Phần mở đầu
Nớc ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoạn phát triển của chủ nghĩa t bản trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế, do đó sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh
đó cũng có những điểm khác so với trớc đây.
Trớc những năm 1986, do nhận thức và vận dụng sai lầm lý luận của
chủ nghĩa Mác Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã dẫn
đến những thất bại to lớn nh sự sụp đổ của hệ thống các nớc XHCN ở Liên
xô và các nớc Đông Âu, còn ở Việt nam do nhận thức và vận dụng sai lầm
đã dẫn đến tụt hậu về kinh tế và khủng hoảng về chính trị.
Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt,
các lĩnh vực của quá trình đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng đã đồng thời coi đổi mới t duy lý luận, t duy chính trị về chủ
nghĩa xã hội là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới
cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế
là trọng tâm.
Thực tiễn hơn 10 năm đổi mớỉ nớc ta mang lại nhiều bằng chứng xác
nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên. Đại hội đại biểu lần thứ
VIII của đảng đã khẳng địnhxét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc
đổi mới từ đổi mới về t duy chính trị trong việc hoạch định đờng lối và
chinhs sách đối nội đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi
mới khác.
Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về nhiệm vụ xây dựng CNXH
trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tôi đã lựa chọn đề tài "Quan điểm toàn
diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay".
1
Đề tài tập trung nghiên cứu Quá trình xây dựng CNXH ở Việt nam từ
trớc và sau đổi mới đến nay, và một số kiến nghị vận dụng quan điểm toàn
diện của chủ nghĩa Mác-Lênin vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam.
Đề tài đợc nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phơng pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, thế giới quan duy vật biện chứng, căn cứ
vào một số quan điểm đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc từ sau Đại
hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI.
Kết cấu đề tài, ngoài lời nói đầu và kết luận gồm hai chơng
Ch ơng 1 : Lý luận chung về quan điểm toàn diện
Ch ơng 2 : Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng
CNXH ở Việt nam.
Do điều kiện thời gian cũng nh trình độ am hiểu về vấn đề này còn hạn
chế, nên không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận đợc những ý
kiến đánh giá của thầy cô giáo và các bạn để đề tài này đợc hoàn thiện hơn.
Chơng1
2
Lý luận chung về quan điểm toàn diện
1.1- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tợng tồn tại một cách tách
rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc,
không có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những
liên hệ hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Một số ngời theo quan
điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhng laị
phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác
nhau.
Ngợc lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại nh một chỉnh
thể thống nhất. Các sự vật hiện tợng và các quá trình cấu thành thế giới đó
vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn
nhau.
Về nhân tố quy định sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng trong thế
giới, chủ nghĩa duy tâm cho rằng cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại
giữa các sự vật và hiện tợng là các lực lợng siêu tự nhiên hay ở ý thức, ở
cảm giác của con ngời. Xuất phát từ quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli
coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng là cảm giác. Đứng trên
quan điểm duy tâm khách quan, Hêghen lại cho rằng cơ sở của sự liên hệ
qua lại giữa các sự vật, hiện tợng là ở ý niệm tuyệt đối.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định cơ sở của sự
liên hệ qua lại giữa các sự vật hiện tợng là tính thống nhất vật chất của thế
giới.
Theo quan điểm này, các sự vật hiện tợng trên thế giới dù có đa dạng,
khác nhau nh thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại
khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả ý thức, t
tởng của con ngời vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của
3
một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con ngời, nội dung của
chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan,
tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tợng, các quá trình, mà nó
còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và
mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và
mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế
giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác
động qua lại đợc thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian, có
mối liên hệ bản chất, có mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối
liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau
của sự vật. Sự vật, hiện tợng nào cũng vận động, phát triển qua nhiều giai
đoạn phát triển khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với
nhau, tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình t-
ơng ứng.
Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận
động và phát triển của chính các sự vận động và phát triển của các sự vật
hiện tợng.
Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau
giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của
một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát
triển của sự vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các
hiện tợng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định, Hơn nữa,
nó thờng phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối
với sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, nói nh vậy không có
nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự
vận động và phát triển của sự vật, hiện tợng. Mối liên hệ bên ngoài cũng hết
sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định.
4
Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất yếu và ngẫu
nhiên cũng có tính chất tơng tự nh đã nói ở trên. Ngoài ra chúng còn có
những nét đặc thù. Chẳng hạn nh, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan
hệ này lại là cái tất nhiên khi xem xét trong mối liên hệ khác, ngẫu nhiên
lại là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất yếu, hiện tợng là hình
thức biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất. Đó là những hình thức đặc thù
của sự biểu hiện những mối liên hệ tơng ứng.
Nh vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa
nhận tính tơng đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các loại liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá nh vậy có thể diễn ra hoặc
do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách
quan của chính sự vật và hiện tợng.
Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự
nhiên, trong xã hội và trong t duy con ngời, phép biện chứng duy vật, tập
trung nghiên cứu những loại liên hệ chung, mang tính chất phỏ biến. Những
hình thức và những kiểu liên hệ riêng biệt trong các bộ phận khác nhau của
thế giới là đôí tợng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.
1.2 - Quan điểm toàn diện trong triết học Mác- Lênin
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện t-
ợng, triết học Mác - Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức
Với t cách là một nguyên tắc phơng pháp luận trong việc nhận thức
các sự vật hiện tợng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có đợc nhận thức đúng
đắn về sự vật hiện tợng. Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên
hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính
sự vật, hiện tợng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa
nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). đề cập đến hai nội
dung này, V.I. Lênin viết "muốn thực sự hiểu đợc sự vật, cần phải nhìn bao
5
quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của
sự vật đó".
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức đợc sự vật, cần
phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con ngời. ứng
với mỗi con ngời, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định,
con ngời bao giờ cũng chỉ phản ánh đợc một số lợng hữu hạn những mối
liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt đợc về sự vật cũng chỉ là tơng đối, không đầy
đủ không trọn vẹn. Có ý thức đợc điều này chúng ta mới tránh đợc việc
tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân
lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận thức
đợc sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "cần thiết phải xem
xét tất cả mọi mặt để đè phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng
nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ
nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều
mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang
nhaunhững thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật đợc thể
hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực
đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự
vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển
của sự vật hay hiện tợng đó.
Nh vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét
dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tợng. Nó
đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tợng
đó.
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với
t cách là nguyên tắc phơng pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua
các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để để nhận
6
thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều
mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức
phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật.
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật
nguỵ biện. Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác
nhau nhng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau
thành một hình ảnh không đúng về sự vật. Chủ nghĩa chiết trung không biết
rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt,
kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn
toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn. Thuật nguỵ biện cũng chỉ
chú ý đến những mặt , những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhng lại đa
cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất.
Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác
nhau của phơng pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tợng.
Chơng 2
Vận dụng Quan điểm toàn diện vào sự nghiệp
xây dựng CNXH ở nớc ta
7
2.1-Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ TBCN ở
Việt nam là một tất yếu lịch sử.
Nớc ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu lịch sử
bởi vì:
- Toàn thế giới đã bớc vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Thực
tiễn đã khẳng định CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm
hay muộn cũng phải đợc thay bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ
nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Cho dù hiện nay, với những cố
gắng để thích nghi với tình hình mới, CNTB thế giới vẫn đang có những
thành tựu phát triển nhng vẫn không vợt ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản
của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt
và sâu sắc. CNTB không phải là tơng lai của loài ngời. Quá trình cải biến
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa không phải là quá trình
cải lơng, duy ý chí mà là quá trình cách mạng sôi động trải qua nhiều giai
đoạn phát triển khách quan phù hợp với quy luật của lịch sử. Chủ nghĩa xã
hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và loài ngời tiến
bộ đang vơn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đại diện
lợi ích của những ngời lao động, là hình thái xã hội cao hơn CNTB. Quá trình
cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con ngời, vì sự nghiệp phát
triển tự do và toàn diện của con ngời, vì tiến bộ chung của loài ngời. Đi theo
dòng chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch
sử.
-Cách mạng Việt nam phát triển theo con đờng độc lập dan tộc, gắn
liền với chủ nghĩa xã hội. Tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm 20
của thế kỷ XX. Nhờ đi con đờng ấy, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng
Tám thành công, đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay, chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững đ-
8
ợc độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc, mới thực hiện đựoc mục tiêu làm cho
mọi ngời đợc ấm no, tự do hạnh phúc. Sự lựa chọn con đờng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta nh vậy là sự lựa chọn cuả chính lịch sử
dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó cũng thể hiện sự
quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nớc ta là một tất yếu lịch sử.
Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là; trớc hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát
nạnbần cùng,làm cho mọi ngời có công ăn việc làm, đợc ấm no và sống một
đời hạnh phúc. Quán triệt t tởng cơ bản đócủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong
Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta đã
khẳng định: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã
hội:
-Do nhân dân lao động làm chủ
-Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và
chế đọ công hữu về các t liệu sản xuất chủ yếu.
-Có nền văn hoá tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc
-Con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng
lực, hởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hành phúc, có điều
kiện phát triển cá nhân.
-Các dân tộc trong nớc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng
tiến bộ.
-Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nớc trên thế giới
Mục tiêu của CNXH ở nớc ta là: xây dựng một xã hội dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.
2.2- Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây
dựng CNXH ở Việt nam
9
Để đảm bảo có đợc nhận thức đúng đắn về một vấn đề, chúng ta phải
xem xét vấn đề đó theo quan điểm toàn diện. Điều này có nghĩa là phải
xem xét sự vật, hiện tợng trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các bộ
phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của sự vật, hiện tợng cũng nh
trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đối với các sự vật khác và trong mối
liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con ngời.
Với mục đích có đợc nhận thức đúng đắn, từ đó đề ra những chủ trơng,
chính sách đúng nhằm góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cao cả là
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam cuả nhân dân ta thì trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải có một cái nhìn toàn diện đối với
các nhân tố cuẩ lực lợng sản xuất cũng nh các nhân tố của quan hệ sản xuất
trong mối quan hệ qua lại với nhau một cách biện chứng, không xem nhẹ
hay bỏ qua bất cứ một nhân tố nào, có nh vậy các chủ trơng, chính sách đa
ra mới góp phần vào thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.2.1 Đánh giá những thành tựu và những hạn chế của CNXH trong
thời gian qua
Thực tiễn cho thấy, CNXH trong quá trình hình thành và phát triển đã
đạt đợc những thành tựu về nhiều mặt có ý nghĩa lịch sử to lớn nh:
Một là: Đã xây dựng một hệ thống giá trị riêng của mình, đã phát triển
lực lợng sản xuất, đã xoá bỏ về cơ bản chế độ ngời bóc lột ngời, đã thực
hiện một chế độ phúc lợi xã hội và giáo dục văn hoá quốc tế cho toàn dân.
Hai là: Cứu loài ngời ra khỏi thảm hoạ phát xít, là chỗ dựa cho phong
trào hoà bình và cách mạng thế giới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân,
góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, là những sai lầm và thiếu sót. Đó
là sự vận dụng không đúng đắn, thiếu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào
10
thực tiễn cuộc sống, cũng nh việc chậm tổng kết những bài học từ thực tiễn
xây dựng CNXH để bổ sung phát triển đờng lối, chính sách phát triển lý
luận; Nh vội vã xó bỏ mọi thành phần kinh tế hàng hoá, thực hiện công
nghiệp hoá mà không tính đến hiệu quả của các công trình đợc xây dựng,
coi nhẹ hoặc phủ nhận cuọc đấu tranh giai cấp, thiết chế một nền dân chủ
nặng về hình thức, cha đảm bảo nhân dân lao động thực sự làm chủ mọi mặt
của đời sống xã hội; thực hiện chính sách bao cấp tràn lan, chậm trễ trong
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại; coi nhẹ công tác xây dựng
đảng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.v v
Những khuyết tật mang tính giáo điều, chủ quan duy ý chí, quan liêu
xa rời quần chúng nói trên đã làm cho tính u việt của CNXH lâm vào khủng
hoảng toàn diện.
Nguyên nhân của những khuyết tật trên bao gồm nhiều nguyên nhân
mà một trong những nguyên nhân chính là xa rời hệ t tởng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, vận dụng không đúng đắn sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, trong
đó có nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm toàn diện trong chủ
nghĩa Mác-Lênin. Không xem xét sự việc trong mối liên hệ với sự việc
khác, quá nhấn mạnh coi trong nhiệm vụ này mà xa rời hoặc thậm chí là
phủ nhận mục tiêu khác.v.v
2.2.2 Vận dụng quan điểm toàn diện vào sự nghiệp xây dựng CNXH
ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Đi lên CNXH là con đờng tất yếu của nớc ta. Chúng ta phê phán những
khuyết tật, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH nhng không quan niệm
những lệch lạc đó là khuyết tật của bản thân chế độ, coi khuyết điểm là tất
cả, phủ định thành tựu, từ đó dao động về mục tiêu và con đờng đi lên
CNXH. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu CNXH, mà là làm cho
mục tiêu ấy đợc thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về
CNXH, bằng những hình thức, bớc đi và biện pháp thích hợp.
11
Điều cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ đợc định hớng CNXH và đi đến
thành cônglà trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin. đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.
Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhng phải có bớc đi, hình thức
và cách làm thích hợp. Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu
sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên từng lĩnh vực, nội
dung của đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt; từ đổi mới quan niệm đến đổi
mới cơ chế, chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Nếu
chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới
không thể đạt kết quả mong muốn. Đồng thời trong mỗi bớc đilại phải xác
định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các
khâu khác và lĩnh vực khác.
Về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Kinh tế và chính trị là
hai mặ cốt lõi của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng.
Trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì kinh tế giữ vai trò quyết
định chính trị, vì.
Kinh tế là nội dung vật chất của chính trị, còn chính trị là biểu hiện tập
trung của kinh tế.
Cơ sở kinh tế với tính cách là kết cấu hiện thực sản sinh ra hệ thống
chính trị tơng ứng với quy định hệ thống đó. Nói cách khác, tính chất xã
hội, giai cấp của chính trị bao giờ cũng phản ánh tính chất xã hội và gia cấp
của cơ sở hạ tầng. Từ đó dẫn đến ự biến đổi căn bản của kinh tế lẫn chính
trị.
Sự tác động của chính trị đói với kinh tế: Chính trị đợc biểu hiện tập
trung bằng nhà nớc, có sức mạnh vật chất tơng ứng. Nhà nớc có tác dụng
quyết định năng lực hiện thực hoá những tất yếu kinh tế. Ănghen nói" Bạo
lực ( quyền lực nhà nớc) cũng là một lực lợng kinh tế".
12
Trong công cuộc đổi mới của nớc ta hiện nay, chúng ta chủ chơng tiến
hành đổi mới đồng bộ phải kết hợp ngay từ đầu, đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội. Trong đó, đổi mới kinh tế là
trọng tâm, còn đổi mới chính trị thúc đẩy đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế
chính là đổi mới ở lĩnh vực CSHT, đó là đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ
chế quản lý, phơng thức phân phối, quy trình công nghệ nhằm làm cho
nền kinh tế nớc ta phát triển hoà nhập với trình độ phát triển kinh tế thế
giới.
Đổi mới kinh tế là tiền đề cho đổi mới chính trị, nó tạo ra nền tảng vật
chất cho ổn định về chính trị xã hội, nó làm nảy sinh nhu cầu đổi mới hệ
thống chính trị, làm cho nó năng động và trở thành động lực thực sự của sự
phát triển kinh tế.
Đổi mới chính trị phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới kinh tế, phải phù
hợp với đổi mới kinh tế.
Đổi mới chính trị chính là đổi mới ở bộ phận quan trọng của KTTT, đổi
mới chính trị thể hiện ở đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh
đạo của Đảng, dân chủ hoá trớc hết từ trong Đảng.
Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế
Khi đờng lối chính trị, thiết chế chính trị đợc đổi mới phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hớng cho phát triển kinh
tế. Đồng thời tạo môi trờng phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế
và chính trị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái
do đổi mới kinh tế đa đến.
Một trong những đặc trng cơ bản của CNXH đó là nền kinh tế nhiều
thành phần, trớc đây do nhận thức sai lầm chúng ta đã xó bỏ mọi thành
phần kinh tế, chỉ còn 2 lại thành phần kinh tế là kinh tế nhà nớc và kinh tế
tập thể, thì nay chúng ta phải chủ trơng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần phải đi đôi với vai trò tăng cờng quản lý của nhà nớc về kinh tế-
xã hội.
13
Trớc đại hội VI, chúng ta đã nóng vội và nhất loạt xây dựng QHSX một
thành phần dựa trên cơ sở công hữu XHCN về t liệu sản xuất, làm nh vậy là
chúng ta đã đẩy QHSX đi quá xa so với trình độ phát triển của LLSX tạo ra
mâu thuẫn giữa một bên là LLSX thấp kém với một bên là QHSX đợc xã
hội hoá giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của LLSX làm cho đất nớc
lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội.
Từ đại hội VI đến nay, khắc phục sai lầm trên, chúng ta thực hiện xây
dung nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xuất phát từ tính chất và trình
độ của LLSX nớc ta là đa dạng, không đồng đều và cha cao.
Thực tiễn 15 năm đổi mới đã khẳng định chủ chơng xây dung nền kinh
tế nhiều thành phần là phù họp với phát triển LLSX ở nớc ta. Nó đã thực sự
giải phóng, phát triển, khơi dây các tiềm năng của sản xuất, khơi dậy năng
lực sáng tạo chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất, đa nớc ta ra
khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội.
Việc xây dựng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cũng có nghĩa là
chúng ta chấp nhận đa dạng hoá các hình thức sở hữu để phát triển kinh tế
nớc nhà.
Kết luận
Nớc ta quá độ lên CNXH từ xuất phát điểm rất thấp; nền kinh tế chủ
yếu là sản xuất nhỏ, tự cấzp tự túc, còn ở tình trạng phổ biến của tái sản
xuất giản đơn, lực lợng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, quan hệ
sản xuất yếu kém
Để xây dựng thành công CNXH, đảm bảo mục tiêu dân giàu nớc mạnh
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đòi hỏi chúng ta phải có chủ trơng
đổi mới toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, phải kết hợp đổi mới
kinh tế với đổi mới chính trị. Phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo mọi
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét