Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Tài liệu Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg doc

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 112/2001/QĐ-TTg
Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2001

QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 112/2001/QĐ-TTG NGÀY 25 THÁNG 7 NĂM
2001 PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN TIN HỌC HOÁ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại
hóa giai đoạn 2001- 2005;
Căn cứ Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2001 số 06/2001/NQ-CP
ngày 06 tháng 6 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005
để làm căn cứ cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và triển khai Đề án Tin học hoá
quản lý hành chính nhà nước thuộc phạm vi chức năng và thẩm quyền của mình (Đề án
kèm theo).
Điều 2. Giao Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài
chính, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng
dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện Đề án này.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này.

Phan Văn Khải
(Đã ký)

ĐỀ ÁN TIN HỌC HÓA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001
2005
(Ban hành kèm theo Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ)
Văn phòng Chính phủ đã được Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng giao nhiệm vụ nghiên
cứu và thực hiện Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước từ năm 1990.
Thực hiện nhiệm vụ đó, trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1997, Văn phòng Chính
phủ đã triển khai 4 Đề án, trong đó có 2 Đề án do Chính phủ Pháp tài trợ (giai đoạn 1991
- 1993 và giai đoạn 1994 - 1996); một Đề án do ngân sách nhà nước đầu tư theo chương
trình quốc gia về công nghệ thông tin (giai đoạn 1996 - 1998); một Đề án mạng tin học
diện rộng của Chính phủ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 280/TTg ngày 29
tháng 4 năm 1997.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật do 4 Đề án nói trên tạo lập được trong thời gian qua đã đặt nền
móng cho công tác tin học hóa quản lý và điều hành trong các cơ quan hành chính nhà
nước trên phạm vi cả nước; thúc đẩy việc hình thành các hệ thống thông tin, các kho dữ
liệu điện tử, phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính
quyền các cấp.
Theo Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 11/CP ngày 24
tháng 01 năm 1998 của Chính phủ, từ năm 1998, Chính phủ giao cho Văn phòng Chính
phủ thống nhất quản lý mạng tin học diện rộng của Chính phủ; nói cách khác là thống
nhất chỉ đạo công tác tin học hóa quản lý hành chính nhà nước trong phạm vi Chính phủ,
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp.
Để đồng bộ với Chương trình Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, Thủ
tướng Chính phủ quyết định Đề án tổng thể tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai
đoạn 2001 - 2005 với những nội dung chủ yếu sau đây và giao Văn phòng Chính phủ chủ
trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân
các cấp triển khai thực hiện:
I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ ÁN TIN HỌC HÓA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2001-2005
Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 dựa trên các cơ sở
sau đây:
1. Nghị quyết của Chính phủ số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về phát triển công nghệ
thông tin ở nước ta trong những năm 90 và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số
211/TTg ngày 07 tháng 4 năm 1995 đã xác định quản lý nhà nước là lĩnh vực ưu tiên
hàng đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, theo đó, chương trình tin học hóa
quản lý nhà nước đã được Chính phủ quyết định đầu tư bước đầu trong khuôn khổ
chương trình quốc gia về công nghệ thông tin giai đoạn 1996 - 1998, trong đó có cả dự án
đầu tư mạng tin học diện rộng của Chính phủ (kết quả đầu tư sẽ thể hiện ở phần sau).
2. Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương khóa 8 đã nêu nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin đối với các cơ quan
Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005 như sau: ''các cơ quan Đảng, Nhà nước,
các tổ chức chính trị - xã hội đi đầu trong việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin
trong mọi hoạt động theo phương châm bảo đảm tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài.
Tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng
của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm
tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Các cấp ủy, tổ
chức Đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi ích
công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước. Sớm hoàn
thiện, thường xuyên nâng cấp và sử dụng có hiệu quả mạng thông tin diện rộng của Đảng
và Chính phủ. Bảo đảm đến năm 2005, về cơ bản xây dựng và đưa vào hoạt động hệ
thống thông tin điện tử của Đảng và Chính phủ''.
3. Quyết định của Chính phủ về việc ký kết Hiệp định khung E-ASEAN (ASEAN điện
tử) tại Hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ 4 tại Singapore ngày 24 tháng 4 năm
2000, trong đó, theo Điều 3 và Điều 9, Việt Nam cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng
Chính phủ điện tử.
4. Chương trình Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 đã đề ra mục tiêu
hiện đại hoá nền hành chính nhà nước, theo đó, đến năm 2010, xây dựng và đưa vào vận
hành mạng điện tử - tin học thống nhất của Chính phủ với hai giai đoạn 2001 - 2005;
2006 - 2010.
II. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT TÌNH HÌNH TIN HỌC HÓA QUẢN LÝ
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA
1. Năm 1990, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng đã phê duyệt dự án ứng dụng tin học và kỹ
thuật thông tin tại Văn phòng Chính phủ (công văn số 1265/TH ngày 24 tháng 4 năm
1990 của Văn phòng Chính phủ thông báo Quyết định của Thường vụ Hội đồng Bộ
trưởng).
Nhiệm vụ của dự án là tin học hoá hệ thống thông tin quản lý tại Văn phòng Chính phủ,
đồng thời hỗ trợ một phần thiết bị, công nghệ, đào tạo cán bộ cho 10 Bộ, 10 tỉnh trọng
điểm, chuẩn bị điều kiện để xây dựng mạng tin học cục bộ ở các Bộ, địa phương, tiến tới
hình thành mạng thông tin diện rộng kết nối đến tất cả các Bộ, ngành và địa phương.
Đến cuối năm 1993, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng được mạng tin học cục bộ (LAN)
và bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào công tác chỉ đạo, điều hành của
Thủ tướng Chính phủ, nối kết thông tin với một số Bộ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh trọng
điểm.
Mặc dù việc ứng dụng tin học tại Văn phòng Chính phủ giai đoạn đầu còn sơ khai, công
nghệ ứng dụng mới, nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, công tác
tin học hoá quản lý hành chính nhà nước tại Văn phòng Chính phủ đã đặt nền móng cho
công tác tin học hoá quản lý và điều hành trong các cơ quan hành chính nhà nước trên
phạm vi toàn quốc.
2. Sau khi ban hành Nghị quyết số 49/CP về phát triển công nghệ thông tin (8/1993), Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch 5 năm (1995 - 2000) triển khai Chương trình
Quốc gia về Công nghệ thông tin. Trong giai đoạn 1996 - 1998, Chương trình đã tập
trung khoảng 50% kinh phí (160 tỷ đồng) cho mục tiêu tin học hoá hệ thống thông tin
quản lý nhà nước. Bước đầu xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho việc tin học hoá quản lý
nhà nước và ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý chuyên ngành.
Trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật này, các cơ quan hành chính nhà nước đã từng bước triển
khai các hệ thống thông tin, các kho dữ liệu điện tử phục vụ cho công tác quản lý, điều
hành của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và các cơ quan chính quyền các cấp.
Đến nay, hệ thống mạng tin học cục bộ tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở
hầu hết các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được thiết lập. Hệ thống
này bao gồm cả các hệ thông tin tác nghiệp, quản lý hồ sơ công việc và các kho dữ liệu
phục vụ nghiên cứu, trợ giúp quá trình ra quyết định điều hành.
Mạng tin học diện rộng của Chính phủ được thiết lập để liên kết mạng tin học trung tâm
của 61 tỉnh, thành phố và gần 40 cơ quan chủ chốt của Chính phủ với quy mô 2.500 máy
trạm, 180 máy chủ trên phạm vi toàn quốc và 50 chương trình ứng dụng khác nhau. Với
mạng tin học diện rộng của Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nước đã thực hiện
việc truyền, nhận thông tin đa chiều, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ
thống báo cáo định kỳ, đột xuất và thư tín điện tử , bảo đảm nhanh chóng, an toàn, phục
vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước.
Cùng với việc xây dựng Mạng tin học diện rộng của Chính phủ, 6 cơ sở Dữ liệu quốc gia
đã được triển khai, bao gồm: Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, thống kê kinh tế - xã
hội, pháp luật, tài nguyên đất và dân cư. Đến cuối năm 1999, các Đề án Cơ sở dữ liệu
quốc gia này đã hoàn thành luận chứng khả thi. Trong đó, hai Cơ sở dữ liệu quốc gia về
tài chính, thống kê đã có số liệu phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo, điều hành của Chính
phủ.
Công tác đào tạo tin học đã được tiến hành đồng bộ với việc xây dựng hệ thống tin học
trong các cơ quan hành chính nhà nước. Hàng vạn lượt chuyên viên, cán bộ đã được đào
tạo qua các lớp tin học cơ bản và trên thực tế đã sử dụng được máy tính ở các mức độ
khác nhau vào công việc chuyên môn của mình; đặc biệt trong số đó, một tỷ lệ tương đối
lớn đã sử dụng có hiệu quả công cụ tin học để truy nhập, trao đổi thông tin trên mạng,
phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Cuối năm 1997, Việt Nam đã tham gia mạng INTERNET. Nhiều thông tin khai thác
được trên mạng INTERNET đã góp phần đáng kể về thông tin, tư liệu, giúp cho công tác
chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác
trong việc hoạch định chính sách.
3. Tuy nhiên, so với mục tiêu tin học hoá hệ thống thông tin điều hành đã đề ra trong
Nghị quyết số 49/CP ngày 05 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ, kết quả đạt được trên
thực tế còn rất khiêm tốn.
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là các cấp, các ngành, địa phương chưa nhận rõ
vai trò của công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành; chưa kết hợp ứng dụng
công nghệ thông tin với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý; biểu hiện cụ thể như sau:
- Về điều hành vĩ mô: Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin được đầu tư từ năm
1996 và kết thúc vào đầu năm 1998 với kinh phí 280 tỷ đồng; trong đó có nhiệm vụ tin
học hóa tại các cơ quan hành chính nhà nước với kinh phí khoảng 160 tỷ đồng. Trong bối
cảnh đó, nhiều hạng mục lớn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong kế hoạch
tổng thể chưa triển khai thực hiện được.
Các dự án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước của các Bộ và ủy ban nhân dân cấp
tỉnh cũng mới chỉ thực hiện được một phần. Vốn đầu tư cho tin học hóa 160 tỷ đồng
trong 3 năm 1996 - 1998 mới chỉ đáp ứng 20 - 25% nhu cầu kinh phí của các Đề án đã
được duyệt của 100 cơ quan hành chính cấp Bộ, cấp tỉnh.
Theo điều tra của Văn phòng Chính phủ, đa số các Đề án tin học hoá bị ngừng lại; một số
cơ quan có khả năng tiếp tục đầu tư cho các mục tiêu tin học hoá quản lý nhà nước,
nhưng phát triển theo hướng công nghệ riêng; một số cơ quan khác thì chờ chủ trương
phát triển thống nhất chung của Chính phủ. Các cơ sở dữ liệu quốc gia mới chỉ được đáp
ứng khoảng 10% nhu cầu vốn đầu tư (30 tỷ đồng). Do vậy các cơ sở dữ liệu quốc gia chỉ
dừng lại ở giai đoạn hoàn thành luận chứng khả thi và triển khai thử nghiệm, đang chờ
vốn để tiếp tục triển khai Đề án.
- Cát cứ thông tin xuất hiện. Nhiều Bộ, ngành coi thông tin quản lý của mình là thông tin
riêng của ngành, không coi đó là tài sản quốc gia hoặc cung cấp dữ liệu tổng hợp không
đầy đủ để các cơ quan khác có đủ thông tin phục vụ cho việc hoạch định chính sách và ra
quyết định. Nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ở cấp Trung ương và địa
phương có thói quen tích lũy thông tin riêng, nên khi có thông tin thuộc phạm vi mình
phụ trách đã không cập nhật vào mạng tin học để sử dụng chung.
- Dữ liệu trên mạng tin học: Hệ thống kỹ thuật hạ tầng công nghệ thông tin đã được xây
dựng ở một trình độ nhất định, cho phép thực hiện việc truyền, nhận thông tin đa chiều.
Thông tin phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành chính có nhiều, nhưng việc
tích luỹ thông tin dưới dạng điện tử chỉ mới dừng ở mức thấp; đến nay mới tích luỹ trên
mạng ở một số loại thông tin cơ bản. Nguyên nhân chủ yếu ở đây là các cấp, các ngành
chưa kiên quyết gắn việc ứng dụng công nghệ tin học với xử lý công việc hàng ngày,
chưa thực hiện tốt kỷ cương hành chính trong việc cập nhật thông tin điện tử, chưa cải
cách hành chính đủ mạnh để đưa hệ thống ứng dụng tin học vào guồng máy hoạt động
của bộ máy hành chính nhà nước.
- Về tổ chức bộ máy: cho đến nay vẫn chưa có quy định chung về vị trí, chức năng, nhiệm
vụ đối với các đơn vị chủ trì các Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước trong hệ
thống các cơ quan hành chính nhà nước; thậm chí không có ngạch công chức, không có
chức danh cho cán bộ làm công tác tin học. Vì lý do này, các cơ quan hành chính nhà
nước đã không thu hút được chuyên gia kỹ thuật giỏi, do đó, việc tiếp thu chuyển giao
công nghệ, chỉ đạo triển khai các dự án ứng dụng rất bị hạn chế; các nguyên tắc của hệ
thống mở, các chuẩn chung về công nghệ và thông tin không được giám sát chặt chẽ.
- Về cơ chế tài chính: từ năm 1998, kinh phí cho tin học hoá quản lý hành chính nhà nước
chuyển sang nguồn ngân sách chi thường xuyên, do vậy các Bộ, ngành, địa phương
không đủ kinh phí đầu tư để hoàn thành các Đề án tin học hoá, không thể tiếp tục triển
khai các ứng dụng cơ bản trong quản lý, điều hành. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tin học của
nhiều cơ quan hành chính nhà nước, về cơ bản, đến nay vẫn như tình trạng của năm 1998.
Do cước phí truyền tin quá cao, những Bộ, ngành truy cập nhiều trên mạng tin học diện
rộng của Chính phủ đã phải chi đến hàng chục triệu đồng/tháng cho đường trục truyền
thông Bắc - Nam. Văn phòng ủy ban nhân dân các địa phương cũng phải chi phí hàng
triệu đồng/tháng cho việc vận hành mạng diện rộng. Trong khi đó, nguồn ngân sách chi
thường xuyên của các cơ quan hành chính còn hạn hẹp, dẫn đến việc nhiều Bộ, ngành, ủy
ban nhân dân địa phương phải hạn chế sử dụng mạng vì chi phí cao của đường truyền.
Điều này đã hạn chế hiệu quả sử dụng mạng tin học và hạn chế hiệu quả quản lý, điều
hành của các cơ quan hành chính nhà nước.
- Về kỹ năng sử dụng mạng tin học trong công việc thường xuyên của đội ngũ công chức:
mặc dù đã được đào tạo, song cán bộ, công chức chưa thực sự quen với cách làm việc
trên mạng máy tính (cập nhật, phối hợp xử lý ), mà chủ yếu là xử lý văn bản và khai
thác số liệu có sẵn trên mạng.
Từ thực tiễn triển khai Chương trình Quốc gia về Công nghệ thông tin trong các năm
1996 - 1998, trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại, yếu kém, có thể rút ra
một số bài học sau đây:
Một là: tin học hoá quản lý hành chính nhà nước là công việc phức tạp vì dựa trên cơ sở
công nghệ cao và liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của
các cơ quan hành chính nhà nước, đến quá trình cải cách hành chính, đòi hỏi tính thống
nhất cao trong toàn hệ thống hành chính nhà nước. Do đó, phải có bộ phận tin học
chuyên trách chịu trách nhiệm điều phối thống nhất công việc tin học hoá.
Hai là: không thể coi tin học hoá hệ thống thông tin quản lý nhà nước là công việc dịch
vụ đơn thuần, mà đó chính là quá trình tạo dữ liệu thông tin điện tử nhằm nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của công tác điều hành, là chìa khoá để cải cách hành chính. Quá trình tin
học hoá đến nay mới chỉ bắt đầu và còn kéo dài trong nhiều năm, vì vậy, không thể xếp
nó vào loại hình công việc sự vụ thường xuyên và theo đó, áp dụng quy chế bảo đảm kinh
phí như đối với loại công việc sự vụ thường xuyên.
Ba là: đầu tư cho công tác tin học hoá quản lý nhà nước còn quá ít so với đầu tư cho các
hệ thống tin học hoá nghiệp vụ của các ngành ngân hàng, tài chính, hàng không Vì vậy
phải đầu tư ở mức độ đủ để bảo đảm cho hệ thống hoạt động đồng bộ.
Bốn là: coi trọng công tác đào tạo tin học cho đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ
quan hành chính nhà nước. Hệ thống dù có xây dựng tốt đến đâu về công nghệ vẫn không
thể vận hành tốt nếu chính cán bộ, công chức, người làm việc trong hệ thống hành chính
chưa biết vận hành máy tính và chưa có kỷ luật vận hành máy tính.
Năm là: coi trọng việc xây dựng kho dữ liệu, đặc biệt là các kho dữ liệu quốc gia và các
kho dữ liệu chuyên ngành, lãnh thổ; có cơ chế quản lý tin học hoá để tăng cường giám
sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tin học hoá với tư cách là một bộ phận của kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội.
Sáu là: phải có biện pháp về tổ chức, về cán bộ đối với các đơn vị làm công tác tin học
trong các cơ quan hành chính theo một quy chế thống nhất, vì không có tổ chức thống
nhất thì không thể xây dựng được hệ thống thống nhất.
III. NỘI DUNG TIN HỌC HOÁ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2001-2005
1. Mục tiêu chung.
Đề án được xây dựng theo mục tiêu chung đã được nêu trong Chỉ thị số 58-CT/TW ngày
17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị là: "đến năm 2005, về cơ bản phải xây dựng và
đưa vào hoạt động hệ thống thông tin điện tử của Đảng và Chính phủ " nhằm nâng cao
hiệu lực, hiệu quả điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp.
Trong khuôn khổ của Đề án này, mục tiêu chung đó được thể hiện trên các mặt:
- Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước; đến
cuối năm 2005, đưa hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ vào hoạt động.
- Bám sát các mục tiêu của Chương trình Cải cách hành chính Nhà nước, thúc đẩy mạnh
mẽ việc hiện đại hoá công nghệ hành chính, thực hiện tin học hoá các quy trình phục vụ
nhân dân trong các lĩnh vực dịch vụ công, nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính
nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân và doanh nghiệp được thuận
tiện, nhanh gọn và chất lượng cao.
- Đào tạo tin học cho cán bộ, công chức nhà nước, tạo khả năng tiếp cận, sử dụng công
nghệ mới trong công việc thường xuyên, nhằm đáp ứng yêu cầu cao về hiệu quả và chất
lượng công việc.
2. Mục tiêu cụ thể.
2.1. Xây dựng các hệ thống tin học hoá quản lý hành chính nhà nước, phục vụ trực tiếp
công tác chỉ đạo điều hành trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Hoàn thiện
và thống nhất áp dụng các chương trình ứng dụng phục vụ quản lý, điều hành (thư tín
điện tử, gửi nhận văn bản điện tử, quản lý hồ sơ công việc, quản lý cán bộ, ).
2.2. Tổ chức xây dựng và tích hợp các cơ sở dữ liệu quốc gia, trước hết là ở những Bộ,
ngành trọng điểm (kể cả 6 cơ sở dữ liệu quốc gia đã có Đề án): Kế hoạch và Đầu tư,
Ngân hàng, Thương mại, Hải quan, Lao động, Tư pháp, Giáo dục, Y tế để sử dụng
chung.
2.3. Tin học hoá các dịch vụ công nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính
nhà nước trong việc phục vụ nhân dân và doanh nghiệp thuận tiện, nhanh gọn và bảo đảm
chất lượng.
2.4. Đào tạo tin học: phổ cập công nghệ thông tin cho cán bộ lãnh đạo, chuyên viên và
cán bộ nghiệp vụ của các cơ quan hành chính cấp huyện trở lên để có đủ khả năng sử
dụng máy tính và mạng máy tính trong xử lý công việc thường xuyên phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ được giao.
2.5. Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, cải cách
bộ máy tổ chức và lề lối làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước thuộc phạm vi
thẩm quyền của Chính phủ trên cơ sở gắn mục tiêu tin học hoá quản lý hành chính nhà
nước với chương trình cải cách hành chính của Chính phủ.
3. Phạm vi, đối tượng tin học hóa của Đề án bao gồm:
3.1. Hệ thống thông tin phục vụ quản lý, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.
3.2. Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo các
cấp ở Trung ương và địa phương.
3.3. Hoạt động cung cấp dịch vụ công của các cơ quan hành chính nhà nước đối với nhân
dân và doanh nghiệp.
4. Các nhóm Đề án mục tiêu.
Nhóm Đề án 1. Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ:
Mỗi Bộ, ngành cần xây dựng hệ thống thông tin tin học hoá thuộc phạm vi chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi cơ quan để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Thủ
tướng Chính phủ, của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ.
Trong năm 2001, tiếp tục phát triển kết quả tin học hoá trong giai đoạn 1996 - 2000, hoàn
thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật mạng, đưa chương trình quản lý hồ sơ công việc, thư tín điện
tử vào hoạt động, bảo đảm mọi cán bộ, chuyên viên có thể trao đổi thông tin trên mạng
và truy nhập vào trang thông tin điện tử của Chính phủ.
Thực hiện chuẩn hoá thông tin thuộc lĩnh vực mình quản lý, phối hợp với Văn phòng
Chính phủ, Tổng cục Thống kê và Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường ban hành các
chuẩn thông tin và công nghệ trong tin học hoá quản lý hành chính nhà nước.
Năm 2002 - 2003, xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu của Bộ; trên cơ sở mạng diện rộng
của Chính phủ, mở rộng mạng tin học của Bộ đến ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhằm phục
vụ sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ đối với các Sở, Ban, ngành; xây dựng trang thông tin
điện tử của Bộ phục vụ quá trình ra quyết định; đồng thời chia sẻ thông tin chung với các
cơ quan hành chính nhà nước khác.
Năm 2004 - 2005, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các kho thông tin dữ liệu
chuyên ngành, đưa các công cụ hỗ trợ ra quyết định vào các kho dữ liệu điện tử.
Đối với Bộ, ngành được giao nhiệm vụ thực hiện các loại dịch vụ công như: đăng ký,
quản lý, cấp giấy phép cần lập các đề án riêng để tin học hoá dịch vụ công nhằm nâng
cao chất lượng phục vụ nhân dân và doanh nghiệp.
Nhóm Đề án 2. Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước của ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương:
Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần xây dựng hệ thống thông tin tin học hoá
phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Trong năm 2001, tiếp tục phát triển kết quả tin học hoá trong giai đoạn 1996 - 2000, hoàn
thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật mạng, đưa chương trình quản lý hồ sơ công việc, thư tín điện
tử vào hoạt động, bảo đảm mọi cán bộ, chuyên viên có thể trao đổi thông tin trên mạng
tin học của tỉnh và truy nhập vào trang thông tin điện tử của Chính phủ;
Năm 2002 - 2003, xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu của ủy ban nhân dân cấp tỉnh, kết
nối các đơn vị cấp Sở, quận, huyện với trung tâm mạng tin học quản lý hành chính của
tỉnh; tuỳ theo khả năng và điều kiện, có thể mở rộng dần đến các đơn vị chính quyền cấp
cơ sở. Cuối năm 2003, phải hình thành trung tâm dữ liệu kinh tế - xã hội của tỉnh, thành
phố.
Năm 2004 - 2005, tiếp tục hoàn thiện, mở rộng hạ tầng thông tin và công nghệ của giai
đoạn trước, từng bước thực hiện tin học hoá các quy trình phục vụ nhân dân trong các
lĩnh vực quản lý nhà, đất, xây dựng, đăng ký kinh doanh tạo cho người dân tham gia
trao đổi thông tin, nhận thông tin trực tiếp hơn với hệ thống các cơ quan hành chính nhà
nước.
Đến cuối năm 2004, phải tin học hoá được một số dịch vụ công: cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, giấy phép xây dựng, đăng ký kinh doanh, quản lý dân
cư, giao dịch bảo đảm
Nhóm Đề án 3: Xây dựng hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia và các hệ thống cơ sở dữ
liệu chuyên ngành phục vụ tin học hóa quản lý, điều hành.
Cơ sở dữ liệu quốc gia là các kho thông tin phục vụ quản lý, điều hành của Chính phủ,
bảo đảm cung cấp nhanh chóng, kịp thời các thông tin cần thiết về kinh tế, văn hóa, xã
hội, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quyết định quản lý, điều hành.
Giai đoạn 1996 - 1998, Nhà nước đã đầu tư cho 6 cơ sở dữ liệu quốc gia và giao cho 6 cơ
quan chủ trì. Giai đoạn 2001 - 2005, cần tiếp tục thực hiện dự án khả thi của các cơ sở dữ
liệu quốc gia đã được phê duyệt và một số cơ sở dữ liệu quốc gia mới, bao gồm:
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về kinh tế - xã hội,
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật,
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức,
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư,
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất,
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính,
- Cơ sở dữ liệu về thông tin xuất nhập khẩu,
- Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm.
Các cơ sở dữ liệu quốc gia nêu trên, ngoài chức năng phục vụ các hoạt động quản lý, điều
hành của nhà nước, cần được tận dụng khai thác (theo các quy định cần thiết và giao thức
thuận tiện) cho các đối tượng doanh nghiệp và nhân dân, nhằm phục vụ hoạt động sản
xuất, nghiên cứu, phát triển văn hóa, xã hội.
Các Bộ, ngành khác căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng các cơ sở dữ
liệu chuyên ngành và tích hợp trên mạng diện rộng của Chính phủ, tạo thành nguồn tài
nguyên thông tin quốc gia.
Trong năm 2001, những Bộ, ngành chủ trì các Dự án xây dựng Cơ sở Dữ liệu Quốc gia
đã triển khai trước đây cần hoàn thiện hạ tầng cơ sở kỹ thuật, tập trung xây dựng thông
tin dữ liệu, nhằm phục vụ nhu cầu khai thác thông tin của các cơ quan trong hệ thống
hành chính nhà nước.
Năm 2002-2005, tập trung vào nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu và tích hợp cơ sở dữ liệu
trên mạng tin học diện rộng của Chính phủ.
Nhóm Đề án 4. Đào tạo cán bộ, công chức hành chính nhà nước.
Từ 2001 đến 2005, các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các địa phương phải bảo đảm đại bộ
phận cán bộ, công chức được đào tạo về tin học, nắm được kỹ năng làm việc trên mạng
máy tính; ưu tiên cho các cán bộ, chuyên viên làm việc trực tiếp tạo nguồn thông tin dữ
liệu trên mạng máy tính.
Văn phòng Chính phủ xây dựng chương trình đào tạo cán bộ công chức làm việc trong
môi trường tin học hoá; đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ sư tin học trong cơ quan hành chính
nhà nước, bảo đảm trình độ cập nhật kịp với tốc độ phát triển công nghệ cao, có khả năng
phân tích hệ thống, quản lý triển khai có hiệu quả hệ thống thông tin quản lý.
Nhóm Đề án 5. Nâng cấp Mạng tin học diện rộng của Chính phủ (CPNET), bảo đảm cho
mạng này đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tin học của các cơ quan hành chính nhà
nước.
Mạng tin học diện rộng của Chính phủ đóng vai trò như là trục truyền thông của các cơ
quan hành chính nhà nước, kết nối mạng tin học của các Bộ, ngành, địa phương, phục vụ
công tác chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và Chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp tỉnh.
Năm 2001-2002, tiến hành mở rộng mạng tin học diện rộng của Chính phủ, nâng cấp các
đường truyền số liệu kết nối với các Bộ, ngành, Văn phòng Hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, thiết lập hệ thống thư tín điện tử phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành
và nhu cầu trao đổi thông tin cho cơ quan hành chính các cấp tham gia mạng tin học diện
rộng của Chính phủ.
Năm 2002-2003, xây dựng trung tâm tích hợp Cơ sở dữ liệu của Chính phủ; bảo đảm cho
trung tâm này có khả năng tích hợp được các trung tâm tích hợp dữ liệu của các Bộ và ủy
ban nhân dân cấp tỉnh; thử nghiệm mô hình hoạt động giao ban, hội họp có hình qua
mạng (Video Conference).
Năm 2004-2005, hoàn thiện mạng tin học diện rộng của Chính phủ, tích hợp với mạng tin
học diện rộng của Đảng; bảo đảm khả năng phục vụ truyền thông của các cơ quan hành
chính nhà nước, cơ quan Đảng truy nhập mạng với số lượng lớn.
Văn phòng Chính phủ chủ trì xây dựng và phát triển mạng diện rộng của Chính phủ.
Nhóm Đề án 6. Xây dựng hệ thống bảo đảm an toàn, bảo mật cho mạng tin học quản lý
nhà nước trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Năm 2001 - 2002, xây dựng đề án bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin cho mạng tin học
của các cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm tính xác thực trong việc trao đổi văn bản
điện tử, chữ ký điện tử.
Năm 2003 - 2005, triển khai hệ thống bảo mật thông tin, chuẩn bị đủ điều kiện để đưa hệ
thống thông tin điện tử của Đảng và Chính phủ vào hoạt động với độ tin cậy cao.
Ban Cơ yếu Chính phủ phối hợp với Văn phòng Chính phủ xây dựng và thực hiện Đề án
bảo đảm an toàn, bảo mật cho hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ.
IV. ĐẦU TƯ (GIAI ĐOẠN 2001-2005)
1. Yêu cầu kiến trúc hệ thống tin học hóa quản lý hành chính nhà nước:
Hệ thống gồm các thành phần là các hệ dữ liệu thông tin tương đối độc lập của các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi tắt là Bộ) và ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh). Các thành phần của hệ
thống có quan hệ ngang và quan hệ dọc.
Quan hệ ngang là quan hệ trao đổi, chia sẻ thông tin có tính chất chuyên môn của mỗi
ngành.
Quan hệ dọc là quan hệ chủ yếu dựa theo cấu trúc phân cấp thẩm quyền, chức năng quản
lý nhà nước trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.
Theo yêu cầu thông tin để thực hiện nhiệm vụ quản lý trong mỗi hệ thống tổ chức, việc
tin học hoá phải được thực hiện ngay từ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tại cấp trên cùng của từng hệ thống (Bộ, tỉnh) sẽ
hình thành một trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi mình phụ trách. Trung
tâm này không phải là nơi cập nhật, lưu trữ các dữ liệu điều hành, mà là nơi liên kết các
cơ sở dữ liệu tác nghiệp của các đơn vị trong từng hệ thống. Trung tâm có chức năng
cung cấp, chia sẻ thông tin chung, truyền các mệnh lệnh quản lý thông qua các văn bản
quy phạm pháp luật, công văn hành chính của các cấp hành chính có thẩm quyền.
Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu của mỗi hệ thống quan hệ với trung tâm tích hợp cơ sở
dữ liệu của hệ thống khác theo kiểu quan hệ ngang thông qua trung tâm tích hợp cơ sở dữ
liệu của Chính phủ.
Như vậy, Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu sẽ hình thành tại các cấp sau:
a) Cấp Chính phủ: Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu đặt tại trung tâm mạng tin học diện
rộng của Chính phủ (Văn phòng Chính phủ);
b) Cấp Bộ: Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu đặt tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ;
c) Cấp tỉnh: Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu đặt tại Văn phòng Hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân tỉnh.
Trung tâm tích hợp dữ liệu của Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ liên kết cơ sở dữ liệu
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chia
sẻ thông tin chung giữa các đơn vị này, nhằm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của
Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước cấp Bộ, tỉnh. Trung tâm tích
hợp cơ sở dữ liệu cấp Chính phủ cũng cung cấp hạ tầng truyền thông chung giữa các Bộ,
ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông qua mạng tin học diện rộng của Chính phủ.
Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu cấp Bộ liên kết các cơ sở dữ liệu điều hành của Bộ, kể
cả các đơn vị chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ theo ngành dọc thuộc ủy ban nhân dân các địa
phương; cung cấp, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị trong Bộ và cung cấp, chia sẻ thông
tin với các Bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh qua trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu cấp Chính
phủ.
Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu cấp tỉnh có chức năng liên kết cơ sở dữ liệu tác nghiệp
của các Sở, Ban, ngành, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường trong tỉnh,
chia sẻ thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp
tỉnh và các đơn vị trong tỉnh. Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu của tỉnh cũng cung cấp hạ
tầng truyền thông chung giữa các Sở, Ban, ngành, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh, xã, phường thông qua mạng tin học diện rộng của tỉnh.
Trên cơ sở phân tích hệ thống tin học hoá quản lý hành chính nhà nước trên đây sẽ ưu
tiên đầu tư vào các Trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu, trục truyền thông hỗ trợ liên kết
ngang giữa các Bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Mạng tin học diện rộng của Chính phủ.
Mạng tin học diện rộng của Chính phủ được xây dựng theo Quyết định số 280/TTg ngày
29 tháng 4 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ, được thiết kế và xây dựng theo kiến trúc
phân cấp của các cơ quan hành chính nhà nước và được chia theo các mức:
Mức A: Cấp Chính phủ,
Mức B: Cấp Bộ, tỉnh,
Mức C: Cấp Sở, Ban, ngành, huyện, thị hoặc Cục, đơn vị trực thuộc Bộ,
Mức D: Cấp xã, phường.
Tại mức A và mức B sẽ hình thành các trung tâm tích hợp cơ sở dữ liệu.
PA (Chính phủ)

PB (UBND cấp tỉnh)

PB (Bộ, ngành)

PC (Cục, Vụ, đơn vị tương đương

PC (Huyện, quận )

PC (Sở)

PD (> xã, phường)

Sơ đồ kiến trúc các mức của mạng tin học diện rộng của Chính phủ
Các đơn vị hành chính cấp Bộ, cấp tỉnh sẽ liên kết với nhau qua mạng tin học diện rộng
của Chính phủ thông qua trung tâm mạng đặt tại Văn phòng Chính phủ.
Các đơn vị hành chính cấp tỉnh sẽ liên hệ với nhau qua trung tâm mạng tin học diện rộng
của tỉnh đặt tại Văn phòng Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh.
Các đơn vị trực thuộc Bộ; Sở, Ban, ngành trực thuộc tỉnh liên hệ với Bộ thông qua mạng
diện rộng của tỉnh và của Chính phủ (minh họa bằng sơ đồ dưới đây).
CPNET
TT tích hợp mạng của Bộ

TT Tích hợp mạng của tỉnh

Sở, Ban, Ngành

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét