Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản

Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Mạng Internet sử dụng giao thức TCP/IP: TCP/IP được thiết kế để có thể kết nối các
thiết bị máy tính khác nhau, là ngôn ngữ chung để các hệ máy tính khác nhau có thể trao
đổi, liên lạc, chuẩn này được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các hệ thống máy tính bởi
những đặc điểm ưu việt của nó và chức năng phụ trợ có thể cài đặt thêm vào. Mạng Internet
bao gồm rất nhiều kênh kết nối khác nhau mà các gói dữ liệu sẽ được lưu chuyển trên đó,
các kênh được giao tiếp với nhau bằng chuẩn TCP/IP. Nhờ đó tất cả các máy tính trên
mạng Internet có thể kết nối với nhau. Ngoài ra TCP cung cấp khả năng truyền không lỗi
từng gói dữ liệu gởi đi đến máy nhận, giao thức này phải có trách nhiệm thông báo và kiểm
tra xem dữ liệu có đến đủ hay chưa, có lỗi hay không có lỗi. Trước khi chuyển dữ liệu bao
giờ cũng có việc thiết lập kênh truyền giữa hai máy. Do phải duy trì mối kết nối và kiểm tra
dữ liệu nên sử dụng TCP phải đòi hỏi chiếm thêm một số tài nguyên và cách lập trình cho
giao thức này hơi khó (phải thực hiện các bước kiểm tra dữ liệu theo yêu cầu của TCP).
Truyền dữ liệu theo giao thức TCP thường áp dụng cho các dịch vụ như truyền tập tin, các
dịch vụ trực tuyến trên Internet đòi hỏi có độ chính xác cao.
Địa chỉ IP: Để có thể thực hiện truyền tin giữa các máy tính trên mạng, mỗi máy
trên mạng Internet đều có một tên riêng và một địa chỉ dạng số tương ứng gọi là địa chỉ IP.
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
5
Hình 3: Mô hình kết nối TCP/IP
Start
App
Server
Client
Create the socket
Create the server
socket
Accept New Connection
Acquire Stream and
Conduct Conversation
Acquire Stream and
Conduct Conversation
Close Stream and
Socket
Close Stream and Socket
Start
App
Continue?
yesno
Disconnect
Connect attempt
Exchange data
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Tên được thiết kế để giúp cho việc truy cập được dễ dàng cho người sử dụng. Địa chỉ IP
dùng cho các máy tính và các thiết bị mạng liên lạc với nhau.
Tất cả các máy trong hệ thống mạng (LAN, WAN, Internet) đều có ít nhất 2 địa chỉ:
địa chỉ vật lý và địa chỉ Internet. Ðịa chỉ vật lý còn được gọi là Ethernet address là một dãy
bit gồm 48 bit được gán bởi các nhà sản xuất, địa chỉ này được biểu diễn dưới dạng số thập
lục phân (hecxa).
Như thế mỗi card mạng (interface card) có một địa chỉ duy nhất địa chỉ này được
quy định từ nhà sản xuất card mạng. Tuy nhiên địa chỉ vật lý không thể hiện khả năng xác
định vị trí của hệ thống trên mạng. Ðể giải quyết vấn đề đó người ta đưa ra địa chỉ IP(IP
Address).
Ðịa chỉ IP phải là duy nhất trên mạng và có một dạng thống nhất, mỗi địa chỉ IP
gồm có 4 byte và có 2 thành phần: địa chỉ đường mạng (Network ID) và địa chỉ host (Host
ID).
Phân loại địa chỉ IP:
Có tất cả 5 lớp địa chỉ IP nhưng hiện nay có 3 lớp được sử dụng là lớp A, B, và C.
 Lớp A: Dùng cho hệ thống mạng có số lượng địa chỉ host rất lớn, số lượng này có
thể lên đến 16 triệu địa chỉ host. Ðể có thể nhận biết địa chỉ thuộc lớp nào người ta căn cứ
vào bit đầu tiên trong phần network ID
 Lớp B: Dùng cho hệ thống mạng trung bình số lượng Host ID lên đến khoảng 65
ngàn. Ðịa chỉ lớp B được nhận biết qua bit đầu tiên trong phần Network ID bit đầu tiên có
giá trị 1. Phần Network ID có 16 bit và phần Host ID có 16 bit.
 Lớp C: Ðịa chỉ lớp C dùng cho mạng nhỏ có số lượng máy không vượt quá 254 máy.
Có thể nhận biết địa chỉ lớp C thông qua 2 bit đầu tiên trong phần Network ID, hai bit này
được bật lên 1.
I.1.4. CÁC DỊCH VỤ KẾT NỐI ĐẾN INTERNET
Muốn truy nhập Internet bạn phải đăng ký kết nối. Có nhiều phương pháp để có thể
đăng ký kết nối. Ba phương pháp phổ biến nhất hiện nay là: Dịch vụ trực tuyến, nhà cung
cấp dịch vụ Internet (ISP) và truy cập trực tuyến.
a. Dịch vụ trực tuyến (online service)
Là một doanh nghiệp: như AOL, CompuServe, Microsoft Network (MSN), cung
cấp nhiều dịch vụ truyền thông, trong đó có truy cập Internet. Khi sử dụng dịch vụ trực
tuyến, bạn chạy chương trình kết nối của họ để đăng nhập dịch vụ do họ cung cấp, đến lúc
kết nối để chạy Internet Explorer. Dịch vụ trực tuyến thu cước phí hàng tháng (chưa áp
dụng cho người ở Việt Nam).
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
6
Network
ID
Host ID
32 bits(4 byte)
Địa chỉ IP
Class ID
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
b. Nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)
Là một công ty nhỏ hơn, chuyên dụng hơn, cung cấp tùy chọn không nhiều bằng dịch
vụ trực tuyến. ISP cho phép truy nhập Internet theo giờ với cước phí thấp hoặc truy cập
không giới hạn với cước phí cao hơn. Họ còn cấp cho khách một tài khoản E-mail. Ở Việt
Nam hiện có ba dịch vụ ISP đang hoạt động: VNN, FTP và NetNam.
c. Truy nhập trực tuyến (direct access)
Khả dụng ở nhiều học viện giáo dục hoặc công ty lớn. Thay vì sử dụng Modem, những
tổ chức này thuê bao một đường truyền chuyên dụng để cung cấp truy nhập Internet 24/24
giờ.
I.2. CÁC DỊCH VỤ THÔNG TIN TRÊN INTERNET
I.2.1. DỊCH VỤ MIỀN (DNS: Domain Name System)
Việc định danh các phần tử của liên mạng bằng các con số như trong địa chỉ IP rõ
ràng là không làm cho người sử dụng hài lòng, bởi chúng khó nhớ, dễ nhầm lẫn. Vì thế
người ta đã xây dựng hệ thống đặt tên (name) cho các phần tử của Internet, cho phép người
sử dụng chỉ cần nhớ đến các tên chứ không cần nhớ đến các địa chỉ IP nữa. Ta có thể biết
thêm thông tin cách hoạt động của dịch vụ này thông qua RFC 1035.
Hệ thống này được gọi là DNS (Domain Name System). Ðây là một phương pháp
quản lý các tên bằng cách giao trách nhiệm phân cấp cho các nhóm tên. Mỗi cấp trong hệ
thống được gọi là một miền (domain), các miền được tách nhau bởi dấu chấm. Số lượng
domain trong một tên có thể thay đổi nhưng thường có nhiều nhất là 5 domain. Domain có
dạng tổng quát là local-part@domain-name.
trong đó :
+ Local-part thường là tên của một người sử dụng hay nhóm người sử dụng do
người quản lý mạng nội bộ qui định.
+ Còn domain-name được gán bởi các Trung tâm thông tin mạng (NIC) các cấp.
Domain cấp cao nhất là cấp quốc gia, mỗi quốc gia được gán một tên miền riêng biệt gồm
hai chữ cái. Ví dụ vn (Việt Nam), us (Mỹ), ca (Canada), fr (Pháp), v.v Trong từng quốc
gia lại được chia thành 6 domain cao nhất và tiếp tục đi xuống các cấp thấp hơn.
Domain Phạm vi sử dụng
gov các tổ chức chính phủ (phi quân sự)
edu các cơ sở giáo dục
com các tổ chức kinh doanh, thương mại
mil các tổ chức quân sự
org các tổ chức khác
net các tài nguyên mạng
I.2.2. ĐĂNG NHẬP TỪ XA (TELNET)
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
7
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Là một chương trình dùng giao thức Telnet. Nó là một phần của bộ giao thức
TCP/IP. Nó cho phép người sử dụng từ một trạm làm việc của mình có thể đăng nhập vào
một mạng ở xa qua mạng và làm việc với hệ thống y như một trạm cuối, nói trực tiếp với
trạm ở xa đó. Telnet là một giao thức tương đối đơn giản so với các chương trình phỏng tạo
của trạm cuối phức tạp hiện nay.
Máy tính ở xa, còn được gọi là Telnet, sẽ chấp nhận nối kết Telnet từ một máy tính
trên một hệ thống TCP/IP. Bởi vì Internet là một mạng TCP/IP, Telnet sẽ làm việc một
cách hài hoà giữa các máy tính nối đến nó nếu như dịch vụ Telnet được cài đặt trên máy
tính của bạn. Các thành phần Telnet và Server thỏa thuận trong cách mà chúng sẽ dùng kết
nối. Vì thế mặc dù các hệ thống không cùng loại chúng vẫn tìm thấy một ngôn ngữ chung.
Telnet cũng có những giới hạn của nó, nếu lưu thông trên mạng kết nối từ xa có thể khiến
cho sự cập nhật từ màn hình trở nên chậm hơn. Telnet thường dùng cho các mục đích công
cộng và thương mại, cho phép những người dùng ở xa tìm kiếm các cơ sở dữ liệu lớn, phức
tạp và nó cũng là nguồn tài nguyên có giá trị trong giáo dục giúp cho việc nghiên cứu của
bạn trở nên hấp dẫn hơn.
Ðể khởi động Telnet, từ trạm làm việc của mình người sử dụng chỉ việc gõ:

I.2.3. TRUYỀN TỆP (FTP: File Transfer Protocol)
Là dịch vụ truyền tập tin (tệp) trên Internet. FTP cho phép dịch chuyển tập tin từ
trạm này sang trạm khác, bất kể trạm đó ở đâu và sử dụng hệ điều hành gì, chỉ cần chúng
đều được nối với Internet và có cài đặt FTP. FTP là một chương trình phức tạp vì có nhiều
cách khác nhau để xử lý tập tin và cấu trúc tập tin và cũng có nhiều cách lưu trữ tập tin
khác nhau. Để khởi tạo FTP từ trạm làm việc của mình người sử dụng chỉ gõ:
FTP<domain name or IP address>
FTP sẽ thiết lập liên kết các trạm xa và bạn sẽ đăng nhập vào hệ thống
(login/password). Vì FTP cho phép truyền tập tin theo cả hai chiều. Để chuyển tập tin của
mình đến trạm ở xa dùng lệnh put và ngược lại dùng lệnh get để lấy thông tin về. Ngoài ra
trong một số trường hợp nó có thể đổi tên, tạo, xoá thư mục….FTP Client sử dụng dịch vụ
để lấy (get) các tập tin từ FTP Server về máy của mình (download) hoặc gởi (put) các tập
tin lên FTP server (upload).
FTP theo nghĩa tiếng việt là nghi thức truyền tập tin giữa các máy tính này đến máy
tính khác thông qua mạng. Nếu như nghi thức TCP/IP gồm có các lớp Application, TCP,
IP, Network, Datalink và Physical thì FTP thuộc lớp ứng dụng (Application).
WWW là một dịch vụ hấp dẫn, nó thay thế hầu hết những chức năng của FTP. Tuy
nhiên chỉ có FTP mới cho phép sao chép tập tin từ máy tính Client đến Server. Nếu một
người dùng từ xa muốn làm điều này thì chắc chắn họ phải dùng FTP. Những loại tập tin có
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
8
telnet <domain-name or IP-address>
ftp>put source-file destination-file
ftp>get source-file destination-
file
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
thể truyền được bằng FTP rất phong phú, từ các tập tin tư liệu (Document) cho đến các tập
tin Multimedia như tập tin hình ảnh, âm thanh.
I.2.4. THƯ ĐIỆN TỬ (Electronic Mail)
Là dịch vụ được sử dụng nhiều nhất và có hiệu quả nhất. Người gởi chỉ cần soạn
thảo thư (giống như soạn thảo văn bản). Khai báo địa chỉ E-mail của người nhận trên
Internet rồi thực hiện một số thao tác theo mẫu hướng dẫn. Bức thư điện được chuyển đi
và cuối cùng lưu trữ trong máy của người nhận. Người nhận cũng chỉ thực hiện một số thao
tác đơn giản để lấy thư, đọc thư và nếu cần thì cho in ra. Cách liên lạc này thuận tiện hơn
nhiều so với gởi thư thông thường qua bức điện hoặc Fax, lại rẻ và nhanh hơn. Cách thực
hiện việc chuyển thư không cần phải kết nối trực tiếp với nhau để chuyển thư, thư có thể
được chuyển từ máy này đến máy khác cho tới máy đích. Giao thức truyền thống sử dụng
cho hệ thống thư điện tử của Internet là SMTP (Simple Mail Transfer Protocol). Cơ chế
hoạt động của thư điện tử (E-mail):
Hình 4: Sơ đồ hoạt động của mạng E-mail
Giao thức SMTP (Single Message Transfer Protocol) đặt tả trong hai chuẩn là trong
RFC 822 (định nghĩa cấu trúc của thư ) và RFC 821(đặt tả giao thức trao đổi thư giữa hai
mạng). Là giao thức cơ bản để chuyển thư giữa các máy Client, SMTP có một bộ gởi thư,
một bộ nhận thư và một tập hợp lệnh dùng để gởi thư từ người gởi đến người nhận.
Cứ mỗi trạm E-mail thường bao gồm hai dịch vụ: POP3 (Post Office Protocol
Version 3) có nhiệm vụ nhận/trả thư từ/tới e-mail client và dịch vụ SMTP (Simple E-mail
Transfer Protocol) có nhiệm vụ nhận/phân phối thư từ/đến POP3 đồng thời trao đổi thư với
các trạm e-mail trung gian.
Mỗi người dùng đều phải kết nối với một E-mail Server gần nhất (đóng vai trò bưu
cục địa phương) phải có một tên (E-mail account) trên một trạm E-mail và sử dụng chương
trình E-mail client (ví dụ như Eudora, Netscape ). Sau khi soạn thảo xong thư và đề rõ địa
chỉ đích (người nhận) rồi gửi thư tới E-mail Server của mình. E-mail Server này có nhiệm
vụ sẽ tự động kiểm tra và định hướng chuyển thư tới đích hoặc chuyển thư tới một E-mail
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
9
Trạm E-mail 1 Trạm E-mail 2 Trạm E-mail N
SMTP
Service
POP3 Service
SMTP
Service
POP3 Service
SMTP
Service
POP3 Service
E-mail Client E-mail Client E-mail Client
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Server trung gian khác. Thư chuyển tới E-mail Server của người nhận và được lưu ở đó.
Đến khi người nhận thiết lập tới một cuộc kết nối tới E-mai Server đó thì thư sẽ chuyển về
máy người nhận, nếu không thì thư vẩn tiếp tục giữ lại ở Server đảm bảo không bị mất.
Phần khác của ứng dụng thư điện tử là cho phép người sử dụng đính kèm
(attachments) theo thư một tập tin bất kỳ (có thể dạng nhị phân chẳng hạn chương trình
chạy). E-mail đã và đang hết sức thành công đến nỗi những người sử dụng Internet phục
vụ dùng nó đối với hầu hết các trao đổi của họ. Một lý do làm E-mail Internet phổ biến là
vì việc thiết kế nó rất cẩn thận: giao thức làm cho việc "phát thư" có độ tin cậy cao. Không
chỉ hệ thống thư tín trên máy của người gởi tương tác trực tiếp trên máy của người nhận
mà giao thức còn đặt tả một thông điệp không thể bị xoá bởi người gởi cho đến khi người
nhận đã thật sự có một phiên bản của thông điệp trên bộ lưu trữ (đĩa cứng chẳng hạn) của
họ.
Như vậy để gởi/nhận thư người sử dụng chỉ cần quan tâm tới cách sử dụng chương
trình E-mail Client. Hiện nay có nhiều chương trình E-mail Client như Microsoft Outlook
Express, Eudora Pro, Peagasus mail,
I.2.5. TÌM KIẾM TỆP (Archie)
Phát triển tại đại học McGill ở Canada, Archie là một loại thư viện khổng lồ sẽ tự
động và đều đặn tạo ra một số lớn các thông tin gởi đến máy chủ trên Internet và lập chỉ
mục các tập tin của chúng để tạo ra một cơ sở dữ liệu duy nhất có thể tìm kiếm được.
CSDL này còn là mục lục của dữ liệu danh mục, một sự biên dịch các tập tin có sẵn trên
mọi máy chủ. Archie quét qua các máy chủ Internet một cách thường xuyên, và CSDL này
thường xuyên được cập nhật. Thực sự thì Archie không phải là một hệ thống độc lập, thay
vì vậy nó là một nhóm các máy chủ. Mỗi máy chủ Archie đáp ứng cho sự tra hỏi các máy
chủ Internet của chính nó để tạo nên cơ sở dữ liệu cho chính nó.
I.2.6. GOPHER
Hệ thống Gopher phát triển bởi đại học Minnesota và được miễn phí cho các hoạt
động phi lợi nhuận. Gopher có thể được dùng trên một số hệ thống máy tính như: UNIX,
DOS, Microsoft Windows, Macintosh, OS/2 Phần mềm Client chạy trên máy tính của bạn
có thể chạy trên bất kỳ máy nào của Gopher. Với Gopher bạn có thể đi xuyên qua Internet
và đi đến những nơi mà không có người dùng nào đã từng đi đến, cách mà nó thực hiện bởi
tổng hợp các công cụ Internet như: Telnet, FTP để khi bạn tìm ra một đề mục tương quan
đến những gì bạn đang tìm kiếm, bạn có thể đi trực tiếp đến nó mà không cần một trình tiện
ích, hãy nhập vào địa chỉ của mục tiêu việc tìm kiếm Gopher sẽ lấy tất cả điều này cho
bạn.
I.2.7. TÌM KIẾM THÔNG TIN THEO CHỈ SỐ (WAIS)
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
10
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
WAIS - Wide Area Information Server: nó là một trong những chương trình đầu tiên
dựa vào tiêu chuẩn Z39.50( tiêu chuẩn của American National Standard). Nó là hệ thống
đầu tiên dùng tiêu chuẩn này, nó trở thành một dạng thức tìm kiếm phổ biến, WAIS có thể
nối đến bất kỳ CSDL hoặc máy Client có dùng Z39.50. WAIS cho phép truy tìm kiếm và
truy nhập thông tin trên mạng mà không cần biết chúng đang thực sự nằm ở đâu. WAIS
cung hoạt động theo mô hình client/server. Ngoài ra còn có WAIS Indexer thực hiện việc
cập nhật dữ liệu mới, sắp xếp theo chỉ số để tiện tìm kiếm. Nó không chỉ cho phép hiển thị
tập tin văn bản mà còn những tập tin đồ họa. Nó là nguồn quan trọng giúp cho các nguồn
thông tin trên Internet có thể truy xuất được.
I.2.8. TÌM KIẾM THÔNG TIN DỰA TRÊN SIÊU VĂN BẢN (WWW: World
Wide Web)
Là dịch vụ thông tin mới nhất và hấp dẫn nhất trên Internet. Nó ra đời năm 1989 và
ngày nay nó cấu thành phần lớn nhất của Internet hiện nay dựa trên kỹ thuật biểu diễn
thông tin gọi là siêu văn bản, trong đó các từ được chọn trong văn bản có thể được mở rộng
bất cứ lúc nào để cung cấp đầy đủ hơn thông tin về từ đó. Sự mở rộng ở đây theo nghĩa là
chúng có thể liên kết tới các tài liệu khác: văn bản, hình ảnh, âm thanh hay hỗn hợp các
loại….có chứa thông tin bổ sung. Nói cách khác World Wide Web là phần đồ họa của
Internet. Lúc đầu, Internet là hệ thống truyền thông dựa trên văn bản, việc liên kết với
những site khác có nghĩa là phải gõ những địa chỉ mã hóa với độ chính xác 100%. Công
nghệ World Wide Web xuất hiện như là một vị cứu tinh. Khả năng đặt hình ảnh lên Web
Site bất ngờ làm cho thông tin trên Web trở nên hấp dẫn hơn, lôi cuốn hơn. Ngoài ra HTTP
(Hypertext Transfer Protocol) cho phép trang Web kết nối với nhau qua các siêu liên kết
(hyperlink). Nhờ vậy mà người dùng dễ dàng "nhảy" qua các Web site nằm ở hai đầu trái
đất, World Wide Web chỉ là một phần cấu thành nên Internet ngoài ra còn có rất nhiều
thành phần khác như: E-mail, Gopher, Telnet, Usenet
Web site là gì?
Web hình thành từ hàng triệu Web site trên Internet. Web site là tập hợp trang Web
do cá nhân hoặc công ty đăng ký hiển thị trên Web. Một Web site tiêu biểu thường gồm
nhiều trang Web, bắt đầu bằng trang chủ (home page), liệt kê nội dung của Site. Một Web
site tiêu biểu còn chứa siêu liên kết dẫn đến những trang Web còn lại trong phạm vi site và
đến các web site khác. Các Web site có thể chỉ gồm một trang do cá nhân tạo thành hoặc là
một sản phẩm của công ty và chứa vài trăm trang. Mỗi trang Web có một địa chỉ Internet
không trùng lặp gọi là URL (Uniform Resource Locator). Bạn có thể tạo một Web site bằng
HTML (Hypertext Markup Language), DHTML, XML
HTML là ngôn ngữ lập trình cho phép mọi máy tính kết nối với Web để truy cập và
xem trang Web, định hướng di chuyển qua chúng bằng siêu liên kết. Web site được các
máy tính - gọi là máy phục vụ Web (Web Server) - gởi lên Web. Máy phục vụ và máy tính
cho phép các máy khách truy cập trên mạng. Máy phục vụ thường chia sẻ tập tin với máy
khách nào đăng nhập nó. Máy phục vụ Web sử dụng phần mềm máy phục vụ HTTP để
cung cấp tài liệu HTML khi nhận được yêu cầu từ chương trình trên máy khách kết nối với
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
11
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web, chẳng hạn như trình duyệt Web. Trình duyệt Web (Web Brower) là chương trình cho
phép bạn định vị, yêu cầu và hiển thị tài liệu trên World Wide Web.
Cơ chế hoạt động của Web server
 Máy server Web dùng giao thức HTTP để lấy tài nguyên Web xác định thông qua
URL. HTTP là một giao thức mức ứng dụng được thiết kế sao cho truy cập tài nguyên
Web nhanh chóng và hiệu quả. Giao thức này dựa vào mô hình request-reponse. Dịch vụ
Web xây dựng theo mô hình client/server, trong đó Web browser đóng vai trò là Client gởi
các yêu cầu dưới dạng URL đến Web server. Web server trả lời bằng cách trả về một trang
HTML (Hypertext Markup Language).
 Trang HTML có thể là một trang tĩnh, tức là nội dung của nó đã có dạng xác định và
được lưu trên Web site hoặc một trang Web động (nội dung không xác định trước) mà
Server tạo ra tại thời điểm Client yêu cầu để trả lời cho yêu cầu của Client hoặc một trang
liệt kê các tập tin và thư mục trên Web site.
 Mỗi trang trênIntranet hoặc trên Internet có một URL (Uniform Resource Location)
duy nhất định vị chúng. Web browser yêu cầu một trang bằng cách gửi một URL đến một
Web server. Web server sẽ dùng các thông tin trong URL để định vị và tổ chức một trang
HTML để gửi về cho Web browser.
 Một chuỗi URL nói chung có dạng sau:
<protocol>://<domain_name of Server>/<path>
Trong đó:
 Tiền tố <protocol> chỉ ra giao thức được sử dụng cho dịch vụ. Ví dụ giao thức
HTTP (Hypertext Transport Protocol) được dùng cho dịch vụ Web, giao thức FTP,
gopher,
 <domain_name of Server> là tên DNS (Domain Name System) của máy Web
server.
 <path> là đường dẫn đến thông tin được yêu cầu trên Server.
 Web server sẽ trả một trang HTML về cho Web browser, các trang HTML thuộc một
trong 3 kiểu sau:
 Trang Web tĩnh (Static webpage): là những trang HTML được chuẩn bị sẵn. Web
server chỉ đơn giản là lấy trang này gởi về cho Web browser mà không gọi thi hành một
chương trình hay một script nào khác. Người dùng yêu cầu một trang Web tĩnh bằng cách
nhập vào một chuỗi URL hoặc click chuột vào một siêu liên kết trỏ tới URL.
 Trang Web động (Dynamic web page): là những trang Web được tạo ra tại thời điểm
Client gửi yêu cầu để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng máy Server có thể sẽ gọi chạy
một chương trình khác, sử dụng các API của Server, các ngôn ngữ kịch bản CGI script,
query cơ sở dữ liệu tùy theo các thông tin mà Web browser cung cấp.
 Danh sách liệt kê (Directory listing): Nếu user gửi yêu cầu mà không mô tả một tập
tin cụ thể, thì có thể tạo một trang mặc nhiên cho Web site hay cho một thư mục hoặc cấu
hình Server cho phép duyệt thư mục. Nếu sử dụng trang HTML mặc nhiên cho thư mục thì
trang này sẽ được gửi cho Web browser, còn nếu không có thì một Directory listing (phiên
bản HTML của Windows Explorer hay File Manager chạy trên trình duyệt) được trả về cho
người sử dụng dưới dạng một trang HTML, trong đó mỗi tập tin và thư mục thể hiện như
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
12
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
một siêu liên kết. Sau đó người sử dụng có thể nhảy đến một file bất kỳ bằng cách click vào
siêu liên kết tương ứng trong Directory listing.
I.2.9. DỊCH VỤ CHAT
Chat là tài nguyên được mọi người sử dụng trên Internet ưa chuộng nhất. Nó cho
phép bạn thiết lập các cuộc đối thoại thông qua máy vi tính với người dùng khác trên
Internet. Sau khi bạn đã thiết lập được hệ thống này, những gì bạn gõ trên máy tính của bạn
gần như tức thời được gởi đến máy tính kia và ngược lại. Những cuộc trao đổi thông qua
chương trình Chat là sự đối thoại giữa hai người với nhau thông qua ngôn ngữ viết nên sẽ
chậm hơn so với đối thoại trực tiếp bằng lời nói nhưng có lợi ích nhất là với những người
không cùng ngôn ngữ vì gõ-đọc dễ hơn nghe-nói và trong một số trường hợp khác thì gõ
(viết) dễ hơn là nói.
I.2.10. INTERNET PHONE
Internet phone là một dịch vụ mới được phát triển tại Việt Nam, nó cho phép người
dùng máy tính có kết nối Internet và được trang bị card âm thanh, microphone để đàm thoại
với người dùng máy điện thoại ở bất cứ nơi đâu.
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
13
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Chương II. TÌM HIỂU CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE
II.1. TỔNG QUAN VỀ ORACLE
II.1.1. ORACLE LÀ GÌ?
Oracle là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ client/server. Để đi sâu vào nghiên
cứu cơ sở dữ liệu Oracle cần có một số khái niệm cơ bản về hệ quản trị cơ sở dữ liệu
quan hệ.
1. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ. (RDBMS Relation Database
Management system)
Mỗi cơ sở dữ liệu quan hệ là một tập hợp dữ liệu được tổ chức trong những bảng
hai chiều có quan hệ với nhau. Mỗi bảng bao gồm các cột có tên và các hàng. Mỗi cột là
một thuộc tính của quan hệ, mỗi hàng là một bộ (tuple) các giá trị của những thuộc tính của
quan hệ.
Một RDBMS có nhiêm vụ:
 Lưu trữ và tạo dữ liệu sẵn có trong các bảng.
 Duy trì quan hệ giữa các bảng trong cơ sở dữ liệu.
 Bảo đảm tích hợp dữ liệu bằng cách tạo các qui tắc quản lý giá trị dữ liệu.
 Khôi phục mọi dữ liệu trong trường hợp hệ thống có sự cố.
2. Kiến trúc client / server
- Client là một thành phần của hệ thống yêu cầu dịch vụ hoặc tài nguyên từ những
thành phần hệ thống khác.
- Server là một thành phần của hệ thống cung cấp dịch vụ hoặc tài nguyên cho
những thành phần hệ thống khác.
3. Các yếu tố của một client / server data based system
 Server:
Một tập hợp các mục dữ liệu và đối tượng trợ giúp được tổ chức và trình bày để
thuận tiện phục vụ như: tìm kiếm, sắp thứ tự, khôi phục, cập nhật và phân tích dữ liệu.
CSDL bao gồm bộ nhớ dữ liệu vật lý và các dịch vụ CSDL. Mọi dữ liệu đều được truy cập
qua hệ phục vụ, không bao giờ được truy xuất trực tiếp.
 Client:
Một chương trình có thể tác động qua lại với con người hoặc một quá trình tự
động. Nó bao gồm tất cả những phần mềm có liên quan đến server, yêu cầu dữ liệu từ
CSDL hoặc gửi dữ liệu đến CSDL.
Truyền nhận giữa client và server:
 Sự truyền nhận này phụ thuộc nhiều vào client và server thực thi như thế nào.
Mọi sự thực thi hệ thống CSDL đều thuộc một trong ba loại sau:
 File_based system:
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét