Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Chính sách chất lượng của Công ty may Thăng Long là cung cấp các sản phẩm tốt nhất thông qua việc liên tục đổi mới hệ thống quản lý chất lượng nhằm không ngừng nâng cao sự thoả mãn của các bên có liên quan

Từ 1969 đến 1975: Được bộ chủ quản cho phép, tháng 07/1961 công ty chuyển
địa điểm làm việc về số 250 - Minh Khai - Hà Nội, là trụ sở chính của công ty ngày
nay. Địa điểm mới có nhiều thuận lợi, mặt bằng rộng rãi, tổ chức sản xuất ổn định.
Các bộ phận phân tán trước nay thống nhất thành một mỗi tạo thành dây chuyền sản
xuất khép kín hoàn chỉnh, từ khâu nguyên liệu, cắt may, là, đóng gói. Ngày
31/08/1965, Công ty may mặc xuất khẩu đổi tên thành Xí nghiệp may mặc xuất
khẩu. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do chiến tranh và hậu quả chiến tranh, xí nghiệp
(XN) vẫn liên tục đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị mới để luôn nâng cao năng
suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm may mặc xuất khẩu của công ty. XN đã
thay thế máy đạp chân bằng máy may công nghiệp, trang bị thêm máy móc chuyên
dùng như máy thùa, máy đính cúc, máy cắt gọt, máy dùi dấu…Mặt bằng sản xuất
được mở rộng, dây chuyền sản xuất đã lên tới 27 người, năng suất áo sơ mi đạt 9
áo/người/ca. Vì thế tình hình sản xuất những năm 1973 - 1975 đã có những bước tiến
bộ rõ rệt. Tuy nhiên, do có nhiều khó khăn không thể khắc phục dược năm 1972 XN
chỉ đạt 67,7% chỉ tiêu kế hoạch với 2.084.643 sản phẩm.
Năm 1973: giá trị tổng sản lượng đạt 5.696.900 đồng, với tỷ lệ 100,77%, vượt
hơn năm 1972 là 166,7%.
Năm 1974: tổng sản lượng đạt 5.005.608 sản phẩm, giá trị tổng sản lượng
6.596.036 đồng, đạt 102,28%.
Năm 1975: tổng sản lượng lên tới 6.476.926 sản phẩm, đạt 104,36%. Giá trị
tổng sản lượng 7.725.958 đồng, đạt 102,27% so với kế hoạch.
Từ năm 1975 đến 1980: Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mĩ cứu nước đã
mở ra cho dân tộc ta một thời kì mới, thời kì cả nước thống nhất, đi lên CNXH.
Trong thời kì này XN đã tập trung vào một số hoạt động chính sau: Xây dựng nội
quy XN và triển khai thực hiện là một đơn vị thí điểm của toàn ngành may. Trang bị
thêm 84 máy may bằng và 36 máy 2 kim 5 chỉ thay cho 60 máy cũ, 1 máy ép có công
suất lớn. Nghiên cứu chế tạo 500 chi tiết gá lắp làm cữ, gá cho hàng sơ mi, đại tu
máy phát điện 100kw bảo đảm đủ điều kiện sản xuất và chiếu sáng các phân xưởng
làm việc. Nghiên cứu cải tiến dây chuyền áo sơ mi, có sự cộng tác giúp đỡ của các
chuyên gia Liên Xô, nghiên cứu 17 mặt hàng mới, được đưa vào sản xuất 10 loại.
Ngoài ra XN còn thành lập Hội đống sáng kiến khuyến khích công nhân phát huy
5
sáng tạo cải tiến kĩ thuật và đã có 209 sáng kiến. Những thành tựu trên đã góp phần
hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 2.
Năm 1979, XN được Bộ quyết định đổi tên mới là Xí nghiệp may Thăng Long
với ý nghĩa cao đẹp nghìn năm văn hiến cảu Thủ đô, cũng như khát vọng bay cao bay
xa của XN trong tương lai. Sản phẩm của XN, đặc biệt là áo sơ mi xuất khẩu đã được
xuất đi nhiều nước, chủ yếu là Liên Xô cũ và các nước Đông Âu.
Gai đoạn từ 1980 – 1990: Trong thời kì này XN có sự chuyển hướng mạnh mẽ
từ sản xuất hàng mậu dịch xuất khẩu sang sản xuất hàng gia công xuất khẩu. Xác
định rõ những khó khăn ban đầu, phái đối tác đòi hỏi kĩ thuật may gia công khắt khe,
giao hàng đúng, đủ sản phẩm theo hợp đồng. Đề cao phong cách lao động công
nghiệp…Sản phẩm của XN xuất khẩu sang các nước như Liên Xô, Đức, Pháp, Thuỵ
Điển.
Đại hội Đảng lần thứ 6 (12/1986) đề ra 3mục tiêu kinh tế chủ yếu: Lương thực -
Thực phẩm - Hàng tiêu dùng và Hàng xuất khẩu. Phấn đấu thực hiện mục tiêu của
Đại hội, Xí nghiệp may Thăng Long cũng như những XN trong ngành may gặp rất
nhiều khó khăn về biến động giá cả, thiếu thốn nguyên liệu… Khắc phục khó khăn
trên, XN đã chủ động tạo nguồn nguyên liệu qua con đường liên kết với UNIMEX,
nhà máy dệt 8-3 và nhiều đơn vị khác. Khi thiếu nguyên liệu làm hàng xuất khẩu XN
nhanh chóng chuyển sang làm hàng nội địa.
Năm 1986 sản lượng giao nộp của XN đạt 109,12%, sản phẩm xuất khẩu đạt
102,73%.
Năm 1987 tổng sản phẩm giao nộp đạt 108,87%, hàng xuất khẩu đạt 101,77%.
Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: Những năm đầu thập kỉ 90, cơ chế bao cấp
không còn, doanh nghiệp bước vào cơ chế thị trường. Bên cạnh đó tình hình thế giới
có những biến động lớn tác động mạnh mẽ đến nước ta. Liên Xô tan rã, các nước
XHCN như Đông Âu, Đông Đức sụp đổ đã làm cho thị trường của XN có nhiều biến
động lớn. Đứng trước khó khăn đó Đảng uỷ và Ban giám đốc đã đi đến quyết định:
Phải chuyển hướng sản xuất và tìm thị trường mới phải đáp ứng bằng chính chất
lượng của mình. XN đã quyết định đầu tư hơn 20 tỷ đồng thay thế thiết bị cũ trang bị
thêm một số máy móc hiện đại, nâng cao trình độ công nghệ đủ khả năng sản xuất
mặt hàng mới cao cấp, đồng thời phải tổ chức sắp xếp lại sản xuất, cải tiến các mặt
6
quản lý cho phù hợp với yêu cầu mới, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên, XN
không ngừng đẩy mạnh tiếp thị, chủ động tìm kiếm khách hàng, tháo gỡ những khó
khăn về tiêu thụ cũng như mở rộng chủng loại mặt hàng.
Ngày 08/02/1991, XN là đơn vị đầu tiên trong ngành may được nhà nước cấp
giấy phép xuất khẩu trực tiếp, tạo thế chủ động, giảm phiền hà, tiết kiệm chi phí. Tiếp
đến, ngày 04/03/1992 Bộ công nghiệp nhẹ đã kí quyết định chuyển Xí nghiệp may
Thăng Long thành Công ty may Thăng Lông, tên giao dịch là Thang Long Garment
Company (Thaloga), với nhiều nhiệm vụ sản xuất kinh doanh: Gia công hàng may
mặc xuất khẩu, hàng nội địa, gia công hàng thêu mài. Hàng năm, công ty sản xuất từ
8 triệu đến 9 triệu sản phẩm, trong đó hàng xuất khẩu chiếm khoảng 95%, sản phẩm
gia công chiếm từ 80% đến 90%. Năm 1993 công ty thành lập Trung tâm thương mại
và giới thiệu sản phẩm tại 39 - Ngô Quyền - Hà Nội. Năm 1995, công ty thực hiện
phương thức kinh doanh “mua đứt bán đoạn” đạt 21,200 tỷ đồng, chiếm 43,26%
doanh thu. Trong đó giá trị xuất khẩu FOB đạt 13,702 tỷ đồng chiếm 28% doanh thu.
Năm 1996 doanh thu đạt 101% so với kế hoạch.
Năm 1997 công ty vượt kế hoạch 108% với tổng doanh thu 218.306 triệu USD
và đảm bảo thu nhập bình quân 735.745 đồng/người/tháng.
Cho đến nay sau 45 năm phát triển, Công ty may Thăng Long đã có thị trường
ổn định, rộng lớn cả trong nước và trên thế giới. Trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
đẩm bảo có lãi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Thành tích đó đã được ghi
nhận qua những tấm huân, huy chương cao quý:
1 Huân chương Độc lập hạng nhì (2002).
1 Huân chương Độc lập hạng ba (1997).
1 Huân chương Lao động hạng nhất (1988).
1 Huân chương Lao động hạng nhì (1993).
4 Huân chương Lao động hạng ba (1978, 1986, 2000, 2002).
1 Huân chương Chiến công hạng nhất (2000).
1 Huân chương Chiến công hạng nhì (1992).
1 Huân chương Chiến công hạng ba (1996).
Ngoài ra, công ty còn nhận được nhiều bằng khen và giấy khen của Bộ công
nghiệp, UBND Thành phố Hà Nội, Tổng công ty Dệt - May Việt Nam…
7
Năm 2003, công ty tổ chức trọng thể 45 năm thành lập. Nhìn lại chặng đường
đã đi qua tập thể cán bộ công nhân viên của công ty tự hào với truyền thống vẻ vang
của mình. Hiện nay công ty đang mạnh dạn vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau để
mua sắm thiết bị thêm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện đời
sống cán bọ công nhân viên.
II- Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận trực
thuộc:
Công ty may Thăng Long là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, trực
thuộc Tổng công ty Dệt - May Việt Nam nên đã xây dựng một cơ cấu quản lý theo
kiểu trực tuyến chức năng, được tổ chức quản lý theo 2 cấp:
1. Cấp công ty:
Cấp công ty bao gồm: Tổng giám đốc công ty, chịu trách nhiệm quản lý và chỉ
đạo trực tiếp dưới sự hỗ trợ của các Phó tổng giám đốc; Các phòng ban chức năng và
các XN thành viên của công ty (đứng đầu là các trưởng phòng và giám đốc XN) chịu
sự chỉ đạo trực tiếp từ Ban giám đốc. Mỗi phòng có một chức năng, nhiệm vụ vai trò
riêng:
Tổng giám đốc: Tổng giám đốc của Công ty may Thăng Long là ông Lê Văn
Hồng (từ tháng 7/1988 đén nay). Tổng giám đốc có nhiệm vụ chịu trách nhiệm chung
trước Tổng công ty về tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Phó tổng giám đốc điều hành kĩ thuật: có chức năng tham mưu giúp việc cho
Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc thiết lập mỗi quan hệ
với các bạn hàng, với các cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tổ chức nghiên
cứu mẫu hàng và các loại máy móc kĩ thuật, triển khai giấy phép xuất nhập khẩu như:
tham mưu kí kết hợp đồng gia công, xin giấy phép xuất nhập khẩu, tiếp nhận nguyên
phụ liệu, mở tờ khai hải quan, giao cho khách hàng…
8
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
KCS
Phòng
thiết
kế v à
phát
triển
Phòng
chuẩn
bị sản
xuất
Phòng
kế
hoạch
sản
xuất
Phòng
kho
Phòng
cung
ứng
Văn
phòng
Phòng
kế
toán
t i và ụ
Phòng
thị
trường
Phòng
kinh
doanh
nội địa
TTTM
CHTT
&
GTSP
GĐ các xí nghiệp
th nh viênà
PX
thêu
XN 3 XN may
H Namà
XN may
Nam Hải
XN 2
XN 1 XN may
Ho Là ạc
XN Phụ
trợ
PX
m ià
Tổng giám
đốc
P.Tổng giám đốc
ĐHKT
P.Tổng giám đốc
ĐHSX
P.Tổng giám đốc
ĐH Nội chính
9
Sơ đồ 1: Mô hình bộ máy quản lý của Công ty may Thăng Long
10
Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất: có chức năng tham mưu, giúp việc cho
Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc lập và báo cáo tình
hình sản xuất kinh doanh của công ty.
Phó tổng giám đốc điều hành nội chính: có chức năng tham mưu giúp việc cho
Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về việc sắp xếp các công việc
của công ty, có nhiệm vụ trực tiếp điều hành công tác lao động, tiền lương, bảo hiểm,
y tế, tuyển dụng, đạo tạo cán bộ, chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên.
Phòng kĩ thuật: Có nhiệm vụ thiết kế mẫu mã, lập định mức, tiêu chuẩn kĩ
thuật, chịu trách nhiệm về kĩ thuật của quy trình công nghệ.
Phòng KCS: kiểm tra chất lượng sản phẩm, kiểm tra các loại nguyên vật liệu
nhập kho, các bán thành phẩm và thành phẩm.
Phòng thiết kế và phát triển: có nhiệm vụ thiết kế mẫu mã của sản phẩm để từ
đó đưa vào kế hoạch sản xuất.
Phòng chuẩn bị sản xuất: Chức năng của phòng là tổ chức tiếp nhận và vận
chuyể nguyên phụ liệu từ phương tiện vận chuyển xuống kho, đảm bảo số lượng chất
lượng của hàng hoá nhập về. Phòng có trách nhiệm bảo quản hàng hoá có trong kho,
quản lý và tổ chức sắp xếp khoa học hợp lý.
Phòng kế hoạch sản xuất: có chức năng thiết lập các kế hoạch sản xuất dựa trên
nhu cầu các hợp đồng đã ký kết và chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực cung ứng vật
tư kĩ thuật, quản lý vật tư, tiến độ kế hoạch sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ.
Phòng kho: có nhiệm vụ quản lý và cấp phát nguyên vật liệu nhập về công ty.
Phòng kho quản lý và bảo quản các thành phẩm do các XN sản xuất ra và chờ thời
gian giao hàng cho khách hàng.
Phòng cung ứng: chịu trách nhiệm cung ứng nguyên vật liệu đảm bảo phục vụ
đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất của công ty. Phòng có trách nhiệm xây dựng
phương án mua sắm nguyên vật liệu và chịu trách nhiệm đôn đốc, theo dõi đến
nguyên vật liệu về đến kho theo đúng tiến độ, số lượng và chất lượng, giải quyết các
vấn đề khiếu nại có liên quan khi có phát sinh.
Văn phòng: có chức năng, nhiệm vụ giúp đỡ cho Giám đốc nội chính về tổ chức
nhân sự, có nhiệm vụ tuyển dụng, quản lý, bố trí lao động, thực hiện công tác tiền
lương, quản lý và thực hiện công tác hành chính văn thư…
11
Phòng kế hoạch tài vụ: phòng có chức năng chuẩn bị và quản lý nguồn tài chính
phục vụ cho sản xuất kinh doanh và các khoản lương cho các cán bộ công nhân viên
trong công ty. Phòng này quản lý và cung cấp các thông tin về kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, về tài sản của doanh nghiệp trong từng kì, trong năm kế hoạch.
Phòng thị trường: phòng có chức năng, nhiệm vụ giao dịch đàm phán soạn thảo
các hợp đồng, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, năng lực công ty với các quy trình sản
xuất, đề xuất các biện pháp quản lý và giải quyết các phát sinh trong sản xuất nhằm
nâng cao chất lượng sản phẩm.
Phòng kinh doanh nội địa: có chức năng, nhiệm vụ kinh doanh sản phẩm của
công ty trên thị trường nội địa như quảng cáo thương hiệu sản phẩm của công ty, mở
rộng mạng lưới đại lý, cửa hàng. Phòng còn có nhiệm vụ tìm đối tác trong nước,
nghiên cứu thị trường, tìm hiểu mẫu mã phù hợp với thi hiếu trong từng giai đoạn…
Trung tâm thương mại, cửa hàng thời trang và giới thiệu sản phẩm: có chức
năng và nhiệm vụ giới thiệu, bán những sản phẩm may mặc của công ty cho người
tiêu dùng, đồng thời kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau. Đặc biệt là cửa hàng thời
trang của công ty giới thiệu sản phẩm và bán những mẫu thời trang do công ty thiết
kế và sản xuất ra đáp ứng nhu cầu may mặc thời trang đang tăng nhanh của người
tiêu dùng. Ngoài ra, các cửa hàng còn có nhiệm vụ tìm hiểu và cung cấp các thông tin
về nhu cầu, thị hiếu, mẫu mã hợp thời trang, hợp giá cả thị trường trong nước để sản
xuất và tiêu thụ cho phòng kinh doanh nội địa, xây dựng các chiến lượcp, mở rộng
khả năng tiếp cận với thị trường trong nước để tìm khách hàng.
2. Cấp xí nghiệp:
Đứng đầu là các Giám đốc XN. Ngoài ra còn có các tổ trưởng sản xuất, nhân
viên tiền lương thống kê, cấp phát nguyên vật liệu…
- Các XN có nhiệm vụ tổ chức triển khai sản xuất theo đúng kế hoạch của công
ty, chịu trách nhiệmvề tổ chức, quản lý cán bộ công nhân viên, nhà xưởng máy móc
thiết bị, phương tiện sản xuất …chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm.
- XN phụ trợ: gồm 1 phân xưởng thêu, 1 phân xưởng mài có nhiệm vụ thêu mài
ép đối với những sản phẩm cần gia công và trùng tu, đại tu máy móc thiết bị. Ngoài
ra, XN này còn có nhiệm vụ quản lý và cung cấp điện năng, điện nước cho các đơn vị
sản xuất kinh doanh của công ty,xây dựng các kế hoạch dự phòng, thay thế thiết bị…
12
III- Thực trạng kinh doanh của Công ty may Thăng Long:
1. Nguồn lực sản xuất:
Là doanh nghiệp của nhà nước nên vốn của công ty chủ yếu là do nhà nước cấp.
Ngoài ra nguồn vốn của công ty chủ yếu còn được hình thành từ nguồn vốn vay ngân
hàng, vốn góp của các thành viên. Chính vì vậy, vốn của công ty trong những năm
qua tăng đáng kể, trong đó phần lớn là vốn đi vay sở hữu và vốn rót từ Tổng công ty
xuống. Cơ cấu vốn của công ty thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tình hình vốn của công ty:
(đơn vị: 1000đ)
Năm 1999 2000 2001 2002
Tổng nguồn vốn 69.187.623 70.188.969 92.235.812 97.289.341
Vốn cố định 49.123.212 50.536.057 67.332.142 71.994.112
Vốn lưu động 20.064.411 19.652.292 24.903.670 25.295.229
Nguồn vôn chủ sở hữu 17.571.702 19.598.096 29.831.963 30.252.693
Nợ phải trả 51.615.921 50.596.873 62.403.849 67.036.648
(Nguồn: Phòng Kế toán Công ty may Thăng Long)
Qua bảng ta thấy Vốn cố định càng ngày càng tăng từ 49.123.212.000 đồng
(năm 1999) lên 71.994.112.000 đồng (năm 2002). Chứng tỏ công ty chú trọng đầu tư
mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị. Nhìn vào bảng ta cũng
thấy được nguồn vốn đi vay tăng theo từng năm và chiếm tỷ trọng rất lớn so với vốn
chủ sở hữu, năm 1999 vốn vay chiếm 74,60% tổng nguồn vốn, năm 2002 chiếm
68,90%.
Về cơ sở vật chất kĩ thuật: Khi mới thành lập máy móc kĩ thuật của công ty cũ
kĩ, lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém chật chội. Nhưng qua 45 năm phát triển, công ty
đã có một hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật khang trang hiện đại. Giá trị máy móc thiết
bị chiếm hơn 50% tổng số vốn cố định. Đây là điều kiện tốt để cho công ty phát huy
hết công suất.
Về nguồn nhân lực: từ khi thành lập đến nay công ty đã góp phần vào việc giải
quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động. Hiện nay, đội ngũ công nhân viên
của công ty gần 4000 người vì đặc trưng của ngành may mặc nên phần lớn là lực
13
lượng lao động nữ (chiếm 90%). Lực lượng lao động của công ty khá trẻ, nhóm lao
động có độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi chiếm hơn 70% trong tổng số lao động. Trên 90%
lao động quản lý ở các phòng ban có trình độ từ cao đẳng và đại học trở lên, gần 80%
công nhân trực tiếp sản xuất học hết lớp 12, không có công nhân có trình độ cấp 1.
Trình độ tay nghề bình quân của công nhân là bậc 3/6. Thu nhập bình quân của cán
bộ công nhân viên toàn công ty hiện nay là 1.100.000 đồng.
Bảng 2: Tình hình lao động của công ty:
(đơn vị: 1000 đồng/người/tháng)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Số lao động 2.000 1.996 2.000 2.165 2.350 2.956
Thu nhập BQ 735 835 920 1.000 1.100 1.100
(Nguồn: Ban tổ chức hành chính Công ty may Thăng Long)
Biểu đồ mô tả số lượng lao động và thu nhập bình quân của lao động:
Ngày nay Công ty may Thăng Long là đơn vị thành viên trực thuộc Tổng công
ty Dệt-May Việt Nam, gồm 7 XN thành viên nằm tại các khu vực: Hà Nội, Hà Nam,
Nam Định, Hoà Lạc với 98 dây chuyền sản xuất hiện đại và gần 4000 cán bộ công
nhân viên. Năng lực sản xuất đạ trên 12 triệu sản phẩm các loại/năm. Tốc độ tăng
trưởng bình quân 5 năm đạt 120%.
2. Về thị trường:
Từ khi thành lập công ty đã cố gắng tìm kiếm thị trường. Thi trường xuất khẩu
là một điểm mạnh của công ty. Nhờ chính sách mở cửa của nhà nước mà công ty đề
ra chiến lược mở rộng thị trường, đa dạng hoá mặt hàng, sản phẩm phù hợp với thị
hiếu của từng khu vực, từng quốc gia trên thế giới làm tăng sản phẩm xuất khẩu.
Hiện nay công ty đã có quan hệ với trên 40 nước trên thế giới, trong đó có những thị
trường mạnh đầy tiềm năng như: EU, Đông Âu, Nhật Bản, Mỹ…Song song với việc
sản xuất các mặt hàng “mũi nhọn” phục vụ cho xuất khẩu, trong quá trình sản xuất
14

0

500

1000

1500

2000

2500

3000

3500

N¨m

1997

N¨m

1998

N¨m

1999

N¨m

2000

N¨m

2001

N¨m

2002

Sè lao ®éng (ng­êi)

TNBQ

(1000®ång/ng­êi/th¸ng)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét