Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Tài liệu Luận văn: Chính sách Tiền tệ với mục tiêu ổn định giá cả pptx

4

Nếu cố định MS: tổng sản lượng quốc dân sẽ biến động từ Y’
M
đến
Y”
M
.

Nếu cố định i
* :
mọi biến động của mức cầu tiền sẽ dẫn đến những biến
động tương ứng của mức cung tiền nhằm duy trì mức lãi suất cố định, do đó
LM luôn cố định tại vị trí của nó, mức sản lượng vì thế cố định tại Y
*
 Việc lựa chọn lãi suất làm mục tiêu trung gian sẽ thích hợp hơn.
2.3 Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ :
- Là mục tiêu do ngân hàng trung ương lựa chọn nhằm đạt được mục
tiêu trung gian. Nó có phản ứng tức thời với những thay đổi trong sử dụng
công cụ của CSTT
- Tiêu chuẩn lựa chọn :
• Có mối quan hệ mật thiết với mục
tiêu trung gian.
• NHTW có thể đo lường được
• chịu sự tác động của công cụ gián
tiếp
- Các chỉ tiêu thường được lựa chọn
• Về lượng : lượng tiền trung ương
MB, dự trữ của các ngân hàng trung gian
R ( Việt Nam chọn dự trữ của các ngân
hàng thương mại)
• Về giá: lãi suất liên ngân hàng, lãi
suất chiết khấu, lãi suất thị trường mở, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tín
phiếu kho bạc.
3.Các công cụ của CSTT
3.1 Công cụ gián tiếp
a. Nghiệp vụ thị trường mở
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện
trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền
cung ứng.
Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ sở
tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi). Nếu thị
trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổi
lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ
làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông(C).
Ưu điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một
công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng chứng
4
khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn
kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế.
Nhược điểm: vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ
thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ
này hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị
trường vốn.
b. Dự trữ bắt buộc
Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phải giữ lại, do
NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để đầu
tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só
tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ
thống ngân hang.
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp
đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các
NHTM. Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay
của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm
cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng).
Ưu điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên giúp
NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của
nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là
ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền).
Nhược điểm: tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó
rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động
kinh doanh của các NHTM.
c. Chính sách tái chiết khấu:
Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối
với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi
suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết
khấu (cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế
(khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho
vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh
tế giảm (tăng). Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu
của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ
biến để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp
vụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM.
Ưu điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là
người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn
4
trong thanh toán, và có thế kiểm soát được hoạt động tín dụng của các
NHTM đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với
nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.
Nhược điểm: hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho
vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo
mó, sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường.
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung
ứng, trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả các công cụ này
thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác. Tuy vậy trong những
điều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế quá
nóng ) thì để đạt được mục tiêu của mình, NHTW có thể sử dụng các công
cụ điều tiết trực tiếp.
3.2 Công cụ trực tiếp
a. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM
không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (một
năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình. Việc định ra
hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô (tốc độ tăng trưởng ,lạm phát tiêu thụ ) sau đó NHTW sẽ phân bổ cho
các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy
định.
Cơ chế tác động :Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho
nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của NHTM.
Ưu điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi
các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất
cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của
nền kinh tế .
Nhược điểm: có thể triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm
giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức
tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi
nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên .
b. Quản lý lãi suất của các NHTM:
Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn định một trần lãi suất
cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh
hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản
lý mức cung tiền của mình.
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm
cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.
4
Ưu điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều
kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.
Nhược điểm: dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì
thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ
chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế. Mặt khác việc thay đổi quy
định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt
động kinh doanh của mình.
Phần 2: Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn
hiên nay với mục tiêu ổn định giá cả
1. Nhìn lại tình hình chung của giá cả trong năm 2008 cho tới nay
a)Sự bất thường trong diễn biến giá cả hàng hóa năm 2008


Tháng
1
Tháng
2
Tháng
3
Tháng
4
Tháng
5
Tháng
6
Tháng
7
Tháng
8
Tháng
9
Tháng
10
Tháng
11
Tháng
12
Chỉ số giá
tiêu dùng 102.4 106.0 109.2 111.6 116.0 118.4 119.8 121.7 121.9 121.6 120.7 119.9
Lương thực,
thực phẩm 103.8 110.2 114.5 118.0 126.6 130.7 132.0 132.7 132.7 132.1 132.0 131.9
Lương
thực 103.4 106.7 117.9 125.1 152.9 159.4 158.9 157.1 154.4 151.4 146.7 143.3
Thực
phẩm 103.8 111.6 113.1 115.6 118.2 121.8 123.5 124.1 124.4 124.4 125.6 126.5
Đồ uống và 101.8 103.7 104.4 105.1 107.1 108.2 109.3 110.0 110.6 111.3 112.3 113.1
4
thuốc lá
May mặc,
giày dép, mũ
nón 101.4 102.8 103.7 104.7 105.7 106.7 108.2 109.2 110.1 110.8 111.8 112.9
Nhà ở và vật
liệu xây dựng 102.9 104.3 108.0 110.8 112.2 114.3 116.3 118.8 118.0 116.8 111.1 108.5
Thiết bị và đồ
dùng gia đình 100.9 101.6 103.1 104.1 105.1 106.4 108.0 109.2 110.5 111.3 112.0 112.7
Dược phẩm, y
tế 100.7 101.1 101.9 102.7 103.2 103.9 106.0 107.3 108.1 108.8 109.1 109.4
Phương tiện
đi lại,bưu điện 100.0 101.5 107.3 109.8 110.2 110.6 111.2 121.3 120.7 119.6 114.3 106.6
Giáo dục 100.2 100.3 100.6 101.0 101.4 102.1 103.2 104.4 105.8 106.6 106.7 106.9
Văn hoá, thể
thao, giải trí 100.1 102.4 103.7 104.3 104.9 105.3 106.2 107.3 108.9 109.3 109.6 110.3
Hàng hoá và
dịch vụ khác 102.6 106.1 106.2 106.8 107.1 108.1 109.4 110.4 110.8 111.7 112.1 113.0
Chỉ số giá
vàng 105.1 111.3 118.5 115.9 111.4 116.3 120.0 116.4 109.0 112.5 106.0 106.8
Chỉ số giá đô
la Mỹ 99.7 99.6 98.1 99.3 100.3 105.0 106.9 103.8 103.0 103.0 105.1 106.3
Năm 2008 là năm giá cả biến động bất thường ở mức cao, chia thành hai
giai đoạn rõ rệt với sáu tháng đầu năm tăng rất cao, sáu tháng cuối năm thì
dịu dần ở quý 3, và 3 tháng cuối năm giảm, đạt dưới 100%.
Diễn biến giá của năm vừa qua có sự nối tiếp của năm 2007, mức tăng
cao của nửa đầu năm 2008 đã có đà từ 6 tháng cuối năm trước đó. Trong 2
quý cuối năm 2007, chỉ số giá tăng trung bình khoảng 1,14%/tháng. Như
chúng ta đã biết, việc tăng chỉ số giá mạnh vào cuối năm 2007 đã đẩy CPI
năm này lên 12,63%.
Đà tăng vẫn tiếp tục kéo sang đến năm 2008, mặc dù đã có một số biện
pháp để cố gắng kìm hãm như thắt chặt tiền tệ Trong 6 tháng này, bình
quân chỉ số CPI tăng 2,86%/tháng. Đây là tốc độ tăng bình quân cực cao.
Trong cả chục năm mới có chuyện tăng như vậy. Trước đây, bình quân mỗi
tháng chỉ trên 1% đã là cao rồi.
Như thế thì qua 6 tháng, chỉ số giá đã lên đến hơn 18%, nếu so với tháng
12 năm 2007. Khi đó, nhiều lo ngại đã nảy sinh và có những ý kiến cho rằng
chỉ số giá cả năm 2008 sẽ lên đến 30%. Theo quy luật thì tháng 2 tăng rất
cao, sau đó đến tháng 3 thì chỉ số giá giảm tốc, hoặc âm, đến tháng 4, tháng
5 bằng bằng, hoặc âm một chút. Thế nhưng năm 2008 lại tăng cao liên tục,
đến hết tháng 3, cho thấy nguy cơ không thể giữ được ở mức một con số.
4
Mức tăng của CPI vào tháng 5 cũng đạt mức đỉnh điểm của năm.
Chính phủ phải nới biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1% vào ngày 10/03/2008
và từ 1% lên 2% vào ngày 27/06/2008, tận dụng sự trượt giá VND so USD
thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh
toán và dư nợ tín dụng năm 2007 tăng gấp đôi so với tốc độ tăng của năm
2006. Tính đến 31-12-2007, tổng phương tiện thanh toán tăng 46,7% so với
31/12/2006. Tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế năm 2007 tăng 58% so với
năm2006.
Đủ "bộ" nguyên nhân: Lạm phát năm 2008 ở mức cao là tổng hòa của
các loại nguyên nhân, cả chi phí đẩy, cầu kéo, lạm phát tiền tệ và cộng thêm
yếu tố tâm lý.
• Về chi phí đẩy, giá nguyên liệu đầu vào hồi quý 1/2008 tăng rất
cao, ví dụ thép, vật liệu xây dựng tăng giá liên tục. Năm nay, giá
nhiều mặt hàng chịu sự tác động từ giá thế giới.
Cụ thể là việc tăng giá dầu đã ảnh hưởng đến giá cả nhiều
mặt hàng như thép, xi măng, lương thực Đặc biệt là lúc đó,
thị trường thế giới thiếu lương thực. Do đó, gạo từ mức giá
400-500 USD/tấn đã tăng đến hơn nghìn, thậm chí 1.200
USD/tấn.
Nền kinh tế chúng ta là nền kinh tế mở, và Việt Nam phải
nhập nhiều nguyên liệu, nên khi giá thế giới tăng đã như cơn
bão ập vào ngay, khiến chúng ta phải gánh chi phí đầu vào
tăng mạnh.
Nhưng, thậm chí có những mặt hàng chẳng phải nhập khẩu
gì cả mà giá vẫn tăng rất cao như gạch chẳng hạn, tăng gấp
4
đôi, gấp ba. Nhiều lúc, tốc độ tăng giá của gạch còn cao hơn
cả thép. Rõ ràng, đã có một tác động dây chuyền nào đó.
• Về cầu kéo, nếu nhìn cả năm thì nhu cầu tiêu dùng năm 2008 so
với các năm trước đó không thay đổi nhiều, nhưng giai đoạn 6
tháng đầu năm lại tăng khá cao, mặc dù giai đoạn này giá hàng hóa
tăng.
Một đặc điểm nữa là năm nay, thị trường chứng khoán kém
sôi động hơn trước, thị trường bất động sản cũng đóng băng
nên một lượng tiền đã đổ vào thị trường hàng tiêu dùng,
chuyển thành tích trữ hàng hóa, khiến giá hàng hóa tăng.
• Tiền tệ thì đúng là nguyên nhân dẫn tới lạm phát trong năm 2008
vì năm 2007 trước đó, khi lượng USD vào nhiều theo kênh FII
(đầu tư gián tiếp - PV) thì các ngân hàng đã phải đưa một lượng
tiền mặt ra để đối ứng, giữ vững tỷ giá.
Nhưng mặt khác, động thái đó lại làm mất giá đồng tiền nội
tệ. Sau này, Ngân hàng Nhà nước đã có một loạt động thái
thu tiền về bằng tăng dự trữ bắt buộc, bán trái phiếu nhưng
cũng không thể thu ngay về được. Lượng tiền trong lưu
thông còn rất lớn gây áp lực lạm phát.
 Năm 2008, yếu tố tâm lý cũng có đóng góp đáng kể vào mức tăng
của chỉ số giá
Yếu tố tâm lý nổi lên ở mấy đợt sốt giá cả trong năm 2008, liên
quan đến xi măng, sắt thép, đặc biệt là các lần sốt gạo. Riêng về sốt
gạo,có thể khẳng định là hoàn toàn do yếu tố tâm lý, vì nước ta là
nước xuất khẩu gạo, không hề thiếu nguồn cung.
Cơn sốt gạo năm vừa qua phát đi từ Tp.HCM và lan ra cả nước.
Trong thời điểm giá gạo tăng đột biến, tại Tp.HCM, có hiện tượng
người dân tranh nhau đi mua gạo giá cao, thậm chí mỗi người chỉ
được mua vài kg. Điều này càng kích thích giá cả tăng cao hơn.
Sau đó, cũng có một số biện pháp bình ổn lại, nhưng rõ ràng giá
cả đã lên rất cao và ảnh hưởng từ giá gạo đã kéo theo hàng loạt hàng
hóa, dịch vụ khác tăng theo. Kết quả là vào tháng 5, chỉ số giá đã tăng
cao nhất trong năm vừa qua, tới 3,91%.
Thêm vào đó là xăng dầu, theo chúng tôi thống kê được thì năm
vừa qua, Nhà nước đã 15 lần điều chỉnh giá xăng dầu, trong đó chỉ có
hai lần tăng giá, 13 lần giảm giá. Tuy tăng giá hai lần nhưng biên độ
điều chỉnh rất cao, nhất là lần điều chỉnh hồi tháng 7, tới gần 30%.
Giá xăng dầu tăng đã tác động mạnh đến nền kinh tế. Dầu
diezen tăng thì các tầu đánh cá phải nằm bờ hết. Cứ thế, sản xuất bị
đình đốn, hàng hóa ít đi, khó khăn chồng chất lên.
4
Một yếu tố nữa có thể đề cập thêm là thời tiết. Mặc dù các năm
đều có bị ảnh hưởng của thời tiết đến các hoạt động kinh tế, thế nhưng
năm vừa qua có quá nhiều diễn biến bất thường. Ví dụ như trận rét hồi
đầu năm, hay cuối năm có trận lụt tại Hà Nội đều là mấy chục năm
mới có một lần, tác hại rất lớn.
Nhìn lại giai đoạn này, những vòng tác động gián tiếp và tâm
lý đã đẩy nhiều loại hàng hóa tăng giá bất hợp lý. Tại một số thời
điểm, trong lúc giá xi măng xuất xưởng của một số nhà cung cấp chỉ
có 53.000-55.000 đồng/bao, thì giá bán trên thị trường lên 80.000 -
90.000đồng/bao
Không chỉ tác động đến giá các loại hàng hóa vật chất, thị
trường chứng khoán cũng nhiều lần chứng kiến tác động của chỉ số
giá đến sự tăng hay giảm của “bảng điện tử”. Những công bố CPI sớm
của các thành phố quan trọng như Tp.HCM, Hà Nội có thời điểm
cũng “áp đặt” xu hướng cho thị trường mua bán giầy tờ có giá này.
CPI cũng đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân
hàng thương mại tăng liên tục trong giai đoạn này, có những thời
điểm vượt trên 18-19%, đối với huy động tiền gửi, và 21-24% với cho
vay.
Bình quân mức tăng CPI thời kỳ này đạt 2,48%/tháng, dù
đã được điều chỉnh bởi các nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của
Chính phủ.
 Đối với giai đoạn sau này, khi chỉ số giá giảm:
Việc chỉ số giá giảm, là điều bất ngờ. Sau 6 tháng đầu năm tăng
rất cao, đến quý 3, chỉ số giá giảm tốc, chỉ còn tăng trên 1%, và đến
tháng 9 thì chỉ tăng 0,18%. xưa nay không bao giờ có chuyện giảm
giá vào quý 4, nhất là các tháng 11 và 12.
Tháng 10 thì còn có thể vì thường là tháng 9 tăng cao do ảnh
hưởng từ Tết Trung Thu, rồi ngày khai giảng, bố mẹ các em học sinh
phải mua nhiều sách vở theo biểu đồ chung thì tháng 9 lên cao,
tháng 10 dịu xuống, rồi tháng 11, 12 lại tăng lên.
Nguyên nhân giảm này, thứ nhất là chính sách tiền tệ thắt chặt
có tác dụng kiềm chế lạm phát, nhưng hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp
làm ra lại cũng không bán được, rất khó khăn, dấn tới giảm giá.
Nguyên nhân nữa là giá thế giới giảm. Nhiều loại hàng hóa đều
bắt đầu giảm giá trong nửa cuối năm 2008, đặc biệt là giá dầu giảm rất
mạnh, đến gần đây chỉ còn trên 40 USD, thậm chí có lúc dưới 40
USD/thùng.
Giá thép cũng giảm rất mạnh, rồi giá lương thực. Gạo, sau một
thời gian tăng giá mạnh thì thế giới họ bắt đầu tăng sản xuất lên, đẩy
4
giá gạo giảm. Việt Nam có chuyện lo mất an ninh lương thực thì giãn
xuất khẩu.
Hơn nữa, sau những thiên tai hồi đầu năm, ta phải gieo cấy lại,
cứ nghĩ có lẽ mất mùa nhưng năm nay lại được mùa, nguồn cung thừa
thãi khiến giá gạo xuống nhanh. Ngoài ế thừa do không xuất được, ta
lại nhập khẩu gạo ngon qua Campuchia, khiến nhu cầu tiêu dùng gạo
trong nước càng giảm hơn nữa.
Một chuyện nữa liên quan đến thịt lợn, mặt hàng quan trọng
trong tiêu dùng của người dân Việt Nam, có trọng số khá cao trong rổ
hàng hóa tính CPI. Hồi đầu năm, giá thịt lợn tăng rất cao, nguyên
nhân do dịch bệnh. Lúc đó, ta xuất mạnh lợn sữa sang Trung Quốc,
nguồn cung càng thiếu.
Để bình ổn giá, Chính phủ cho nhập thịt về, sau đó thì hàng về
quá nhiều. Giai đoạn sau này thì mặt hàng này lại kéo chỉ số giá đi
xuống. Vì vậy, ngành chăn nuôi năm vừa qua cũng bị ảnh hưởng ít
nhiều bởi nhập khẩu thịt lợn, thịt gà
Tháng 11, tại các tỉnh chỉ số giá đã xuống rồi thì Hà Nội vẫn
tăng. Đây lại là trung tâm kinh tế, có sức lan tỏa mạnh. Chính vì thế
thiệt hại càng nặng nề hơn.
Về phía Chính phủ, nhận thức được nguy cơ này, gói giải pháp
tổng thể hơn 100.000 tỷ đồng đã được tung ra để kích thích nền kinh
tế. Tại phiên họp thường kỳ tháng 12 vừa qua, các thành viên Chính
phủ cũng nhất trí tiếp tục thực hiện năm nhóm giải pháp cấp bách, chủ
yếu để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, bao gồm thúc đẩy sản xuất,
kinh doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư; chính sách tài chính, tiền tệ
linh hoạt; bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường công tác điều hành.
b)Biến động giá cả 2009 và những dự báo
Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) tháng 1/2009 tăng 0,32% so với tháng 12/2008 và tăng
17,48% so với cùng kỳ năm 2008.
Như vậy, CPI đã tăng trở lại sau 3 tháng giảm liên tục, nhưng
đây là mức tăng thấp nhất của tháng 1 trong vòng 4 năm qua (tháng
1/2006 tăng 1,2%; tháng 1/2007 tăng 1,05%; tháng 1/2008 tăng 2,38%
so với tháng trước)
Trong năm nay, lạm phát vẫn là yếu tố đầu tiên cần được tính
đến, Việt Nam vẫn phải tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng
giảm dần.
Năm 2009, giá cả thị trường Việt Nam sẽ biến động và gắn kết
ngày càng chặt chẽ vào biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên
thị trường thế giới.
4
CPI năm 2009 sẽ là 7%[16/07/2009]
CPI có thể tiếp tục tăng nhẹ trong các tháng tiếp theo nhưng không có
sự biến động lớn và CPI tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm
2008 tăng ở mức 1 con số (<10%).
2. Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực
hiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh
tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:
Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp
chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm
tiền mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt
thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh
lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức
tín dụng khác (D). Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên
cơ sở: tỉ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng
quay tiền tệ
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một
cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ
không đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều
năm )
Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thống NH đã được phân thành 2 cấp
NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét