* Đối với khách hàng
Sự linh hoạt trong phương thức TTKDTM tiết kiệm thời gian mua, giá trị
thanh toán cao hơn, an toàn và tiện lợi hơn.
* Đối với ngân hàng
Lợi ích mà phương thức TTKDTM đem lại cho các ngân hàng là lợi
nhuận thu từ phí dịch vụ. Đây là một phần thu nhập có tính ổn định so với các
hoạt động dịch vụ khác. Sau lợi nhuận, khả năng cung cấp dịch vụ toàn cầu là
lợi ích lớn nhất cho ngân hàng. Tiếp đến là tạo hiệu quả cao trong thanh toán.
* Đối với ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng là một ngành kinh tế tổng hợp có nhiệm vụ thực hiện các chính
sách của Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán. Vai trò quản lý vĩ mô của
Nhà nước đã thực sự phát huy tác dụng đầy đủ khi phần lớn khối lượng thanh
toán của toàn xã hội tập trung qua ngân hàng. Phương thức TTKDTM giúp ngân
hàng Nhà nước có điều kiện thực hiện tốt các chính sách tiền tệ, đẩy lùi lạm phát
góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế.
3. Một số phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay
Cùng với sự phát triển đa dạng trong phạm vi khác nhau của các phương
tiện thanh toán trong hoạt động ngân hàng nhằm phục vụ cho các đối tượng khác
nhau, thì phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt cũng có nhiều loại nhưng
phổ biến nhất là 6 loại sau:
- Séc (séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc được bảo lãnh): là một tờ mệnh
lệnh vô điều kiện do chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất
định trên tài khoản tiền gửi của mình ở tại ngân hàng để trả cho người thụ
hưởng.
- Ủy nhiệm chi: là lệnh chi tiền cảu chủ tài khoản cho ngân hàng trích tài
khoản của mình để trả cho đơn vị hoặc cá nhân được hưởng.
- Ủy nhiệm thu: là phương tiện thanh toán mà người được hưởng ủy
nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá, dịch vụ cung ứng.
- Thư tín dụng (L/C): là chứng từ thể hiện sự cam kết thanh toán tiền hàng
hoá dịch vụ của ngân hàng bên mở L/C (ngân hàng người mua) đối với người
bán khi họ thực hiện giao hàng và xuất trình đầy đủ chứng từ theo đúng nội
dung ghi trong L/C.
- Thẻ thanh toán: là một phương tiện hiện đại do các ngân hàng hoặc các
tổ chức phát hành cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ
và ứng rút tiền mặt.
- Ngân hàng thanh toán: là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do
ngân hàng Nhà nước phát hành. Ngân phiếu thanh toán có mệnh giá và thời hạn
in sẵn, không ghi tên, chuyển nhượng dễ dàng.
II. TỔNG QUAN VỀ THẺ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ
Xuất phát từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ
dựa trên uy tín của khách hàng đối với các tiệm này, năm 1914 chiếc thẻ đầu
tiên trên thế giới xuất hiện, cung cấp cho khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ
thanh toán trả chậm bởi tổ chức chuyển tiền của Mỹ Wesstern Union. Cũng tại
Mỹ năm 1946 thẻ ngân hàng John Biggins có tên là Oharg - It xuất hiện cho
phép các khách hàng thực hiện giao dịch nội địa tại các đại lý bằng các "phiếu"
có giá trị do ngân hàng hành. Thẻ Dinners-club được hình thành vào năm 1950
đến năm 1958 thẻ America Express ra đời và hiện nay đang là một tổ chức thẻ
du lịch giải trí lớn nhất thế giới hướng tới khách hàng là tầng lớp trung lưu và
thượng lưu trong xã hội.
Vào năm 1966 ngân hàng Bank of Merica chính thức trao quyền phát hành
thẻ Bank Mericard của mình cho các ngân hàng khác. Thẻ tín dụng lúc này
không chỉ dành cho những đối tượng giàu mà dần trở thành phương tiện thanh
toán thông dụng. Năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of Merica thật sự được
chấp nhận trên toàn cầu và thay bởi Bank Mericard bằng tên thẻ VISA.
Năm 1979 Marter Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn có
tên là Marter card
Ngày nay VISA Card và Marter card là 2 loại thẻ được lưu hành phổ biến
nhất trên thế giới. Đến cuối năm 1990, có khoảng 257 triệu thẻ Visa card được
lưu hành với doanh thu 354 tỷ USD.
Còn Marter Card đến cuối năm 1993 có khoảng 215,8 triệu thẻ chiếm 32
tỷ USD và được lưu hành ở 22 nước trên thế giới.
Thẻ ngày càng được xem là một công cụ thanh toán văn minh, thuận lợi
cho giao dịch thương mại. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, thẻ vốn đã
tiện lợi nay càng tiện lợi hơn. Với những tiện ích mang lại, thẻ ngân hàng đã và
đang trở thành phương tiện thanh toán chủ yếu của mọi tầng lớp dân cư tại các
nước phát triển.
2. Khái niệm, đặc điểm cấu tạo và phân loại thẻ
2.1. Khái niệm thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân
hàng phát hành, thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ hoặc để rút tiền mặt từ các máy rút tiền tự động ATM (Antomated Teller
Machine) hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi
hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
2.2. Đặc điểm cấu tạo thẻ
Hầu hết các loại thẻ quốc tế hiện nay đều được làm bằng plaotic với 3 lớp
ép sát, lõi thẻ được làm bằng nhựa trắng cứng nằm giữa 2 lớp tráng mỏng, màu
sắc của thẻ thay đổi tùy theo ngân hàng phát hành và tùy theo quy định thống
nhất của mỗi tổ chức phát hành thẻ. Kích thước tiêu chuẩn quốc tế là 55mm x
85mm dày 1mm có 4 góc lượn tròn. Thẻ gồm 2 mặt, mỗi mặt của thẻ là những
thông tin và ký hiệu khác nhau cụ thể là:
- Mặt trước của thẻ:
• Nhãn hiệu thương mại của thẻ
• Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ
• Số thẻ, tên chủ thẻ được in nổi
• Ngày hiệu lực của thẻ
Ngoài ra còn một số đặc điểm khác nhau như: hình của chủ thẻ, hình nổi
không gian ba chiều, còn chíp (với thẻ thông minh)
- Mặt sau thẻ:
• Giải băng từ chứa các thông tin đã được mã hóa
• Ô chữ ký dành cho chủ thẻ
2.3. Phân loại thẻ
2.3.1. Phân loại theo công nghệ sản xuất
- Thể khắc chữ nổi: trên bề mặt được khắc nổi những thông tin cần thiết,
ngày nay không còn sử dụng nữa vì nó thô sơ dễ bị lợi dụng.
- Thẻ bằng từ: sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một giải bằng từ chứa
2 rãnh thông minh.
- Thẻ thông minh: đây là hệ thống mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật xử
lý tin học, gắn vào thẻ một "chíp" điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn
hảo.
2.3.2. Theo chủ thể phát hành
- Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho
khách hàng sử dụng linh động tài sản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số
tiền do ngânhàng cấp tín dụng
- Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: đó có thể là loại thẻ du lịch,
giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc cũng có thể là thẻ do các Công ty
xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành.
2.3.3. Theo tính chất thanh toán của thẻ
- Thẻ tín dụng (Credit card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo
đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng nhất định. Chủ thẻ được
phép chi tiêu trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
- Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn với tài
khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ. Thẻ này không có hạn mức tín dụng.
2.3.4. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
- Thẻ nội địa: là thẻ được sử dụng trong phạm vi quốc gia, chủ yếu cho
mục đích tiêu dùng, do vậy đồng tiền sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa
hay rút tiền phải là đồng bản tiền nước đó.
- Thể quốc tế: là loại thẻ do các tổ chức quốc tế phát hành, sử dụng các
loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, thẻ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu.
2.3.5. Theo mục đích và đối tượng sử dụng
- Thẻ kinh doanh (Bursiness card): là loại thẻ phát hành cho nhân viên
Công ty sử dụng
- Thẻ du lịch, giải trí: là loại thẻ phát hành phục vụ du lịch, giải trí.
2.3.6. Phân loại theo hạn mức của thẻ
- Thẻ vàng (Gold card): thẻ được phát hành cho những đối tượng uy tín,
có khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu lớn. Hạn mức tín dụng của
thẻ này lớn.
- Thẻ thường (Standard card): là loại thẻ tín dụng mang tính phổ thông,
được sử dụng rộng rãi trên thế giới, hạn mức tín dụng thấp hơn Gold card.
3. Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ qua ngân hàng thương mại
3.1. Các thành phần tham gia thanh toán thẻ:
* Ngân hàng phát hành thẻ: là ngân hàng được phép thực hiện nghiệp vụ
phát hành thẻ, chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành
thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ. Đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng
với chủ thẻ.
* Ngân hàng thanh toán (NHTT): là ngân hàng được NHPHT ủy quyền
thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ theo hợp đồng, có thể là thành viên chính thức
hoặc thành viên liên kết của một tổ chức thẻ quốc tế, thực hiện dịch vụ thanh
toán theo thỏa ước với tổ chức đó. NHTT thẻ ký hợp đồng trực tiếp với CSCNT
để tiếp nhận và xử lý các giao dịch thẻ, cung cấp dịch vụ hỗ trợ, hướng dẫn cho
CSCNT.
* Cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT): là tổ chức hay cá nhân bán hàng hoá
dịch vụ có ký kết với NHTT về việc chấp nhận thanh toán thẻ. Các đơn vị này
Ngân hàng phát hành
3. Tại chi nhánh chuyển về TT thẻ
2. Thẩm định, quyết định phát hành
1. Tiếp nhận yêu cầu
4. Tại TT thẻ
5. Nhận DLPH
6. Chạy Batch
7. Mã hóa, in nổi
8. Mailing9. Nhận thẻ từ TT
được trang bị máy móc, kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền hàng hóa dịch
vụ trả thay cho tiền mặt.
* Chủ thẻ: là cá nhân hoặc tổ chức ngân hàng phát hành thẻ cung cấp thẻ
để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
3.2. Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ (Sơ đồ 1)
Sơ đồ 1: Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ mới
1): Khách hàng đến ngân hàng làm thủ tục cấp thẻ, ngân hàng thương dẫn
khách hàng làm theo mẫu và nộp lại cho ngân hàng.
2): Xét duyệt yêu cầu phát hành thẻ
3): Ngân hàng gửi hồ sơ về trung tâm phát hành thẻ
Chủ thẻ ĐVCNT
NHPH NHTT
(4) Gửi bảng kê cho chủ thẻ(7) thanh toán tiền mặt (5) Nhận tiền theo hóa đơn(2) Chuyển hóa đơn giao dịch
(3) Gửi hóa đơn thanh toán
(6) Chuyển tiền
4), 5), 6), 7), 8): Tại trung tâm, các thông tin về khách hàng được mã hóa,
sau đó trung tâm gửi kèm theo số PIN cho chủ thẻ thông qua ngân hàng phát
hành.
9): Nhận được thẻ từ trung tâm. NHPH xác nhận bằng văn bản có chữ ký
của trưởng phòng nghiệp vụ hoặc người được ủy quyền cho trung tâm làm thẻ.
Ngân hàng phát hành sẽ hạch toán:
Nợ: TK tiền mặt tại quỹ
Có: TK tiền gửi sử dụng thẻ của khách hàng (Phần khách hàng ký
quỹ tại ngân hàng)
Có: TK thu nhập từ hoạt động kinh doanh (phí phát hành thẻ)
Có: TK thuế GTGT phải nộp.
* Phát hành thay thế, in lại, nâng cấp thẻ: tai NHPH thẻ khi nhận được
yêu cầu in lại hay thay thế thì cần kiểm tra lại các thông tin và các điều kiện đảm
bảo như tiền ký quỹ hoặc thế chấp (nếu có).
3.3. Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ (Sơ đồ 2)
Sơ đồ 2: Quy trình thanh toán thẻ
* Thanh toán thẻ tại ĐVCNT hoặc theo điểm ứng tiền mặt (ĐƯTM)
ĐVCNT phải kiểm tra mọi thông tin cần thiết trước khi giao dịch
Nếu giá trị giao dịch hàng hoá dịch vụ nhỏ hơn hạn mức thanh toán:
ĐVCNT có thể không xin cấp phép mà tiến hành giao dịch luôn (nhưng vẫn phải
kiểm tra đối chiếu với danh sachs thẻ cấm lưu hành).
Nếu ngược lại ĐVCNT phải liên hệ với NHPH để xin cấp phép các giao
dịch bằng các phương tiện có thể như điện thoại, telex
* Thanh toán tại NHTT thẻ
- Thanh toán với ĐVCNT
Sau khi thực hiện giao dịch với chủ thẻ xong, ĐVCNT thực hiện việc
thanh toán với NHTT:
Hạch toán: Nợ: TK tạm ứng
Có: TK thích ĐVCNT
- Thanh toán với NHPH
+ NHTT gửi giữ liệu thanh toán thẻ tới NHPH
+ NHTT nhận được lệnh chuyển Có hoặc báo cáo số tiền và số giao dịch
được thanh toán từ NHPH gửi về. Tiến hành đối chiếu báo cáo thanh toán thẻ
gửi đi.
Hạch toán: Nợ: TK thanh toán với NHTM
Có: TK tạm ứng
* Thanh toán tại NHPH thẻ
NHPH thẻ tiếp nhận thông tin yêu cầu thanh toán từ NHTT, ghi Nợ cho
chủ thẻ, gửi lệnh chuyển Có cho NHPH
Nợ: TK thích hợp (chủ thẻ)
Có: TK thanh toán vốn với NHTT
III. YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ
1. Yếu tố khách quan
1.1. Môi trường pháp lý
Kinh doanh thẻ cũng giống như bất kỳ một hoạt động nào khác, nó bị ảnh
hưởng rất nhiều bởi các văn bản. Nếu môi trường pháp lý không thống nhất,
đồng bộ sẽ không đảm bảo được lợi ích của hoạt động kinh doanh thẻ.
1.2. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Thẻ ngân hàng được xây dựng và vận hành dựa trên sự tiến bộ vượt bậc
của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ thông tin, đem lại nhiều tiện ích kỳ
diệu. Thẻ ngày càng đem lại những tính năng mới an toàn, thuận tiện nhanh
chóng hiệu quả cho chủ thể nhờ sự phát triển của công nghệ.
1.3. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
* Thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch: từ lâu thói quen sử dụng
tiền mặt đã ăn sâu vào cuộc sống của người dân Việt Nam. Khi đưa dịch vụ thẻ
vào thị trường thanh toán, đa số người dân vẫn còn bỡ ngỡ và chưa hoàn toàn
tien tưởng vào những tính năng ưu việt mà thẻ đem lại.
* Thu nhập của người dân: điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
của thị trường thẻ. Với khoản thu nhập hàng tháng ít ỏi chỉ đủ cho chi tiêu trong
tiêu dùng hàng ngày, họ sẽ muốn thanh toán bằng tiền mặt hơn là sử dụng công
cụ thanh toán hộ.
* Trình độ dân trí: thẻ đã xuất hiện trên thị trường thế giới từ rất lâu,
nhưng mới chỉ có mặt trên thị trường thương mại Việt Nam gần đây, nên chưa
thực sự thu hút được sự quan tâm của người dân. Người dân vẫn chưa biết được
tiện ích mà sản phẩm thẻ mang lại. Do vậy muốn người dân có thể đến với dịch
vụ thẻ thì đòi hỏi phải hiểu được thẻ là ghì và ý nghĩa của nó như thế nào trong
việc giao dịch thanh toán. Để làm được điều đó yêu cầu người dân phải được
trang bị kiến thức và trình độ nhất định, tăng khả năng tiếp cận và sử dụng thẻ.
2. Các yếu tố chủ quan:
2.1. Khả năng vốn đầu tư của các ngân hàng
Vốn đầu tư là điều đóng vai trò rất quan trọng và là điều kiện đầu tiên đối
với các ngân hàng trong bước đầu triển khai dịch vụ thẻ. Hoạt động ngân hàng
đòi hỏi một lượng vốn lớn trong việc đầu tư trang thiết bị hiện đại, đào tạo
nguồn nhân lực bài bản
2.2. Trình độ của cán bộ trực tiếp điều hành dịch vụ thẻ
Cần có đội ngũ cán bộ có năng lực, sáng tạo, nhiệt huyết với công việc.
Nhưng hiện nay đội ngũ cán bộ của dịch vụ thẻ vẫn còn bỡ ngỡ, ít kinh nghiệm
và chưa thực sự cập nhật thông tin về loại hình kinh doanh hiện đại này.
2.3. Môi trường cạnh tranh
Có thể nói cạnh tranh là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của loại hình kinh
doanh thẻ, nó đòi hỏi sự nghiên cứu tìm tòi nâng cấp và đổi mới các sản phẩm
thẻ. Vì vậy các ngân hàng phải hết sức chú ý để đảm bảo tính cạnh tranh của sản
phẩm và lợi nhuận của ngân hàng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét