Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Luận văn: Đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện tử Hà Nội. Thực trạng và giải pháp ppt


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Luận văn: Đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện tử Hà Nội. Thực trạng và giải pháp ppt": http://123doc.vn/document/1039618-tai-lieu-luan-van-dau-tu-phat-trien-nganh-cong-nghiep-dien-tu-ha-noi-thuc-trang-va-giai-phap-ppt.htm



5
2- Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư
khác là
Thứ nhất: Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê
động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Tiền, vật tư, lao động cần huy động cho
một công cuộc đầu tư là rất lớn và phải sau một thời gian khá dài thực hiện đầu tư
chúng mới phát huy tác dụng.
Thứ hai: Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành
quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động
xảy ra.
Thứ ba: Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng
và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế.
Thứ tư: Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu
dài, nhiều năm tháng, có khi hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các
công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới như kim tự tháp Ai Cập, Vạn Lý Trường
Thành ở Trung Quốc, Ăngco Vat ở Campuchia… Điều này nói lên giá trị to lớn của
các thành quả đầu tư phát triển
Thứ năm: Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây
dựng sẽ hoạt động ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện về địa
hình, thời tiết tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác
dụng sau này của các kết quả đầu tư. Thí dụ: Quy mô đầu tư để xây dựng nhà máy
sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than tuỳ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của
mỏ. Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy sàng tuyển than cũng không
nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với số năm tồn
tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án. Đối với nhà máy thuỷ điện, công suất phát
điện tuỳ thuộc nhiều vào nguồn nước nơi xây dựng công trình. Sự cung cấp điện đều
đặn, thường xuyên phụ thuộc nhiều vào tính ổn định của nguồn nước. Không thể di
chuyển nhà máy thuỷ điện như di chuyển những máy tháo rời do các nhà máy sản
xuất ra từ địa điểm này đến địa điểm khác. Việc xây dựng các nhà máy ở nơi địa
chất không ổn định sẽ không đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động sau này, thậm
chí cả trong quá trình xây dựng công trình.

6
Thứ sáu: Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh
hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của
không gian.
Do đó, để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội
cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị.
II- ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ
1.Khái quát về ngành CNĐT
1.1– Khái niệm công nghiệp điện tử
Điện tử – viễn thông – công nghệ thông tin là 3 lĩnh vực công nghiệp riêng biệt
nhưng lại có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau và thường được nghiên cứu,
đánh giá dưới góc độ như một ngành công nghiệp chung – công nghiệp điện tử.
Như vậy, công nghiệp điện tử được xác định là ngành công nghiệp sản xuất thiết
bị (điện dân dụng, điện tử công nghiệp và chuyên dụng, công nghệ thông tin, viễn
thông); sản xuất vật liệu, linh phụ kiện điện tử, các sản phẩm phần mềm; các dịch vụ
(tin học, điện tử công nghiệp và chuyên dụng, viễn thông).
1.2- Đặc điểm của ngành CNĐT
- Đặc điểm về công nghệ: CNĐT là ngành có công nghệ phát triển với tốc độ
rất nhanh. Công nghệ điện tử là động lực thúc đẩy và phát huy tác dụng của nhiều
công nghệ khác, kéo theo những biến đổi mang tính dây chuyền, vì vậy được coi là
công nghệ cơ sở của xã hội hiện đại. Không có công nghệ điện tử sẽ không có công
nghiệp hoá ở trình độ hiện nay. CNĐT luôn gắn liền với cách mạng khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ cao. Ngành công nghiệp này cần lượng vốn rất lớn để
đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất, thiết kế sản phẩm, nghiên cứu – triển khai và đổi
mới công nghệ nên hầu hết các sản phẩm điện tử nổi tiếng trên thế giới đều thuộc về
các công ty, tập đoàn sản xuất mạnh về công nghệ (Sony, LG, Fujitsu, Toshiba,
Masushita…).
- Đặc điểm về sản phẩm: Sản phẩm của ngành CNĐT có hàm lượng chất xám
cao, cơ cấu sản phẩm luôn thay đổi, giá trị phần mềm và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao.
Chu kỳ sống của sản phẩm CNĐT ngày càng rút ngắn do tốc độ phát triển của công
nghệ.

7
- Đặc điểm về thị trường: Các tập đoàn, các hãng điện tử lớn luôn cạnh tranh
gay gắt trong việc chiếm lĩnh thị trường, đồng thời lại phải liên kết, hợp tác với nhau
để lập nên mạng lưới sản xuất, kinh doanh trên phạm vi thế giới.
1.3 – Phân loại sản phẩm công nghiệp điện tử
Các sản phẩm CNĐT được phân loại theo nhiều cách khác nhau, thông
thường chúng được phân thành:
- Thiết bị điện tử dân dụng: Là các thiết bị điện tử được sử dụng trong đời sống
sinh hoạt gia đình như: radio, máy thu hình, radio cassette, đầu video, đầu CD,
VCD, DVD…
- Thiết bị điện tử công nghiệp và chuyên dụng: Là các thiết bị điện tử dùng cho
các ngành công nghiệp, giao thông – vận tải, y tế, hải quan, văn hoá, giáo dục, an
ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học…
- Thiết bị công nghệ thông tin (CNTT): Bao gồm các loại máy tính, thiết bị
mạng, thiết bị ngoại vi…
- Thiết bị viễn thông: Là tất cả các thiết bị điện tử dùng để phục vụ liên lạc, trao
đổi, truyền tin…
- Phần mềm: Bao gồm tất cả các loại phần mềm hệ thống, phần mềm nhúng,
phần mềm ứng dụng…sử dụng trong các loại máy tính, máy móc chuyên dụng, thiết
bị viễn thông, thiết bị điện tử dân dụng…
- Thiết bị công nghệ CNĐT thuộc công nghiệp chế tạo máy công cụ cho CNĐT
Ngoài ra, theo giác độ của các nhà sản xuất còn có thể phân loại như sau:
- Vật liệu điện tử: Gồm vật liệu bán dẫn, vật liệu quang tử, vật liệu gốm, vật liệu
kim loại hay hợp kim, vật liệu polyme, vật liệu hữu cơ
- Linh kiện và cấu kiện điện tử: Gồm linh kiện thụ động, linh kiện tích cực, các
loại mạch tích hợp (IC), linh phụ kiện có liên quan nhiều đến cơ khí, nhựa và các
ngành công nghiệp khác, đèn hình, các bộ hiển thị, các bảng mạch điện tử…
- Các thiết bị phần cứng điện tử, tin học viễn thông.
- Các phần mềm bao gồm phần mềm nhúng, phần mềm hỗ trợ thiết kế, phần
mềm hỗ trợ quản lý, các phần mềm tiện ích, các phần mềm giải trí, phần mềm hỗ trợ
giáo dục, đào tạo, y tế…

8
2. Đặc thù của hoạt động đầu tư phát triển ngành CNĐT
Từ đặc điểm ngành CNĐT đã nêu ở trên, chúng ta có đặc thù của hoạt động đầu
tư phát triển ngành CNĐT như sau:
Thứ nhất: Vốn đầu tư cho phát triển ngành CNĐT thường rất lớn, tỷ lệ lãi cao,
thời gian thu hồi vốn nhanh và không bị hạn chế phát triển như một số ngành khác.
Do vậy, đầu tư phát triển ngành CNĐT là hoạt động đầu tư trọng điểm của hầu hết
các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển.
Thứ hai: Tốc độ các hoạt động đầu tư trong ngành CNĐT thường thường diễn
ra rất nhanh chóng. Điều này là do cơ cấu sản phẩm CNĐT luôn thay đổi và chu kỳ
sống của các sản phẩm CNĐT ngày càng rút ngắn.
Thứ ba: Trong cơ cấu vốn đầu tư cho phát triển ngành CNĐT thì vốn đầu tư cho
thiết bị công nghệ thường chiếm một tỷ lệ rất lớn, khoảng từ 50-60% tổng vốn đầu
tư dành cho phát triển ngành.
Thứ tư: Song song với việc đầu tư phát triển sản xuất sản phẩm CNĐT, phải
tiến hành đầu tư phát triển các ngành sản xuất phụ trợ như sản xuất nhựa, xốp…
Thứ năm: Vốn đầu tư dành cho hoạt động thu hút, đào tạo và nâng cao trình độ,
tay nghề cho người lao động, cho thiết kế sản phẩm, nghiên cứu triển khai… thường
chiếm một phần đáng kể trong vốn đầu tư phát triển ngành.
3.Sự cần thiết phải đầu tư phát triển ngành CNĐT
CNĐT là ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân của nhiều
nước trên thế giới. CNĐT đặc biệt là CNTT đang thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển
của nhiều ngành kinh tế khác, trở thành cơ sở nền tảng trong các lĩnh vực kinh tế –
an ninh – quốc phòng của mọi quốc gia.
CNĐT được coi là một trong những ngành công nghiệp có tính cạnh tranh cao
và góp phần rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế. Nó ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh
tế toàn cầu, tác động mạnh đến nhiều lĩnh vực như sản xuất chế tạo, tài chính ngân
hàng, thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục, vận tải, môi trường…Có thể coi CNĐT và
CNTT là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai và mang tính toàn cầu hoá. Do
vậy, hầu hết các nước công nghiệp phát triển và phần lớn những nước đang phát
triển đều có những chính sách quốc gia nhằm phát triển CNĐT; trong đó phải kể
đến các nước đi đầu như Mỹ, EU, Nhật Bản và những nước áp dụng thành công như
NiCs, ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ…

9
Ngành CNĐT đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; tiếp thu nhanh
những tiến bộ trong khoa học – công nghệ – kỹ thuật; hiệu quả mang lại cao, giá trị
gia tăng lớn và không bị hạn chế phát triển như một số ngành khác. Sự phát triển
của CNĐT thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, kéo theo sự phát triển của các ngành
công nghiệp và dịch vụ khác, tạo cơ sở thu hút lao động, giải quyết việc làm. Theo
đánh giá chung về 20 nhóm ngành công nghiệp trên thế giới thì CNĐT đứng đầu về
thu hút lao động, đứng thứ hai về doanh thu trên vốn (sau ngành luyện kim), đứng
thứ ba về doanh thu tuyệt đối (sau ngành lọc dầu và ô tô). Ngoài ra, CNĐT cũng
chính là ngành tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời
là một ngành sản xuất chủ lực trong nền kinh tế tri thức.
Sự phát triển của ngành CNĐT ở các nước còn góp phần quan trọng trong GDP
và tổng sản lượng của ngành chế tạo. Điều này thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Tỷ lệ sản phẩm điện tử trong tổng sản lượng ngành chế tạo
và GDP của một số nước (%)

Nước Trong tổng sản lượng ngành chế tạo Trong GDP
1975 1990 2001 1975 1990 2002
Nhật Bản 9,3 17,5 22,0 2,3 6,2 7,0
Hàn Quốc 9,7 12,0 25,0 2,1 3,0 7,0
Đài Loan 11,6 14,6 20,0 2,1 6,2 7,0
Đức 11,0 13,7 15,0 3,7 4,5 5,0
Mỹ 8,1 11,1 15,0 1,8 2,5 3,3
Anh 8,3 9,9 12,0 2,2 2,2 2,9
Pháp 8,0 7,6 11,0 2,1 2,0 2,8
Italia 8,9 9,7 11,0 2,5 2,6 2,9
Nguồn : The World Bank, 2002

So sánh năm 2002 với năm 1975, tỷ lệ sản phẩm điện tử trong công nghiệp chế
tạo ở Mỹ tăng từ 8,1% lên 15%, Nhật Bản từ 9,3% lên 22%, Hàn Quốc từ 9,7 lên
25%, Đài Loan từ 11% lên 20%. Ngày nay, Mỹ đang dẫn đầu thế giới trong việc sử
dụng máy tính các nhân với tỷ lệ 37,6% dân số, trong khi Nhật Bản là 7,26% và
Đức là 5,26%. Điều đó cho thấy các nước đều nhận thức CNĐT là một ngành công
nghiệp chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mình.
Riêng đối với các nước đang phát triển, sự phát triển của ngành CNĐT có một
vai trò rất quan trọng bởi vì:

10
- Góp phần thúc đẩy sự tham gia của các nước này vào quá trình toàn cầu hoá
sản xuất và thương mại. Nó góp phần làm tăng dung lượng thông tin trong các hoạt
động kinh tế, linh hoạt hoá các giao dịch kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng
cao hiệu quả trong quản lý sản xuất, kinh doanh, tạo nên sự chuyên môn hoá và mở
rộng quy mô kinh tế;
- Làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc chuyển đổi các
ngành công nghiệp sản xuất hàng hoá thông thường sang sản xuất các sản phẩm
công nghiệp có hàm lượng chất xám cao.
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm những tác động xấu đến môi
trường trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá.
4– Nội dung đầu tư phát triển ngành CNĐT
4.1 - Đầu tư vào máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, cơ sở hạ tầng
Đầu tư vào tài sản cố định đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động của các
ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp điện tử nói riêng bởi hai lý do
sau:
Thứ nhất, chi phí cho các hạng mục chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vốn đầu tư.
Thứ hai, nó là bộ phận cơ bản tạo ra sản phẩm – hoạt động chính của mỗi ngành.
Như vậy, hoạt động đầu tư vào tài sản cố định đóng vai trò cực kỳ quan trọng nếu
không nói là quyết định đối với phần lợi nhuận thu được của ngành. Các hãng
thường tăng cường thêm tài sản cố định khi họ thấy trước được những cơ hội có lợi
để mở rộng sản xuất, hoặc vì họ có thể giảm bớt chi phí bằng cách chuyển sang
những phương pháp sản xuất dùng nhiều vốn hơn.
Ta đi xem xét đầu tư vào cơ sở hạ tầng xây dựng. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
là một trong những hoạt động được thực hiện đầu tiên của mỗi công cuộc đầu tư (trừ
trường hợp đầu tư chiều sâu). Hoạt động đó bao gồm các hạng mục xây dựng nhằm
tạo điều kiện và đảm bảo cho dây chuyền thiết bị sản xuất, công nhân hoạt động
được thuận lợi an toàn.
Để thực hiện tốt các hạng mục này, trước tiên phải tính đến các điều kiện thuận
lợi, khó khăn của vị trí địa lý, địa hình, địa chất…đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu
về đặc tính kỹ thuật của máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất, cách tổ
chức điều hành, nhu cầu dự trữ, số lượng công nhân…Các hạng mục được chia
thành các nhóm cơ bản sau:

11
- Các phân xưởng sản xuất chính, phụ.
- Hệ thống điện.
- Hệ thống nước
- Hệ thống giao thông, bến đỗ, bốc dỡ hàng
- Hệ thống thắp sáng, điều hoà không khí
- Văn phòng, phòng học, tường rào
- Nhà ăn, khu giải trí, vệ sinh
- Hệ thống sử lý chất thải và bảo vệ môi trường
- Hệ thống thông tin liên lạc
Đối với mỗi hạng mục công trình, phải xem xét, cân nhắc và quyết định : diện
tích xây dựng, đặc điểm kiến trúc (bê tông cốt thép, gạch, khung thép…), kích thước
và chi phí…
Về mặt chi phí: thông thường để tính toán chi phí xây dựng, người ta dựa trên
chi phí một đơn vị xây dựng, từ đó tính cho toàn bộ diện tích của hạng mục.
CFi = Pi * Si
Trong đó: CFi là chi phí xây dựng của hạng mục i
Pi là giá thành một đơn vị diện tích của hạng mục i
Si là diện tích xây dựng của hạng mục i
Khi đó, tổng chi phí toàn bộ hạng mục xây dựng là:
CF =  CFi, i = 1,n
Riêng hệ thống điện nước và các bộ phận khác có tỷ lệ máy móc thiết bị lớn thì
tính theo giá thành của máy móc thiết bị cùng với các chi phí phụ khác.
Cùng với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, ngành CNĐT còn phải dành một số
lượng vốn cực lớn cho đầu tư vào máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ. Trong
điều kiện ngày nay với sự phát triển chóng mặt của khoa học công nghệ đặc biệt
trong lĩnh vực công nghiệp điện tử thì việc lựa chọn đầu tư vào loại máy móc công
nghệ nào phải được thực hiện dựa trên các nguyên tắc, tiêu chuẩn sau:
- Việc đầu tư đó phải cho phép sản xuất ra các sản phẩm có tính cạnh
tranh cao
- Việc đầu tư phải cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các lợi thế
so sánh của doanh nghiệp, ngành, của vùng.

12
- Giá cả và trình độ công nghệ phải phù hợp với xu thế phát triển và năng
lực của doanh nghiệp ngành đó.
Máy móc thiết bị được liệt kê và sắp xếp thành các nhóm sau:
- Máy móc thiết bị chính trực tiếp sản xuất
- Thiết bị phụ trợ
- Thiết bị vận chuyển, bốc xếp, băng chuyền
- Máy móc và thiết bị đo lường, kiểm tra chất lượng
- Thiết bị an toàn, bảo hộ lao động
- Các loại xe đưa đón công nhân, xe con, xe tải
Về mặt chi phí, giá của máy móc thiết bị là một phạm trù cụ thể nhưng lại rất
khó xác định bởi có nhiều thành phần, đó là chi phí sản xuất, chi phí mua bằng sáng
chế, bí quyết kỹ thuật, tên hiệu thương mại, chi phí huấn luyện chuyên môn, chi phí
lắp đặt, vận chuyển…Phần khó xác định nhất là chi phí bằng sáng chế, bí quyết kỹ
thuật. Hơn nữa, chẳng có ý nghĩa gì khi mua được máy móc thiết bị giá rẻ nhưng
đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì không hiệu quả. Chính vì vậy, khi mua
sắm trang bị máy móc thiết bị đòi hỏi phải có sự am hiểu nhất định về lĩnh vực công
nghệ. Để có thể mua được thiết bị như mong muốn, thông thường các doanh nghiệp
dùng phương thức đấu thầu.
4.2- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định và thể hiện trình độ văn minh của nền
sản xuất xã hội. Mác đã từng nói: “Trình độ sản xuất của một nền kinh tế không
phải ở chỗ xã hội đó sản xuất ra cái gì mà là xã hội đó dùng cái gì để sản xuất”.
Cùng với việc đề cao vai trò của lực lượng sản xuất, Lênin khẳng định: “Lực lượng
sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân và người lao động”.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm cho xã hội, người lao động
không những là một yếu tố của quá trình đó mà còn là yếu tố quan trọng, tác động
có tính chất quyết định vào việc phát huy đồng bộ và có hiệu quả các yếu tố khác.
Nếu chúng ta có nhà xưởng, có nguyên vật liệu, có máy móc thiết bị nhưng thiếu
bàn tay công nghệ người thì chúng ta cũng không thể có sản phẩm cung cấp cho xã
hội. Như vậy, nguồn lực lao động là một tài sản quý giá của mỗi doanh nghiệp, đặc
biệt là đối với các doanh nghiệp điện tử. Do vậy, trong quá trình phát triển, mỗi

13
doanh nghiệp phải phát huy được hiệu quả nguồn nhân lực của mình, đồng thời ngày
càng nâng cao chất lượng cũng như số lượng nguồn nhân lực của mình.
Hoạt động quản lý nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động tuyển
dụng, đào tạo, sử dụng, đào tạo lại, đào tạo nâng cao…Các hoạt động này có thể
xen kẽ hay tách biệt, có thể trước, có thể sau tuỳ theo đặc điểm và quy mô của
doanh nghiệp.
Thứ nhất, công tác tuyển dụng. Công việc này không đòi hỏi nhiều chi phí (vì
thông thường chi phí này do người tham gia tuyển dụng bỏ ra) nhưng lại đòi hỏi
khâu chuẩn bị hết sức chu đáo, tỉ mỉ bởi mức độ ảnh hưởng của nó đến hoạt động
tương lai của doanh nghiệp; việc chuẩn bị từ thông báo tuyển dụng, ấn định các tiêu
chuẩn tuyển dụng và lựa chọn các phương thức phụ trợ cho việc tuyển dụng (dùng
khoa triết tự, thi trắc nghiệm, thử thách chuyên môn…), lựa chọn ban tham mưu
tuyển dụng…Đối với một số doanh nghiệp có quy mô lớn, họ tuyển dụng các thanh
niên có kết quả tổng quát tốt và cho các thanh niên này làm 2 hay 3 năm ở các bộ
phận khác nhau để giúp họ thành thạo với guồng máy của doanh nghiệp trước khi
chính thức bổ nhiệm vào chuyên ngành chỉ định.
Thứ hai, công tác sử dụng. Đây là hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp biết sử dụng đúng người, đúng
việc, phát huy hết khả năng của người lao động thì chắn chắn đem lại hiệu quả tốt.
Ngược lại, doanh nghiệp sẽ không phát huy được lợi thế về nguồn nhân lực, thậm
chí lại chịu tác dụng ngược chiều đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Công tác này đòi hỏi ban lãnh đạo phải nắm sâu, sát năng lực các
nhân viên để có thể tạo môi trường thuận lợi cho họ phát huy tốt khả năng của mình
và góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp. Ở đây cách nhìn của ban lãnh đạo
được đánh giá rất cao.
Thứ ba, công tác đào tạo. Đây là một trong những hoạt động quan trọng nhất
của hoạt động đầu tư nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Đào tạo quyết định phẩm
chất chính trị, năng lực quản lý, trình độ tay nghề của người lao động. Đào tạo của
doanh nghiệp có thể chọn cách đào tạo bên ngoài do các tổ chức chuyển về, đào tạo
đảm trách hay tổ chức các khoá đào tạo nội bộ. Về đối tượng đào tạo được chia
thành ba đối tượng:
- Đào tạo lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ chuuyên môn

14
- Đào tạo đội ngũ cán bộ ngiên cứu khoa học công nghệ
- Đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân
Có thể nói, lực lượng quản lý trong doanh nghiệp không đông về mặt số lượng
nhưng lại có tính chất quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp. Trước đây, một
quan niệm đã ăn sâu vào trong xã hội đó là cán bộ quản lý là người đi lên từ công
nhân, người lao động. Chỉ những người có tích luỹ kinh nghiệm thì mới quản lý
được. Quản lý khi đó không được coi là một nghề. Đó là quan niệm hết sức lỗi thời,
đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường, người quản lý trong mỗi doanh nghiệp không chỉ
thực hiện những công việc “thành tên” mà còn phải năng động, sáng tạo trong những
công việc, những tình huống khó khăn, nhạy cảm. Do đó nếu người quản lý không
học tập, không nâng cao nhận thức, trình độ của mình thì khó có thể đứng vững và
đi lên trong nền kinh tế thị trường. Việc đầu tư cho đào tạo cán bộ quản lý thông
qua các chi phí cho việc tham gia hội thảo, tham gia thực tế, đào tạo ngắn hạn, dài
hạn, nghiệp vụ quản lý…Đây là những chi phí không lớn nhưng hết sức quan trọng.
Đào tạo cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học: Với việc khoa học phát triển
như vũ bão, các doanh nghiệp cần phải thích nghi với điều kiện mới để có thể cạnh
tranh và vươn lên. Việc đầu tư cho cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học là một
trong những nhiệm vụ vô cùng cấp bách đặc biệt là đối với các doanh nghiệp CNĐT
trong điều kiện hiện nay. Họ sẽ là người đem lại tri thức mới và đưa tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần cực kỳ quan trọng cho sự
lớn mạnh không ngừng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên bỏ ra một phần thích
đáng trong lợi nhuận của mình để đầu tư cho hoạt động này.
Đào tạo tay nghề cho công nhân. Đây là lực lượng chịu ảnh hưởng mạnh của
công tác đào tạo cả về chất lượng lẫn số lượng. Đào tạo công nhân có thể diễn ra ở
trường đào tạo, cũng có thể đào tạo ngay khi lao động sản xuất. Trong giai đoạn có
sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ và sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay
đòi hỏi tay nghề của người công nhân phải vững và kịp thời thích ứng được với sự
phát triển của khoa học. Điều đó đòi hỏi quá trình đào tạo lại, đào tạo nâng cao tay
nghề của công nhân là tất yếu khách quan.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét