Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

phân tích và đánh giá chất lượng cán bộ, công chức huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
SVTH: Phạm Hữu Dư
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế nhà nước Việt
Nam, chính quyền cấp cơ sở luôn giữ một vị trí, vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng
trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Chính quyền cơ sở là nền tảng của toàn bộ hệ thống chính quyền, là
cấp gần dân nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động quản lý
nhà nước trên tất cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống.
Tuy nhiên, chính quyền cơ sở không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một
cách hiệu lực và hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có đủ
trình độ để đảm nhận công việc được giao. Cũng như nhân tố con người trong mọi
tổ chức khác, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở chính là hạt nhân, là nhân tố
quyết định đến chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở nói riêng cũng như
toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở nói chung. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động của chính
quyền cấp cơ sở luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/2003/NĐ - CP ngày 10 tháng
10 năm 2003 về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và một số văn bản khác
nhằm từng bước chuẩn hoá, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn. Tuy nhiên, một thực tế khách quan là chất lượng của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở, đặc biệt là cán bộ, công chức xã, thị trấn ở các vùng nông
thôn và miền núi tương đối thấp, không tương xứng với vị trí, vai trò của họ cũng
như đáp ứng đầy đủ các chức danh theo quy định của Nhà nước. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở;
nghiêm trọng hơn là dẫn đến nhiều sai phạm, làm mất lòng tin của nhân dân đối
với Đảng và Nhà nước, gây ra tình trạng mất ổn định cục bộ tại một số địa phương
như một số vụ việc ở Đồ Sơn, Thái Bình, Phú Quốc, Tuần Châu,… Do đó việc
phân tích và đánh giá chất lượng của cán bộ, công chức ở huyện nhằm tìm ra
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
phương hướng cải cách và nâng cao chất lượng để đáp ứng tiêu chuẩn chức danh
và đòi hỏi của thực tế khách quan ngày càng cao là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay
trong công tác cán bộ cấp cơ sở.
Trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua tại Ủy Ban huyện Nông sơn ,tỉnh
Quảng Nam tôi có điều kiện tìm hiểu về tình hình và thực trạng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp cơ sở của huyện. Chất lượng cán bộ, công chức còn thấp, trình
độnăng lực thực thi công vụ của đội ngũ này hiện còn nhiều bất cập so với yêu cầu
công việc và yêu cầu của thực tế đặt ra.
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài: “phân tích và đánh giá chất lượng
cán bộ, công chức huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc phân tích thực trạng và đánh giá về chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam từ đó đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở tại
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thực thi
công vụ của đội ngũ này cũng như chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ
sở của huyện.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề nâng cao chất lượng của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở.
- Tìm hiểu trực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức huyện Nông
Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp, đề tài tập trung vào nghiên
cứu về trình độ; hiệu quả thực thi công việc, đạo đức công việc và một số vấn đề
khác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện theo số liệu thống kê về cán
bộ, công chức cấp cơ sở của huyện.
SVTH: Phạm Hữu Dư
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích;
- Phương pháp so sánh, đánh giá;
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Ngoài ra khoá luận còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như: phương pháp
phỏng vấn, phương pháp điều tra, khảo sát thực tế,…
2.5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cán bộ, công chức cấp cơ sở
Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông
Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Một số đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cán bộ
công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
SVTH: Phạm Hữu Dư
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ
I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CẤP CƠ SỞ
1. Quan niệm về cấp cơ sở
Từ khi Nhà nước xuất hiện và có sự phân chia lãnh thổ thì vấn đề phân
chialãnh thổ thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ luôn là vấn đề quan trọng. Ở
Việt Nam, vấn đề này được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng và được quy
định trong Hiến pháp – văn bản có tính pháp lý cao nhất. Theo Hiến pháp năm
1992, sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Luật Tổ chức HĐND và UBND, chính quyền
địa phương được tổ chức thành 3 cấp:
- Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)
- Chính quyền cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
cấp huyện)
- Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Chính quyền cấp xã
là chính quyền gần dân nhất, được gọi là chính quyền cơ sở trong hệ thống chính
quyền 4 cấp. Gọi chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở bởi những lý do
sau:
Thứ nhất, cấp này thoả mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của một cấp
chính quyền:
- Được Nhà nước trao cho chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để thay mặt cho
Nhà nước quản lý công việc địa phương.
- Có cơ chế bầu cử cán bộ địa phương.
- Có tính tự quản nhất định.
- Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên.
Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền nào
thấp hơn chính quyền xã, phường, thị trấn. Đây là cấp gần dân nhất, sâu sát nhân
dân nhất so với các cấp chính quyền khác.
Thứ ba, cấp xã là nền móng của bộ máy nhà nước, là cái gốc của hệ thống
chính quyền nhà nước 4 cấp.
SVTH: Phạm Hữu Dư
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng chính quyền cơ sở có một vai trò rất quan
trọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp và vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống
chính trị cơ sở nói riêng.
2. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp cơ sở
Chính quyền cơ sở là cầu nối, là nơi giao lưu trực tiếp giữa Nhà nước và
nhân dân, đồng thời cấp cơ sở là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu
việt hay hạn chế của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã là cấp
gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong
xuôi”. Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ảnh hưởng
trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủ trương,
đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đây là nơi trực tiếp thực
thi, kiểm nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế, chính
sách. Do đó, chất lượng của hệ thống thể chế chính sách phụ thuộc vào chất lượng
hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.
Chính quyền cơ sở trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế xã hội của địa
phương. Những vấn đề của địa phương mà chính quyền cơ sở có thẩm quyền giải
quyết thì chính quyền cơ sở đại diện cho nhân dân địa phương trực tiếp giải quyết.
Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện đồng thời phản ánh tâm tư nguyện vọng và
lợi ích của nhân dân địa phương. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đều được
xuất phát từ cơ sở và hướng về cơ sở. Không ai khác ngoài chính quyền cơ sở hiểu
rõ và đảm nhận vai trò thu thập, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa
phương; đồng thời giúp Nhà nước đề ra các biện pháp tổ chức, quản lý phù hợp
với đặc điểm của một địa phương, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
dân địa phương.
II. ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ
1. Quan niệm về cán bộ công chức cấp cơ sở
Trước khi có Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, cán bộ
chính quyền cơ sở là những người công tác tại bộ máy chính quyền xã, phường, thị
trấn. Đó là những người trực tiếp tham gia quản lý mọi mặt đời sống kinh tế – xã
SVTH: Phạm Hữu Dư
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
hội của địa phương, tuy nhiên họ chưa được coi là cán bộ, công chức trong biên
chế nhà nước, lương của họ không phải từ ngân sách nhà nước mà do xã trả.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của chính quyền cơ sở và đội ngũ cán
bộ chính quyền cơ sở, một yêu cầu khách quan đặt ra là: đội ngũ cán bộ xã,
phường, thị trấn cần được xếp vào đội ngũ cán bộ, công chức trong biên chế nhà
nước. Chính vì vậy, Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, tại
tiết (g) và (h) điều 1 chương I đã quy định cán bộ công chức cấp cơ sở bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây gọi
là cán bộ chuyên trách) gồm các chức danh sau:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ cấp cơ sở (nơi không có
Phó Bí thư chuyên trách công tác Đảng); Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ xã (nơi chưa
thành lập Đảng uỷ cấp cơ sở);
+ Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND;
+ Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND;
+ Chủ tịch UBMTTQ;
+ Bí thư Đoàn thanh niên, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch Hội
Nông dân và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh.
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm các chức danh:
+ Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng – Thống kê;
+ Địa chính – Xây dựng;
+ Tài chính – Kế toán;
+ Tư pháp – Hộ tịch;
+ Văn hóa – Xã hội.
Với quy định mới này địa vị pháp lý của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
có sự thay đổi lớn. Quyền hạn và trách nhiệm của họ được quy định chặt chẽ hơn,
đồng thời yêu cầu đối với họ cũng cao hơn để đảm nhận trách nhiệm do Đảng,
Nhà nước và nhân dân giao phó.
SVTH: Phạm Hữu Dư
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
2. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
Cán bộ, công chức cấp cơ sở là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ
cán bộ, công chức nước ta. Mọi hoạt động của chính quyền cơ sở đều do cán bộ,
công chức cấp cơ sở thực hiện. Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối
với sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) khẳng
định trong công cuộc đổi mới đất nước thì: “Cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quan
trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ nói chung có vai trò
rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp
trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của
Nhà nước trong thực tế. Pháp luật của Nhà nước có được thực thi tốt hay không,
có hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định là ở cơ sở. Cấp cơ sở trực
tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở
xã,phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng
đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn”.
Do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm vụ được giao nên người
cán bộ, công chức cấp cơ sở phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân để triển khai
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa
phương. Như vậy, cán bộ, công chức cấp cơ sở là mắt xích, là chất keo gắn kết
nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Đồng thời, để thực hiện tốt các công việc của mình người cán bộ, công chức
cấp cơ sở phải gương mẫu thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; có khả
năng lĩnh hội và thẩm thấu chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước để tổ chức tuyên truyền, giải thích để nhân dân hiểu và thuyết phục nhân dân
làm theo hay thi hành một cách nghiêm túc. Về khía cạnh này, có thể nói người
cán bộ, công chức cấp cơ sở không chỉ là người quản lý địa bàn mà còn phải đóng
vai trò như một tuyên truyền viên tích cực. Do đó chất lượng hoạt động của đội
ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực và hiệu quả
của chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước khi đi vào cuộc
sống.Mặt khác, do tính chất công việc và vị trí công tác nên người cán bộ, công
chức cấp cơ sở phải đảm nhận quản lý mọi mặt hoạt động, nhiều lĩnh vực như:
SVTH: Phạm Hữu Dư
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
quản lý hành chính, lĩnh vực tài chính, đất đai, an ninh trật tự, tư pháp, văn hoá –
xã hội… Vì thế, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở không những quản lý tài sản
của quốc gia mà còn đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, là “quan
toà” trong việc giải quyết các khiếu kiện của nhân dân và giải quyết các tranh chấp
trong thẩm quyền của mình.
Thực tiễn cho thấy rằng đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng.
Nơi nào quan tâm đầy đủ và làm tốt công tác cán bộ, có đội ngũ cán bộ cơ sở vững
mạnh thì nơi ấy tình hình chính trị xã hội ổn định, kinh tế, văn hoá phát triển, quốc
phòng an ninh được giữ vững, cán bộ được dân tin, mọi chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước được triển khai có kết quả. Ngược lại, ở đâu đội ngũ cán
bộ cơsở không được quan tâm, đội ngũ cán bộ không đủ năng lực, phẩm chất và
uy tín, có những biểu hiện về tham ô, tham nhũng, lãng phí, hống hách, cửa quyền
với dân thì ở đó tình hình sẽ gặp khó khăn thậm chí còn bị kẻ xấu kích động, gây
rối trở thành những điểm nóng phức tạp, kéo dài.
Đội ngũ cán bộ cơ sở cần thiết và có vai trò quan trọng như vậy nhưng không
phải tự nhiên mà có. Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tuỳ thuộc vào
quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tự rèn luyện một cách chủ động
sáng tạo của từng cá nhân và các cấp bộ Đảng, chính quyền đoàn thể. Quan điểm
này được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XIII nhấn mạnh: “Dành kinh phí thoả đáng cho việc đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, chú ý kiện toàn và tăng cường đội ngũ cán bộ cốt
cán”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Tăng cường cán bộ
cho cơ sở, có chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã,
phường, thị trấn để họ hoạt động ngày càng hiệu quả góp phần tích cực vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của chính quyền cấp cơ sở thì trước hết phải nâng cao chất lượng hoạt động
của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ sở. Họ không những chỉ cần có
nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ Đảng,
Nhà nước và nhân dân giao phó.
SVTH: Phạm Hữu Dư
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đình Hoa Cương
Vì thế xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ sở vững vàng
về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, trong đó nâng cao
trình độ của đội ngũ này để họ có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực là
yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền
cấp cơ sở.
Tuy nhiên trên thực tế, trong nhận thức và cả việc làm chúng ta vẫn còn có
những ý niệm giản đơn về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, chưa thấy hết
vai trò, tính phức tạp, tính quyết định của họ đối với hoạt động quản lý hành chính
ở cơ sở. Người cán bộ hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh
vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết để làm việc,
song họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin về chính
sách pháp luật. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họ cũng chưa
tương xứng. Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng lực
trình độ quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
3. Nguồn hình thành đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở
Đặc điểm cơ bản của chính quyền cơ sở là cấp gần dân nhất, trực tiếp quan
hệ với nhân dân, phạm vi công tác quản lý rộng bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động
như hành chính, kinh tế, an ninh, văn hoá, xã hội ở cơ sở. Thực tế cho thấy
rằng,nguồn cán bộ cơ sở hiện nay chủ yếu là bộ đội trở về địa phương sau khi
hoàn thành nghĩa vụ quân sự, cán bộ Nhà nước nghỉ hưu, số còn lại trưởng thành
từ phong trào địa phương và một bộ phận rất nhỏ là cán bộ tăng cường từ cấp trên
xuống. Đây là một thực tế khách quan, bởi lẽ số thanh niên trưởng thành ở địa
phương ngoài số đi học nghề hoặc đi làm xa, thì số thanh niên đi làm nghĩa vụ
quân sự sau khi trở về địa phương họ sẽ trở thành nguồn cán bộ quan trọng của địa
phương. Họ là những người đã được rèn luyện thử thách trong môi trường quân
đội. Nên có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trong sạch, giản dị, quan tâm,
chăm lo đến sự nghiệp chung.
Tuy nhiên, cũng không thể không có những hạn chế nhất định về trình độ lý
luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ văn hoá ở nguồn cán bộ này.
Đây là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của họMặt
khác, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền xã, thị trấn phần lớn là người địa
SVTH: Phạm Hữu Dư
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét