Bài Thảo Luận
Môn Tài Chính Doanh Nghiệp
Chủ đề : Nguồn Tài Trợ Bằng Nợ
Dài Hạn (Trái Phiếu)
NỘI DUNG CHÍNH
I. Giới thiệu
II. Nguồn tài trợ,phân loại
III. Nguồn tài trợ bằng nợ dài hạn (trái
phiếu).Ưu,nhược điểm
IV. Kết luận
I.Giới Thiệu
Nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được diễn ra liên tục thường xuyên cũng như để biến những
ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thưc, đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lượng vốn nhất định nhằm hình thành nên những
tài sản cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp và đạt được mục
tiêu đề ra.Từ đó nảy sinh nhu cầu về vốn cũng như việc lựa chọn các
nguồn tài trợ khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh
nghiệp.Quyết định về nguồn tài trợ là một trong các quyết định quan
trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Về cơ bản, quyết định
nguồn vốn bao gồm: quyết định về nguồn vốn ngắn hạn và quyết
định về nguồn vốn dài hạn. Quyết định về nguồn vốn ngắn hạn chủ
yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn ngắn hạn phát sinh do
dòng tiền vào và dòng tiền ra không khớp nhau về thời gian. Tuy
nhiên trong tài chính người ta quan tâm chủ yếu đến quyết định
nguồn vốn dài hạn.Quyết định về nguồn vốn dài hạn bao gồm những
quyết định xem công ty nên huy động bao nhiêu vốn chủ sở hữu và
bao nhiêu nợ vay, loại vốn chủ sở hữu và loại nợ nào công ty nên sử
dụng và khi nào công ty nên huy động các nguồn vốn đó.
II.Nguồn tài trợ,phân loại
Có nhiều cách để phân biệt nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh
nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường dựa vào thời gian sử
dụng và quyền sở hữu để phân chia chúng.
1. Căn cứ vào thời gian sử dụng:
- Nếu căn cứ và thời gian sử dụng người ta phân chia toàn bộ nguồn
tài trợ của doanh nghiệp thành nguồn tài trợ ngắn hạn hoặc dài hạn,
tuy nhiên trong thực tế người ta còn chia cả tài trợ trung hạn, nhưng
trong quản trị tài chính tài trợ chung hạn và dài hạn được ghép với
nhau vì chúng có những đặc điểm tương tự nhau.
Nguồn tài trợ
Tài trợ ngắn hạn Tài trợ dài hạn
1-Thời hạn hoàn trả của chúng
trong vòng 1 năm
1-Thời gian đáo hạn lớn hơn 1
năm
2-Không phải trả lãi cho những
nguồn tài trợ ngắn hạn được nhà
cung cấp tài trợ bằng hình thức
tín dụng thương mại
2-Phải trả lãi cho tất cả các loại
tài trợ dài hạn mà doanh nghiệp
nhận được
3-Lãi suất nguồn tài trợ ngắn hạn
thường thấp hơn lãi suất nợ vay
dài hạn
3-Lãi suất thường cao hơn lãi
suất các nguồn tài trợ ngắn hạn
4-Nguồn tài trợ ngắn hạn nhận
được chủ yếu
4-Nguồn tài trợ dài hạn có thể
nhận được dưới hình thức vốn cổ
phần hay vay nợ
2.Căn cứ vào quyền sở hữu đối với sử dụng
vốn
-Nếu căn cứ vào quyền sở hữu đối với các khoản vốn sử dụng thì
toàn bộ tài trợ của doanh nghiệp được chia thành nợ vay và vốn chủ
sở hữu. Hai nguồn tài trợ có quan hệ đặc biệt với nhau khi chúng
xem xét cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp
Nguồn tài trợ
Nợ vay Vốn cổ phần
1-Những người tài trợ cho doanh
nghiệp không phải là chủ sở hữu
doanh nghiệp
1-Do các chủ sở hữu doanh
nghiệp tài trợ
2-Phải trả lãi cho những khoản
tiền vay
2-Không phải trả lãi cho những
vốn cổ phần đã huy động được
mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho
các chủ sở hữu
3-Mức lãi suất cho các khoản nợ
vay thường là theo mức ổn định
được thỏa thuận khi vay
3-Trừ cổ phần ưu đãi lợi tức cổ
phần chia cho các cổ động tùy
thuộc quyết định của hội đồng
quản trị và nó thay đổi theo mức
lợi nhuận mà doanh nghiệp thu
được
4-Có thời hạn nếu hết thời hạn
doanh nghiệp phải trả cả lãi và
gốc hoặc thỏa thuận gia hạn mới
4-Doanh nghiệp không phải hoàn
trả những khoản tiền đã huy động
được trừ khi doanh nghiệp đóng
cửa thì sau khi giải quyết các vấn
đề có liên quan theo luật định thì
tài sản còn lại chia cho cổ đông
(không áp dụng đối với các cổ
phần ưu đãi có thời gian đáo hạn
cố định)
5-Doanh nghiệp phải thế chấp
hoặc nhờ bảo lãnh
5-Doanh nghiệp không phải thế
chấp,nhờ bảo lãnh
6-Lãi suất khi trả nợ vay được
tính trong chi phí hợp lý khi tính
thuế thu nhập.
6-Cổ tức không được tính trong
chi phí hợp lý khi tính thuế thu
nhập mà lấy từ lợi nhuận sau
thuế để trả
III. Nguồn tài trợ bằng nợ dài hạn (trái
phiếu).Ưu,nhược điểm
Trái phiếu
Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu
trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác
định và với một lợi tức quy định. Người phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu trong
trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho
bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trong trường
hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ). Người mua trái phiếu, hay trái chủ, có
thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái
phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh)
Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết
quả sử dụng vốn vay của người vay. Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các
cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay.
[sửa] Đặc điểm cơ bản
• Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn có Chính phủ Trung
ương và Chính phủ địa phương.
• Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của
chủ thể phát hành trái phiếu. Khác với người mua cổ phiếu là người Chủ sở hữu
Công ty.
• Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kết
quả sản xuất kinh doanh của công ty.
• Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trước
hết Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếu trước, sau đó mới
chia cho các Cổ đông.
Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn
cổ phiếu. Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng.
[sửa] Đặc trưng
• Mệnh giá trái phiếu: hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị ghi
trên trái phiếu. Giá trị này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để
xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số
tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
• Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc
người phát hành công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa. Lãi suất này được xác
định theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định
lợi tức trái phiếu.
• Thời hạn của trái phiếu: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người
phát hành hoàn trả vốn lần cuối. Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung
hạn cóa thời gian từ 1 năm đến 5 năm. Trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở
lên.
• Kỳ trả lãi: Là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái
phiếu. Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi suất
trái phiếu thường được mỗi năm hai hoặc một lần.
• Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông
thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá. Tùy
theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một
cách thích hợp. Có thể phân biệt 3 trường hợp:
1. Giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá);
2. Giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu);
3. Giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng).
• Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giá gia tăng), thì
lợi tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo hạn, người có
trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu.
[1]
[sửa] Phân loại Trái phiếu
1. Phân loại theo người phát hành:
o Trái phiếu của Chính phủ : Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính
phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức
kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất
trên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán
có ít rủi ro nhất.
o Trái phiếu của doanh nghiệp: Là những trái phiếu do doanh nghiệp nhà
nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng
vốn hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.
o Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chức này có thể
phát hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động.
2. Phân loại lợi tức trái phiếu
o Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định
theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá.
o Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi
tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có
sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu.
o Trái phiếu có lãi suất bằng không: Là loại trái phiếu mà người mua không
nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết
khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.
3. Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành
o Trái phiếu bảo đảm: Là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản
có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả
năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số
tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số
loại chủ yếu sau:
Trái phiếu có tài sản cầm cố: Là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc
người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán
cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá
của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.
Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: Là loại trái phiếu
được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số
chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo
đảm.
o Trái phiếu không bảo đảm: Là loại trái phiếu phát hành không có tài sản
làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành.
4. Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu
o Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong
sổ sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
o Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ
sách của người phát hành.
5. Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu
o Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái
chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy
định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu.
o Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho
phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công
ty.
o Trái phiếu có thể mua lại: Là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được
quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán
Phát hành chứng
khoán
Tín dụng
thuê mua
Vay dài hạn
Phát hành cổ
phiếu
Phát hành
trái phiếu
Nguồn tài trợ dài hạn
1.Nguồn tài trợ bằng nợ dài hạn (trái phiếu)
-Doanh nghiệp có thể quyết định tài trợ cho nhu cầu vốn của mình
bằng việc phát hành các loại trái phiếu,cụ thể:
* Trái phiếu có bảo đảm: đặc trưng của loại trái phiếu này là chúng
được đảm bảo bằng những tài sản của doanh nghiệp. Những tài sản
để đảm cho các trái phiếu phát hành thường là các bất động sản của
doanh nghiệp, trong một số trường hợp vật bảo đảm cũng có thể là
nhà xưởng hay những thiết bị đắt tiền. Khi phát hành trái phiếu thế
chấp doanh nghiệp có trách nhiệm giữ tài sản thế chấp trong tình
trạng tốt nhất để đảm bảo cho khoản vay.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý thêm rằng một tài sản nào đó cũng có
thể làm vật bảo đảm (thế chấp) cho nhiều lần phát hành trái phiếu, có
trường hợp doanh nghiệp phát hành ghi rõ thứ tự của các lần phát
hành để ưu tiên cũng có thể không cần ưu tiên nhưng tổng giá trị của
tất cả các trái phiếu không được lớn hơn giá trị của tài sản thế chấp.
Như vậy, trái phiếu có bảo đảm đem lại cho trái chủ mức độ an toàn
khá cao.
* Trái phiếu không có đảm bảo: đây là loại trái phiếu phổ biến ở
các doanh nghiệp. Khác với trái phiếu có bảo đảm, trái phiếu không
có bảo đảm là trái phiếu không có một tài sản cụ thể nào để đảm bảo
cho khả năng thanh toán của chúng, nhưng chúng vẫn được đảm
bảo chắc chắn bằng thu nhập tương lai và giá trị thanh lý của các tài
sản của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên của luật phá sản.
Trong luật phá sản của doanh nghiệp thì quyền lợi ưu tiên của các
trái phiếu bao giờ cũng đứng trước cổ phiếu, nhưng trong các trái
phiếu thì các trái phiếu mới phát hành có thứ tự ưu tiên
cao hơn những trái phiếu đã phát hành trước chúng.
* Trái phiếu trả lãi theo thu nhập: trái phiếu trả lãi theo thu nhập
là trái phiếu mà tiền lãi chỉ được trả khi người vay (doanh nghiệp) thu
được lợi nhuận. Khi lợi nhuận thấp hơn số tiền phải trả thì trái chủ sẽ
chỉ nhận được tiền trả bằng khoản thu nhập đó và không được quyền
tuyên bố người vay bị phá sản. Số tiền trả cho trái chủ còn thiếu
được chuyển sang những năm tiếp theo tuỳ theo quy định trong khế
ước của hai bên.
Với doanh nghiệp thì loại trái phiếu này không hạn chế đòn cân
nợ như những trái phiếu khác bởi vì loại trái phiếu này có tính linh
hoạt cao, rất thích hợp cho những doanh nghiệp đang gặp khó khăn
về tài chính.
* Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu phổ biến
nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi suất được ghi trên
mặt trái phiếu (Coupon rate) và không thay đổi suốt kỳ hạn của nó.
Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng được qui định rõ và thông thường
trả lãi hàng năm 2 lần vào 30/6 và 31/12. Thông thường lãi suất ghi
trên trái phiếu được căn cứ vào lãi suất trái phiếu có kỳ hạn tương
đương của kho bạc Nhà nước và mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý rằng, lãi suất trả cho trái phiếu cố
định hàng năm nhưng giá trị của trái phiếu thì thay đổi tuỳ thuộc vào
những biến động của thị trường.
* Trái phiếu có lãi suất thả nổi: trong những giai đoạn có nhiều
biến động trong nền kinh tế thì lãi suất trên thị trường vốn thay đổi
liên tục và do vậy các doanh nghiệp thường phát hành trái phiếu có
lãi suất thả nổi.
Tuy gọi là lãi suất thả nổi nhưng thực ra lãi suất của nó phụ
thuộc vào một số nguồn lãi suất quan trọng như lãi suất LIBOR
(London Inter Bank Offered Rate) hoặc lãi suất của trái phiếu
này lấy lãi suất của trái phiếu kho bạc làm chuẩn và được định kỳ
điều chỉnh sau những khoảng thời gian nhất định theo quy định.
Như vậy việc phát hành trái phiếu này sẽ hấp dẫn các nhà đầu
tư trong điều kiện nền kinh tế không ổn định, thị trường tài chính biến
động không ngừng. Những trái phiếu này thường tỏ ra phù hợp đối
với những nhà đầu tư không ưa mạo hiểm, nhưng loại trái phiếu này
cũng có những nhược điểm như doanh nghiệp không thể phân biệt
chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu trong hoạch định ngân quỹ
và việc quản lý trái phiếu cũng đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do phải
điều chỉnh lãi suất.
* Trái phiếu có thể thu hồi sớm: tuỳ theo tình hình tài chính của
mình, một số doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách phát
hành trái phiếu có khả năng thu hồi sớm, tức là doanh
nghiệp có thể mua lại những trái phiếu vào một thời gian nào đó
trước khi mãn hạn. Trong trường hợp này người mua trái phiếu
không kiếm được lãi suất mãn hạn (YTM). Như vậy, những trái
phiếu có khả năng thu hồi sớm phải được quy định ngay từ khi phát
hành để người mua trái phiếu được biết, phải quy định rõ về thời
hạn, giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại trái phiếu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét