Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

245508

http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
trữ lượng tiềm năng của từng vùng Trong các đô thị như Hà Nội, TP.Hồ Chí
Minh, Cà Mau chỉ số khai thác còn cao hơn nhiều so với mức trên. Nước ngầm
bị khai thác quá mức gây ra tình trạng nước ngầm bị suy giảm liên tục (0,2
÷
0,6
m/năm) và chưa có dấu hiệu phục hồi. Chất lượng nước ngầm cũng bị suy giảm,
nhất là mức độ ô nhiễm các hợp chất hữu cơ, hiện tượng sụt, lún đất cũng đã
xuất hiện ở nhiều nơi và đang có chiều hướng gia tăng.[9]
Việt Nam đang đối mặt với những thách thức lớn về ô nhiễm nước ngầm
tầng nông do cơ sở công nghiệp, do sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu trong nông
nghiệp, hoạt động khai thác thủy sản, hoạt động khai mỏ và thải chất thải. Khi
nước ngầm bị ô nhiễm thì khó làm sạch và chi phí sẽ rất cao, do đó nếu không
tránh được ô nhiễm hoặc không khắc phục được ô nhiễm không chỉ gây ra mối
đe dọa lớn cho sức khỏe cộng đồng mà cho cả các hoạt động và ngành công
nghiệp.
2.1.2.2. Tình hình nghiên cứu quy trình công nghệ và thiết bị hệ thống xử lý
nguồn nước bị ô nhiễm phục vụ sinh hoạt ở Việt Nam
Biến đổi khí hậu sẽ mang lại nhiều thiên tai rủi ro cho Việt Nam. Mực nước
biển dâng cao là yếu tố liên quan trực tiếp đến vấn đề nước sạch và môi trường
trong nông nghiệp và nông thôn ở nước ta, làm tăng rủi ro lũ lụt cho các vùng
đất trũng ven biển, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân và hệ sinh thái ven
biển. Theo báo cáo của ngân hàng thế giới (WB) và Ủy ban liên chính phủ về
biến đổi khí hậu (IPCC), mực nước biển dâng cao 1m sẽ có khả năng gây ra
“khủng hoảng sinh thái”, ảnh hưởng đến 12% diện tích và 11% dân số Việt
Nam. Từ nhũng yếu tố trên cho thấy sự cần thiết phải tìm một nguồn tài nguyên
nước ổn định để cấp nước cho nhân dân vùng ven biển và hải đảo. Nguồn tài
nguyên ổn định và phong phú nhất là nước biển. Tìm kiếm công nghệ và triển
khai lắp đặt các công trình, thiết bị xử lý nước biển và nước lợ để cung cấp nước
cho cụm dân cư, đô thị ven biển và hải đảo là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về khử mặn nước biển đã bắt đầu
từ cuối những năm 1990.
Công nghệ cất nước biển bằng năng lượng mặt trời được Viện hóa học
(Viện khoa học và công nghệ Việt Nam) nghiên cứu ứng dụng, với giá thành
khoảng 1 triệu đồng trên 1m
3
công suất. Hiện công nghệ đang được lắp đặt thử
nghiệm tại Bến Tre và Thừa Thiên Huế. Một hệ thống được lắp đặt tại ngư
trường Bình Đại đã cung cấp từ 120
÷
150 lít nước sạch mỗi ngày cho một đội
công nhân gồm 8 người.
http://facebook.com/windsvnl
5
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Năm 2005, Viện Khoa học Công nghệ nhiệt lạnh (trường Đai học Bách
khoa Hà Nội) vừa nghiên cứu thành công quy trình chưng cất nước biển bằng
năng lượng mặt trời. Theo hình thức bay hơi cưỡng bức mỗi m
2
vật liệu hấp thụ
nhiệt của nhà máy có thể tạo ra được 15
÷
20 lít nước ngọt trên ngày.
Năm 2003, Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ nước sạch và môi
trường nghiên cứu thiết kế và lắp đặt tại đảo Bạch Long Vĩ. Dây chuyền gồm 5
thiết bị xử lý nước biển qua 5 công đoạn khác nhau, trong đó thiết bị cuối cùng
sử dụng màng lọc RO có kết cấu đặc biệt.
Năm 2008,Viện Khoa học vật liệu ứng dụng thuộc Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam đã bàn giao và đưa vào vận hành thiết bị xử lý nước biển thành
nước ngọt đáp ứng tiêu chuẩn Bộ Y tế về nước sinh hoạt với công suất 300 lít
nước ngọt/h cho ngư dân Đà Nẵng. Thiết bị làm việc dựa trên nguyên lý RO với
màng lọc của Mỹ. Các nghiên cứu ứng dụng màng lọc để xử lý nước biển thành
nước sinh hoạt đang ở mức thử nghiệm và với quy mô nhỏ, các thiết bị chưng
cất cồng kềnh khó lắp đặt và phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, phương pháp RO
tốn kém về năng lượng và tuổi thọ màng không cao.
Màng NF (nanofilter) là loại màng có kích thước lỗ nhỏ khoảng 10 A
0

thích hợp cho quá trình làm mềm nước, loại bỏ một số chất hữu cơ hòa tan, áp
suất động lực lớn hơn màng thẩm thấu ngược. Các phương pháp lọc màng sẽ giữ
lại các chất trong nước ô nhiễm tự nhiên, màng NF sẽ giữ lại được các phần tử
kích thước nhỏ như các chất hữu cơ hòa tan, các ion natri, chì, sắt, niken, thủy
ngân(II), các vi khuẩn gây bệnh và cho các ion I đi qua. Xử lý nước biển bằng
phương pháp NF để được nước ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT có chi phí
đầu tư và vận hành thấp hơn so với phương pháp màng RO. Trong công nghệ
ngọt hóa nước biển cấp cho sinh hoạt, trước tiên màng NF được nghiên cứu áp
dụng để xử lý sơ bộ nhằm giảm độ mặn sau đó xử lý bằng công nghệ RO.[12]
Năm 2007, công ty chế tạo thiết bị xử lý nước PECOM Việt Nam đã chế
tạo và lắp đặt thành công thiết bị lọc trọng lực tự động với vật liệu chuyên dụng
sử dụng trong quá trình xử lý nước. Quá trình rửa ngược hoàn nguyên vật liệu
lọc hoàn toàn tự động dựa trên nguyên lý thủy lực. Công nghệ lọc trọng lực
được ứng dụng trong quá trình xử lý nguồn nước mặt và trong xử lý nguồn nước
ngầm. Công nghệ xử lý có thể thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất nguồn
nước. Thiết bị có nhiều ưu điểm như chi phí vận hành thấp, tốn ít năng lượng
điện, quá trình rửa ngược xảy ra hoàn toàn tự động theo nguyên lý thủy lực
không cần bơm rửa ngược, khí nén. Thiết bị lọc trọng lực tự động được triển
http://facebook.com/windsvnl
6
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
khai ở nhiều nhà máy nước như: Công ty kinh doanh nước sạch Hải Phòng, nhà
máy xử lý nước như Hợp Thành, Nghĩa Đồng – Tân Kỳ (Nghệ An) [10]
Ngày 25 tháng 8 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số
104/2000/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Cấp nước và Vệ sinh nông
thôn đến năm 2020. Chiến lược quốc gia sẽ góp phần thực hiện Chiến lược Phát
triển nông nghiệp - Nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước.
Mục đích tổng thể:
- Tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh
có liên quan đến nước và vệ sinh nhờ cải thiện việc cấp nước sạch, nhà vệ sinh
và nâng cao thực hành vệ sinh dân chúng.
- Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua việc xây dựng
và sử dụng các công trình cấp nước và vệ sinh hiện nay, làm giảm bớt sự cách
biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn.
- Giảm tình trạng ô nhiễm do phân người và gia súc chưa được xử lý, làm ô
nhiễm môi trường, cũng như giảm ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước.
Đến năm 2020: Tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn
quốc gia với số lượng tối thiểu 60 lít/người/ngày và sử dụng hố xí hợp vệ sinh
nhờ huy động cộng đồng tham gia mạnh mẽ và áp dụng cách tiếp cận dựa theo
nhu cầu.
Đến năm 2010: 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số
lượng 60lít/người/ngày.
Để đáp ứng nhu cầu dùng nước và góp phần thực hiện các chiến lược trên,
việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vào việc xử lý các nguồn nước bị ô
nhiễm để cấp nước sinh hoạt cho nhân dân đang và sẽ còn tiếp tục với quy mô
và chất lượng ngày càng cao hơn. Trong tương lai, tình trạng thiếu nước sạch sẽ
diễn ra hết sức gay gắt tại một số nơi trong cả nước, do đó mà nhiệm vụ xử lý và
cấp nước cho nhân dân ngày càng trở nên cấp bách hơn.
2.1.3. Tình hình nghiên cứu quy trình công nghệ và thiết bị hệ thống xử lý
nguồn nước bị ô nhiễm phục vụ sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Bến Quan,
huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị:
2.1.3.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của thị trấn
Bến Quan:
http://facebook.com/windsvnl
7
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Thị trấn Bến Quan thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nằm ở vị trí
17,1
o
vĩ bắc, cách đường quốc lộ 1A 17 km về phía Tây huyện Vĩnh Linh dọc
tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử. Phía Tây giáp 2 xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô; phía
Nam giáp huyện Gio Linh; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình và phía Đông giáp
thị trấn Hồ Xá. Với vị trí địa lý như vậy, thị trấn Bến Quan có điều kiện khí hậu
4 mùa rõ rệt. Mùa hạ kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7, số giờ nắng nhiều cộng với
gió Tây Nam mang theo hơi nóng, oi bức vào làm cho đất đai khô cằn, nứt nẻ
nặng ở nhiều vùng. Nắng nóng kéo dài trang thời gian dài là cho mực nước
trong các sông ngòi, ao hồ trên thị trận giảm xuống nhanh, có nơi khô kiệt. Mùa
mưa kéo dài từ tháng 10 đến tháng 12, lượng mưa tương đối nhiều. Nhiều năm
có hiện tượng lũ lụt và làm cho các sông bị sụt lún nghiêm trọng.
Diện tích đất của thị trấn là 421,58 ha với 996 hộ dân sinh sống. Đất đai
chủ yếu là đất đá, sỏi phù hợp trồng các loại cây công nghiệp như cao su, hồ
tiêu, cây lâm nghiệp như tràm, gió bầu Dân cư vùng thị trấn sinh sống chủ yếu
bằng nghề khai thác mủ từ cây cao su, đời sồng tương đối ổn định. Từ khi thành
lập thị trấn đến nay đã được 17 năm, sự phát triển cơ sở hạ tầng còn thấp. Các
nhà máy, công xưởng sản xuất rất ít và chưa được quan tâm xây dựng.
2.1.3.2. Tình hình xử lý nguồn nước bị ô nhiễm tại thị trấn Bến Quan:
Nguồn nước mặt tại thị trấn có trữ lượng tương đối dồi dào, đặc biệt là
lượng nước trên sông Sa Lung chảy qua địa phận thị trấn là nguồn tài nguyên
nước mặt phục vụ cho công trình khai thác nước cấp sinh hoạt dân cư trong
vùng. Ngoài ra, trong vùng còn có hệ thống hồ lớn, nhỏ với lượng nước tương
đối nhiều Trước đây, người dân ở đây chủ yếu sử dụng nước ngầm ở tầng mạch
nông để uống dưới dạng nước giếng đào, giếng khoan. Khi sử dụng loại nước
giếng, về mùa mưa nước giếng thường có hiện tượng đục, do đó bà con dùng
cát, tro, trấu để lọc trong nước trước khi sử dụng cách này phổ biến trong từng
hộ gia đình với quy mô nhỏ. Về mùa hè, nước giếng thường có hiện tượng cạn
khô, dân cư không đủ nước để ăn uống sinh hoạt, một số nơi bà con tắm giặt
trên sông vừa không hợp vệ sinh lại làm cho nước sông bị nhiễm bẩn. Hiện nay,
do tình hình dân số tăng, sự biến đổi khí hậu nước giếng ngày càng không đáp
ứng về cả số lượng và chất lượng. Công trình xử lý nguồn nước sông bị ô nhiễm
phục vụ sinh hoạt trên địa bàn thị trấn được xây dựng và đưa vào hoạt động từ
năm 2007, với nhiệm vụ là cung cấp đầy đủ nguồn nước sạch cho cư dân trong
vùng phục vụ ăn uống, sinh hoạt. Trạm xử lý và cấp nước mới được xây dựng,
số hộ sử dụng nước còn ít nên công suất còn nhỏ, trong tương lai trạm xử lý
http://facebook.com/windsvnl
8
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
nâng cấp để phục vụ nước sinh hoạt cho dân cư vùng thị trấn Hồ Xá và khu vực
Vĩnh Hà, Vĩnh Ô.
2.1.4 Các công trình liên quan đến đề tài đã được nghiên cứu và công bố:
Các công trình lắp đặt hệ thống thiết bị xử lý và cấp nước sinh hoạt cho dân
cư đã được nghiên cứu và ứng dụng từ rất sớm nhất là tại các thành phố lớn như
Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh Càng ngày các công nghệ và thiết bị đó càng trở nên
hoàn thiện hơn và nhiều công trình nghiên cứu mới đã ra đời và góp phần to lớn
vào trong cuộc sống.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước, đi đôi
với việc quy hoạch quản lý tài nguyên nước thì việc nghiên cứu áp dụng các
công nghệ mới nhằm mục đích xử lý những nguồn nước bị ô nhiễm, nước mặn
thành nước ngọt phục vụ sinh hoạt đóng vai trò hết sức quan trọng. Các công
trình nghiên cứu đem lại nhiều kết quả tốt như:
*) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ màng thẩm thấu ngược trong quá trình
khử mặn phục vụ cấp nước cho sinh hoạt vùng duyên hải và hải đảo:
Kết quả nghiên cứu đánh giá mức độ tập trung của hiệu quả khử muối đưa
ra sự so sánh các thông số: TDS (Tổng chất rắn hòa tan) và độ muối của nước
sau xử lý từ nước đầu vào có hàm lượng muối 2% với TCVN ( Bộ y tế, 2005).
Như vậy nước đầu vào có nồng độ muối 2% được loại bỏ bằng màng thẩm
thấu ngược RO đã đạt được yêu cầu chỉ tiêu nước sinh hoạt. Nước sau xử lý có
TDS nhỏ hơn khoảng 4,5 và độ muối thấp hơn 10 lần so với tiêu chuẩn nước
sinh hoạt. Nước nguồn vào có nồng độ muối 2% là cao nhất của vùng nước lợ,
một lần nữa khẳng định màng RO hoàn toàn có thể dùng khử muối nước biển và
nước lợ cấp cho sinh hoạt.[11]
*) Nghiên cứu tách loại As trong nước bằng Zeolit NaX tổng hợp từ cao lanh
Phú Thọ:
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Vật liệu Zeolit NaX tổng hợp từ cao lanh Phú
Thọ có thể được sử dụng để tách As trong các nguồn nước ô nhiễm. Khi trao đổi
Zeolit NaX một phần với ion Fe
3+
tạo ra vật liệu Zeolit NaFe có khả năng xử lý
As cao hơn nhờ cơ chế hấp phụ - trao đổi ion của zeolit và cơ chế lắng do sự
cộng kết của Fe với As tạo hợp chất không tan; Để xử lý 1m
3
H
2
O chứa 0,5 mg/l
As tại pH=7, nhiệt độ là 25
o
C, thời gian 15 phút có thể chỉ cần 100 gam zeolit
NaXFe hoặc 70 gam vật liệu này khi trong dung dịch này xử lý có mặt chất oxy
hóa.[8]
http://facebook.com/windsvnl
9
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
*) Nghiên cứu xử lý nito amon trong nước ngầm bằng phương pháp sinh học
ngập nước:
Đề tài do trung tâm Công nghệ môi trường và Phát triển bền vững, Trường
ĐHKHTN-Đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện. Kết quả nghiên cứu được công
bố cho thấy với lưu lượng nhỏ hơn 4 m
3
/h, hệ đạt năng suất xử lý 390 g N-
NH
4
+
/m
3
.ngđ, nồng độ NH
4
+
sau xử lý đạt tiêu chuẩn là thấp hơn 0,5 mg/l.[15]
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu sợi tổng hợp acryl nhằm xử lý sinh học nito
amon trong nước ngầm:
Đây là đề tài nghiên cứu hợp tác quốc tế giữa Trung Tâm Kỹ Thuật Môi
Trường đô thị - khu công nghiệp, Đại học Xây dựng và phòng thí nghiệm nước,
Đại học Kamamoto, Nhật Bản. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy vật liệu sợi tổng
hợp acryl có khả năng lưu giữ bùn cao đảm bảo duy trì được nồng độ bùn thích
ứng cho quá trình xử lý sinh học nito amon, hệ thồng vận hành đơn giản, hiệu
quả xử lý cao và ổn định. Hệ thống có khả năng xử lý đạt công suất 750 g N-
NH
4
+
/m
3
.ngđ.[15]
*) Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để tái sử dụng nước thải sinh hoạt
ngay tại nguồn:
Kết quả nghiên cứu cho thấy nước thải sau khi được xử lý ở công đoạn 2
được phân tích tại phòng thí nghiệm, đồng thời kết quả này đem so sánh với tiêu
chuẩn đối với nước tái sử dụng ở đô thị của Israel thể hiện ở bảng 2.1
Công nghệ này hoàn toàn có thể đáp ứng những yêu cầu cả về chất lượng
lẫn số lượng phục vụ nhu cầu tái sử dụng cho các mục đích khác nhau tại nước
ta nói chung và các vùng khan hiếm nước ngọt hay những nhà máy sử dụng
nước lớn.[13]
http://facebook.com/windsvnl
10
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Bảng 2.1. Nước sinh hoạt sau xử lý công đoạn 2 so sánh với tiêu chuẩn nước
sinh hoạt của Israel và của bộ Y tế.
Thông số Đơn vị
Kết quả phân tích Tiêu
chuẩn
Tiêu
chuẩn
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4
pH - 6.6 6.7 6.74 6.59
6.5
÷
8.
5
6.5
÷
8
.5
DO NTU 6 6 - - >5 -
Độ đục mg/l 5 5 - - 5 -
BOD
5
mg/l 2 1 2 0 <5 -
COD mg/l 5 4 7 2 <10 -
TDS mg/l 1000 1000 - - 1000 1000
N-NH
4
+
mg/l 0.04 0.05 0.04 KPH <3 1.5
N-NO
2
mg/l KPH KPH KPH KPH <1 3
N-NO
3
mg/l 3.14 3.52 0.34 0.19 <10 50
Clorua mg/l 200 200 - - 250 250
Tổng
coliforms
MPN/100ml 2 1 2 0 2 0
As mg/l KPH KPH - - 0.01 0.01
Cr mg/l KPH KPH - 0.05 0.05
Cu mg/l 0.1 0.1 - - 1.0 2
Zn mg/l 0.1 0.2 - - 3.0 0.01
Mn mg/l KPH KPH - - 0.5 0.5
Al mg/l KPH KPH - - 0.5 0.2
Fe mg/l 0.1 0.2 - - 0.5 0.5
Hg mg/l KPH KPH - - 0.001 0.001
Ghi chú: - KPH: không phát hiện được; - Dấu (-): không phân tích
2.2. Các ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng công nghệ và thiết bị hệ
thống xử lý nguồn nước bị ô nhiễm phục vụ sinh hoạt trên địa bàn thị trấn
Bến Quan, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
Việc sử dụng công nghệ và thiết bị hệ thống xử lý nguồn nước sông bị ô
nhiễm phục vụ sinh hoạt trên địa bàm thị trấn Bến Quan có nhiều ưu điểm như:
Cung cấp đủ và đảm bảo chất lượng lượng nước sinh hoạt cho bà con trong thị
http://facebook.com/windsvnl
11
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
trấn; Hệ thống dây chuyền công nghệ và thiết bị đơn giản, dễ vận hành, sửa chữa
và quản lý.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số nhược điểm sau: Các thao tác vệ sinh,bảo
dưỡng thiết bị chủ yếu bằng thủ công nên mất nhiều sức lao động;
Nhu cầu dùng nước của công đồng dân cư trên địa bàn thị trấn còn ít nên
công suất trạm bơm nhỏ việc xử lý nước đành phải gián đoạn 2 ngày thì trạm
tiến hành bơm và xử lý một lần.
Trong công nghệ xử lý nước, chất lượng nước chưa được tiến hành kiểm tra
thường xuyên do không có phòng hóa nghiệm tại chỗ. Trong nhiều chỉ tiêu liên
quan đến chất lượng nước thì chỉ kiểm tra được hai thông số là độ pH và nồng
độ Clo trong nước.
Khu pha hóa chất chưa được trang bị các bộ phận thông gió, chiếu sáng.
Rất nguy hiểm khi người công nhân vận hành. Đồng thời, khi định lượng hóa
chất bằng Clo người công nhân không mang khẩu trang phòng độc. Điều này
ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe.
http://facebook.com/windsvnl
12
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
PHẦN 3
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM
VI NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu công nghệ và thiết bị hệ thống xử lý nước sinh hoạt phù hợp
với quy mô hộ gia đình tại thị trấn Bến Quan, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Nguồn nước mặt ( nước sông) bị ô nhiễm ở thị trấn Bến Quan, huyện Vĩnh
Linh, tỉnh Quảng Trị.
Công nghệ và thiết bị hệ thống xử lý nước cấp sinh hoạt cho quy mô hộ gia
đình tại xí nghiệp cấp nước Bến Quan, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công nghệ và thiết bị hệ thống xử lý nước sinh hoạt phù hợp
với quy mô hộ gia đình tại thị trấn Bến Quan, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Thời gian: Từ ngày 06/01 đến ngày 09/05/2010
Địa điểm nghiên cứu: Xí nghiệp cấp nước sinh hoạt thị trấn Bến Quan,
huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp tiếp cận thông tin trực tiếp và gián tiếp
Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Thu thập số liệu từ mạng internet, từ sách xuất bản, từ báo, tạp chí và một
số tài liệu khác.
Các số liệu được thu thập trên các tại liệu chính thống có cơ sở khoa học và
được lựa chọn để kiểm tra.
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tính toán các thiết bị keo tụ - tạo bông, thiết bị lắng, thiết bị lọc
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu thống kê
PHẦN 4
http://facebook.com/windsvnl
13
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tình trạng các nguồn nước sông, giếng khoan, giếng đào ở thị trấn Bến
Quan, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
4.1.1. Tình trạng nguồn nước sông
Sông Sa Lung chảy qua địa phận thị trấn Bến Quan có lượng nước dồi dào,
Ngoài ra, còn có một số ao, hồ cung cấp một lượng nước lớn cho sản xuất nông
nghiệp trong vùng. Chất lượng nước sông trước đây tương đối tốt, hàm lượng
các chất rắn lơ lửng trong nước nhỏ, hàm lượng rong, tảo trong nước ít nên độ
màu thấp, nước có độ đục thấp Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình trạng
gia tăng dân số quá nhanh, chặt phá rừng đầu nguồn, khai thác vàng bừa bãi làm
cho chất lượng nước sông xấu đi nhiều. Nước có độ đục cao nhất là vào mùa
mưa, lũ lụt dâng cao gây xói mòn, sụt lún hai bên bờ sông. Mùa hè, mực nước
trong sông giảm đi nhiều. Chất lượng nước sông còn chịu ảnh hưởng của sản
xuất công nghiệp địa phương, lượng nước thải từ xưởng chế biến mủ cao su thải
vào nước sông làm cho nước sông có mùi hôi thối khó chịu.
Tình trạng chất lượng nước sông bị ô nhiễm do hàm lượng cặn gia tăng, độ
màu, mùi vị biến đổi theo chiều hướng xấu, nên muốn sử dụng nguồn nước sông
cấp cho sinh hoạt thì phải dùng công nghệ xử lý để làm sạch nước.
4.1.2. Tình trạng nguồn nước trong giếng khoan, giếng đào
Do cấu tạo địa hình đất đai vùng đồi núi, nên muốn khai thác nguồn nước
ngầm ở tầng nông phục vụ sinh hoạt người ta phải đào hay khoan giếng ở độ sâu
lớn và khó khăn. Thị trấn Bến Quan có 996 hộ dân, trong số đó có 100 hộ sử
dụng giếng khoan, còn lại là sử dụng giếng đào để lấy nước sinh hoạt.
Chất lượng nước giếng ở đây cũng tương đối tốt. Độ trong cao, nước ít bị
nhiễm phèn, sắt, hàm lượng cặn ít dùng làm nước ăn uống, sinh hoạt rất tốt.
Trong 4 năm trở lại đây, nguồn nước giếng tại thị trấn bị giảm đi nhiều, hàm
lượng sắt, mangan trong nước tăng, nước bị nhiễm phèn gây khó khăn trong sinh
hoạt. Mùa hè, mực nước giếng giảm gây tình trạng thiếu nước trầm trọng. Mùa
mưa, nước giếng bị nhiễm đục dài ngày nên người ta phải lọc qua các bể lọc cát
trước khi sử dụng. Ngoài ra, một số thôn xóm trong thị trấn sống trên vùng đất
trước kia là kho thuốc trừ sâu của nông trường nên nguồn nước giếng bị nhiễm
các hóa chất độc hại gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân rất nghiêm
trọng. Với đà phát triển công nghiệp của địa phương, sự gia tăng dân số, tình
hình biến đổi khí hậu như hiện nay nguồn nước giếng không thể đảm bảo về số
http://facebook.com/windsvnl
14

Xem chi tiết: 245508


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét