cách tính này sẽ cho một
dự toán với mức thiệt hại trung bình do các rủi ro gây ra.
Ngăn ngừa là cách giảm thiểu thiệt hại hoặc xác suất. Có thể làm được
điều đó bằng cách thay đổi điều kiện sao cho sự kiện này sẽ không xảy ra.
Trong công nghệ phần mềm, có thể tiến hành nhiều kiểm thử hơn để giảm
thiểu rủi ro. Việc kiểm thử sẽ giảm bớt những gì còn chưa chắc, chưa rõ ràng
và có thể phát hiện ra các lỗi quan trọng có thể sửa được.
San sẻ thiệt hại có nghĩa là chia những thiệt hại này cho một số bên
khác nhau, ví dụ như khách hàng, nhà thầu phụ hoặc một hãng bảo hiểm. Tuy
nhiên, việc san sẻ thiệt hại cho khách hàng lại là một rủi ro vì nó sẽ làm giảm
uy tín và có thể dẫn đến mất khách hàng và thị phần.
1.1.3 Quản lý rủi ro
Hậu quả do rủi ro gây ra xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,
có thể là chất lượng của sản phẩm cuối không đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng, chi phí dự án tăng lên, giao sản phẩm chậm hay không đạt được
những mục tiêu đã đặt ra của dự án; và trường hợp xấu nhất là phá hỏng
toàn bộ dự án. Mỗi thay đổi dù nhỏ hay lớn, như thay đổi yêu cầu khách
hàng, thay đổi công nghệ phát triển hay thay đổi cơ cấu đội phát triển, đều
ảnh hưởng đến tính chất kịp thời và thành công của dự án. Hơn nữa, làm phần
mềm là một cuộc chiến giữa nhà quản trị dự án với những lựa chọn khác
nhau, chẳng hạn như nên dùng phương pháp và công nghệ phát triển nào,
cần khoảng bao nhiêu người phát triển hay chất lượng phần mềm như thế nào
10


là đủ …; và mỗi lựa chọn này có lợi và hại khác nhau đối với dự án. Vì thế
nhà quản trị dự án phải cân nhắc giữa cái được và cái mất để đưa ra lựa chọn
thích hợp nhất về phương pháp, công cụ, cơ cấu đội phát triển và tiêu chí chất
lượng cho từng dự án. Quả thực, rủi ro là vấn đề luôn tiềm ẩn trong phát triển
phần mềm và lúc nào cũng nằm chờ sẵn cơ hội để xuất hiện; do đó, quản lý
rủi ro trở thành điều kiện cần để dẫn đến thành công của dự án.
Qu

n lý r

i ro là một chuỗi các hoạt động hay các bước giúp đội
phát triển hiểu và quản lý các rủi ro. Hoạt động này diễn ra liên tục xuyên
suốt quá trình phát triển phần mềm nhằm tìm kiếm các rủi ro có thể xảy ra,
xác định mức độ quan trọng của rủi ro để ưu tiên giải quyết và thực thi các
chiến lược đã đề ra để khắc phục hậu quả nếu rủi ro xảy ra.
Thực tế, tất cả những người liên quan đến quá trình làm phần mềm,
bao gồm: quản trị dự án, kỹ sư phần mềm và khách hàng đều phải tham gia
hoạt động quản lý rủi ro; trong đó, quản trị dự án có vai trò và trách nhiệm
cao nhất đối với hoạt động này. Kết quả của quản lý rủi ro là một danh sách
rủi ro hoàn toàn dựa trên những nghiên cứu của quản trị dự án về đội phát
triển, yêu cầu khách hàng, các tiến trình phát triển và các thông tin dự án
khác. Rủi ro được xem xét lặp đi lặp lại trong các giai đoạn phát triển phần
mềm để đảm bảo rủi ro được cập nhật liên tục và các kế hoạch quản lý rủi ro
đảm bảo tính thực tế.
1.1.4 Rủi ro trong công nghệ phần mềm
Trước đây, rủi ro thường bị bỏ qua trong công nghệ phần mềm. Người
ta luôn giả thiết là sẽ có một bản thiết kế tối ưu và không có quĩ dự trữ để đề
phòng những rủi ro. Nhưng những gì họ làm lại không thường xuyên như kế
hoạch đã định và trong mọi dự án phát triển phần mềm đều có nhiều rủi ro
cần phải được xem xét. Vì luôn luôn tồn tại những điều không chắc chắn
11


trong công nghệ phần mềm cho nên công việc xử lý các rủi ro sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến thành công của dự án.
Những rủi ro có liên quan tới sản phẩm thông thường được phân tích,
xử lý riêng rẽ, tách biệt với những rủi ro liên quan đến quá trình dự án. Rủi ro
sản phẩm có thể được phát hiện từ việc nhận dạng các nguy cơ và các đe dọa
có thể xảy ra đối với hệ thống. Nguy cơ là một sự kiện không mong muốn
nhưng vẫn có khả năng xảy ra. Thuật ngữ “nguy cơ” thường được sử dụng
trong khi đánh giá độ an toàn của hệ thống. Tính chất nghiêm trọng của các
nguy cơ sẽ phụ thuộc vào bản chất của phần mềm. Trong các hệ thống đòi hỏi
độ an toàn cao thì hậu quả của các nguy cơ tất nhiên sẽ cao hơn so với các hệ
thống thương mại, nhưng thuật ngữ “nguy cơ” vẫn có thể được sử dụng ở cả
hai.
Các phần mềm có những lỗi nghiêm trọng sẽ không chỉ có vấn đề ngay
tại lúc này mà còn gây ảnh hưởng cho các công việc nghiệp vụ sau này. Nếu
khách hàng gặp những vấn đề và thấy thời gian của họ bị lãng phí, thì họ sẽ
không quay lại nữa. Từ lý do đó, một giao diện người dùng tốt cũng là một
nhân tố quyết định phần mềm có rủi ro hay không.

Đối với các phần mềm thương mại, nguy cơ đáng sợ nhất có thể là mất
dữ liệu. Đối với những phần mềm đòi hỏi độ an toàn cao thì ảnh hưởng của
lỗi có thể còn lớn hơn. Một nguy cơ có thể dẫn đến các thảm họa. Trong các
hệ thống an ninh và nghiệp vụ quan trọng, việc kiểm soát các rủi ro đóng một
vai trò quyết định đối với vìệc giảm thiểu các thiệt hại do lỗi phần mềm gây
ra. Bởi vậy trong các hệ thống này, độ tin cậy của phần mềm trở nên rất quan
trọng. Nhưng những phần mềm có độ tin cậy cao vẫn không đảm bảo là sẽ
vận hành an toàn, do vậy nó cần phải đáng tin cậy.
Rủi ro quá trình liên quan đến quá trình phát triển phần mềm được thực
hiện như thế nào. Rủi ro quá trình xuất hiện từ quá trình phát triển phần mềm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét