Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

NHỮNG TRANH LUẬN CỔ ĐIỂN VỀ VIỆC BẢO HỘ MẬU DỊCH

thêm việc làm mới mang số âm. Sự mất mát việc làm trong những ngành xuất khẩu trong nước có
thể xuất hiện với một số lý do sau:
1. Việc làm được mở rộng trong những ngành thay thế nhập khẩu trong nước chủ nhà - việc tạo ra
việc làm thông qua những hiệu quả theo cấp số nhân - sẽ xảy ra trong cách thức làm nghèo hàng
xóm bởi vì những việc làm này bị mất đi trong nước đối tác. Khi nước chủ nhà giảm lượng nhập
khẩu của nó bởi thuế quan thì sẽ có một sự mất mát tương đương của những hàng hóa xuất khẩu
và việc làm của những nước đối tác. Ðể hạn chế sự mất mát việc làm này, những đất nước đó có
thể đưa ra những thuế quan trả đũa để làm giảm việc làm trong ngành xuất khẩu đối với nước chủ
nhà.
2. Thậm chí khi không có sự trả đũa nào xảy ra thì những hàng hóa xuất khẩu của nước chủ nhà có
thể giảm xuống bởi vì việc giảm xuống của những hàng hóa xuất khẩu trong những nước đối tác
sẽ làm giảm thu nhập quốc dân. Ðiều này dẫn đến một sự cắt giảm chi tiêu trong việc tiêu thụ hàng
hóa xuất khẩu của nước chủ nhà và làm giảm việc làm trong những ngành xuất khẩu của nước chủ
nhà.
3. Nếu nước chủ nhà có một tỷ giá hối đoái tự do thay đổi, lúc đó đồng tiền nước ngoài sẽ giảm
giá trị khi nước chủ nhà đưa ra thuế quan và mua ít hơn hàng hóa nước ngoài. Việc mua ít hơn
những hàng hóa nước ngoài chỉ ra có một sự gia giảm trong nhu cầu đối với ngoại tệ. Việc đồng
tiền nước ngoài bị giảm giá tương ứng với sự tăng giá đồng tiền trong nước sẽ làm giảm lượng
hàng hóa xuất khẩu trong nước (bởi vì nó phải bỏ ra nhiều ngoại tệ hơn để mua hàng hóa trong
nước) và sẽ làm tăng hàng hóa nhập khẩu trong nước chủ nhà (những hàng hóa này bây giờ tương
đối rẻ hơn đối với những người tiêu dùng trong nước). Ảnh hưởng thực của việc giá trị đồng tiền
trong nước gia tăng là sẽ làm giảm việc làm trong những ngành xuất khẩu và những ngành thay
thế nhập khẩu trong nước.
Chúng ta có thể dẫn ra những ảnh hưởng khác đối với việc đưa ra thuế quan. Những nhà
kinh tế cho là không chắc chắn là thuế quan có thể làm giảm thất nghiệp và họ nhấn mạnh rằng,
nếu mục tiêu là nhằm để gia tăng việc làm, thì tại sao sử dụng thuế quan trong khi những chính
sách khác có thể hoàn thành mục tiêu này trực tiếp hơn và chắc chắn hơn? Những chính sách khác-
những công cụ vĩ mô về tiền tệ và tài chánh -có thể được sử dụng rộng rãi để gia tăng việc làm.
Việc làm trong những nước đối tác cũng có thể gia tăng khi nước chủ nhà sử dụng thu nhập gia
tăng của nó để mua nhiều hàng hóa nhập khẩu hơn và mở rộng sản xuất sang một số quốc gia
khác. Do vậy, phúc lợi của toàn cầu có thể gia tăng thay vì giảm xuống như khi áp dụng thuế quan.
Nếu vấn đề thất nghiệp chung tồn tại, lúc đó những chính sách hợp lý được sử dụng phải mang
tính chất đặc thù cho việc giải quyết vấn đề được nêu ra.
IV. THUẾ QUAN LÀM GIA TĂNG VIỆC LÀM TRONG MỘT NGÀNH
Thuế quan làm gia tăng việc làm trong một ngành dựa trên quan điểm vi mô của vấn đề
việc làm. Tranh luận được đưa ra ở đây là, nếu việc bảo hộ mậu dịch được ban cho một ngành nào
đó, thì nhu cầu sẽ dịch chuyển từ việc sử dụng hàng nhập khẩu đến việc sử dụng hàng trong nước
bởi vì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ gia tăng tương đối với giá cả của hàng hóa nội địa. Sự
dịch chuyển này sẽ đẩy giá cả của hàng nội địa lên làm cho những nhà sản xuất trong nước gia
tăng lượng cung lên. Sự gia tăng sản xuất này sẽ dẫn đến việc thuê mướn thêm lao động trong
nước, do vậy làm gia tăng việc làm trong ngành này. Tuy nhiên, những việc làm mới trong những
ngành được bảo hộ có thể bị bù trừ do phí tổn cao cho việc làm trong những ngành khác. Do vậy,
việc thêm vào việc làm trong đất nước có thể không xảy ra, nhưng đây không phải là mục tiêu của
thuế quan. Thay vào đó, mục tiêu ở đây chỉ là làm tăng việc làm trong một ngành cụ thể nào đó
thôi và chính sách này đã được mục tiêu của nó trong thảo luận này.
Những nhà kinh tế không bàn cãi là thuế quan có thể làm gia tăng việc làm trong một
ngành nào đó. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra cho họ là liệu chính sách thuế quan có phải là phương
pháp tốt nhất để làm tăng việc làm hay không. Nếu mục tiêu làm tăng việc làm trong một ngành
nào đó được chấp nhận - thậm chí việc làm bị giảm xuống trong những ngành khác- lúc đó việc
trợ cấp sản xuất hoặc việc làm lại là cách tốt nhất để đạt mục tiêu này. Do vậy, trong khi tranh luận
này về việc bảo hộ có thể là có giá trị về mặt lý thuyết từ quan điểm của nó, nhưng nó không có
nghĩa là việc bảo hộ bằng thuế quan nên được áp dụng. Một công cụ có thể lựa chọn khác là trợ
cấp của chính phủ cho ngành có thể sẽ đỡ tốn kém nhất đứng về mặt phúc lợi. Tình huống 1 cho ta
thấy điều này.
V. THUẾ QUAN SẼ BÙ ÐẮP LẠI VIỆC BÁN PHÁ GIÁ CỦA NƯỚC NGOÀI

Tranh luận này thường được gọi là tranh luận chống bán phá giá đối với thuế quan đã được
sử dụng rộng rãi ở Mỹ trong những năm gần đây. Trước hết cần thiết để định nghĩa từ bán phá giá.
Ðối với nhà kinh tế, bán phá giá xảy ra khi một xí nghiệp bán hàng hóa của nó tại một giá thấp hơn
giá trong thị trường xuất khẩu. Ðịnh nghĩa này không nói gì về bán hàng hóa dưới chi phí- ý nghĩa
của việc bán phá giá. Ở đây, những nhà kinh tế đơn giản chỉ muốn nói tới hình thức phân biệt giá
cả. Như chúng ta còn nhớ, sự phân biệt xảy ra khi một xí nghiệp bán cùng một sản phẩm trong
những thị trường khác nhau tại những giá cả khác nhau.
Tranh luận về việc bảo hộ ở đây là việc bán phá giá bởi những xí nghiệp nước ngoài đối
với nước chủ nhà là một hành vi không công bằng và tạo ra mối đe dọa cho những nhà sản xuất
trong nước bởi giá cả hàng nhập khẩu thấp; do vậy một thuế quan có thể bù đắp lại việc bán phá
giá của những xí nghiệp nước ngoài. Một định nghĩa khác về bán phá giá là một tình trạng mà ở đó
xí nghiệp nước ngoài bán hàng hóa dưới chi phí và để chống lại hành vi này, nước chủ nhà đã đưa
ra một loại thuế chống lại việc bán phá giá.
Chúng ta có thể đánh giá giá trị của tranh luận này cho việc bảo hộ như thế nào? Trong bất
kỳ đánh giá nào, những nhà kinh tế thường phân biệt 3 loại bán phá giá. Trong việc bán phá giá dai
dẳng, thì hàng hóa liên tục được bán với một giá thấp hơn so với giá cả trong nước trong nước
nhập khẩu. Tình trạng này là tình trạng mà trong đó hàng hóa đơn giản là hàng nhập khẩu khác
được bán dưới những điều kiện tối đa hóa lợi nhuận. Bất kỳ hàng rào thương mại nào cũng sẽ dẫn
đến một giá cả cao hơn đối với người tiêu dùng trong nước nhập khẩu và ảnh hưởng của phúc lợi
của chúng đã được thảo luận trong chương trước. (hành vi này không thể kéo dài trong dài hạn
theo định nghĩa bán hàng hóa nằm dưới chi phí bởi vì những lỗ lã của nhà sản xuất, ngoại trừ
chính phủ cho một trợ cấp.)
Tuy nhiên, việc bán phá giá không thể kéo dài mà có những gián đoạn của nó. Bán phá giá
gián đoạn có thể có 2 loại: bán phá giá thường xuyên và bán phá giá không thường xuyên. Trong
bán phá giá thường xuyên, một xí nghiệp nước ngoài sẽ bán tại giá cả thấp cho đến khi những
nhà sản xuất trong nước bị loại ra khỏi thị trường; lúc đó giá cả sẽ gia tăng bởi sự độc quyền xuất
hiện. Những nhà sản xuất trong nước lúc đó có thể được lôi kéo trở lại thị trường cho đến khi giá
cả giảm xuống trở lại. Có một tranh luận có giá trị cho việc bảo hộ với việc bán phá giá thường
xuyên do việc di chuyển nguồn lực lãng phí. Khi những nhân tố sản xuất di chuyển vào và ra một
ngành bởi ảnh hưởng của giá cả nhập khẩu thì chi phí và và sự lãng phí đổ dồn cho xã hội.
Việc bán phá giá không thường xuyên sẽ xuất hiện khi nhà sản xuất nước ngoài (hoặc
chính phủ) với một thặng dư sản phẩm tạm thời xuất khẩu số này tại bất cứ giá nào mà nó cần.
Việc bán phá giá theo kiểu này có thể có những ảnh hưởng xấu tạm thời đến việc cạnh tranh với
những nhà cung cấp trong nước chủ nhà bởi việc làm gia tăng rủi ro trong hoạt động của ngành.
Những rủi ro này cũng như sự mất mát phúc lợi từ việc di chuyển nguồn lực tạm thời có thể được
tránh khỏi bởi việc đưa ra chính sách bảo hộ, mặc dù những ảnh hưởng phúc lợi khác có thể được
đưa vào trong phân tích khi xem xét những hạn chế thương mại. Tuy nhiên, việc bán phá giá
thường xuyên dường như không biện hộ được việc bảo hộ trong ngắn hạn.
Trong thực tế, vấn đề khó khăn để xác định là loại phá giá nào đã được nêu đang xảy ra.
Không có một nhà hoạch định chính sách nào có khả năng xác định một cách đúng đắn về động
lực phía sau của việc bán phá giá.
VI. THUẾ QUAN CHỐNG LẠI TRỢ CẤP NƯỚC NGOÀI

Ðiểm cơ bản của tranh luận này là một trợ cấp của chính phủ được ban cho một nhà cung
cấp nước ngoài sẽ tạo ra một thương mại không công bằng với nước chủ nhà và lượng trợ cấp của
nước ngoài có thể bị đối chọi lại bởi thuế quan của nước chủ nhà.
Về nguyên tắc, một nhà kinh tế không phản đối việc đưa ra thuế quan để đối phó lại việc
trợ cấp nước ngoài dưới những điều kiện nào đó, mặc dù thừ những người tiêu dùng trong nước sẽ
phải chi với mức giá cao hơn. Nếu việc trợ cấp cho phép xí nghiệp nước ngoài trở thành nhà xuất
khẩu sản phẩm trong điều kiện không có lợi thế so sánh trong sản phẩm đó, lúc đó trợ cấp này sẽ
tạo ra một sự bóp méo trong việc phân phối nguồn lực trong thương mại tự do, và phúc lợi của thế
giới sẽ giảm xuống do sự bóp méo này, mặc dù phúc lợi của nước nhập khẩu có thể gia tăng do giá
cả tiêu dùng thấp hơn. Việc đưa ra thuế quan này sẽ làm tăng cường việc duy trì một kiểu thương
mại có hiệu quả hơn. Chú ý rằng, việc áp dụng nguyên tắc chung thì khó khăn. Không dễ dàng để
xác định là việc trợ cấp nước ngoài có xảy ra hay không và có thể những ngành cạnh tranh nhập
khẩu nhanh chóng xác nhận rằng việc trợ cấp sẽ tồn tại bởi vì họ đang bán với một giá thấp.
VII. THUẾ QUAN LÀM CẢI TIẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI

Tranh luận này là một tranh luận chung và nó đã trở nên nổi bật trong vài năm qua bởi sự
thâm thủng mậu dịch của Mỹ. Tranh luận này cho rằng, việc đưa ra thuế quan sẽ làm giảm nhập
khẩu. Giả định những hàng hóa xuất khẩu không bị ảnh hưởng, thì kết quả hiển nhiên là cán cân
thương mại sẽ được cải thiện bởi vì cán cân thương mại trở nên ít âm hơn (có nghĩa là sự thâm
thủng mậu dịch sẽ giảm xuống) hoặc trở nên thặng dư.
Những nhà kinh tế cho là tranh luận này thiếu nhận ra rằng những tác động trở lại về mặt
kinh tế chính trị của hoạt động vụ lợi này và kết quả cuối cùng nếu như những tác động này được
tính đến sẽ dẫn đến cán cân thương mại không được cải tiến và một sự sụt giảm trong phúc lợi.
Những thí dụ của những tác động trở lại này bao gồm:
(1) Sự trả đũa bởi những thành viên tham gia thương mại.
(2) Một sự gia giảm trong thu nhập quốc dân ở nước ngoài và sự sụt giảm trong khả năng mua
hàng của nước ngoài đối với hàng hóa của nước chủ nhà.
(3) Một sự sụt giảm hàng hóa xuất khẩu của nước chủ nhà nếu như những hàng hóa nhập khẩu
bây giờ bị loại ra đã được đưa vào quá trình sản xuất những mặt hàng xuất khẩu ở nước chủ
nhà.
(4) Một sự gia giảm trong những hàng hóa xuất khẩu và một sự gia tăng hàng hóa nhập khẩu của
nước chủ nhà bởi sự gia tăng giá trị đồng tiền của nước chủ nhà.
(5) Một sự gia giảm trong những hàng hóa xuất khẩu và một sự gia tăng hàng hóa nhập khẩu của
nước chủ nhà bởi áp lực lạm phát ở nước chủ nhà. Bởi vì việc đưa ra thuế quan có ảnh hưởng
làm cho nhu cầu tiêu dùng hướng vào những sản phẩm của nước chủ nhà, nên nh cầu mới này
có thể tạo ra áp lực giá cả gia tăng nếu như nước chủ nhà hầu như không có thất nghiệp. Nếu
như xu hướng lạm phát xuất hiện, lúc đó những xí nghiệp của nước chủ nhà trở nên ít cạnh
tranh hơn trên thị trường thế giới và thị trường trong nước đối với những hàng hóa của các
quốc gia khác.
Do vậy, việc sử dụng thuế quan không bảo đảm là cán cân thương mại sẽ được cải thiện.
Thêm vào đó, thảo luận sôi nổi trong những năm gần đây đã tập trung vào việc thâm thủng mậu
dịch mang tính chất vĩ mô và trên việc thuế quan cuối cùng không có ảnh hưởng đến cán cân
thương mại bởi vì nó không giải thích được đứng về mặt vĩ mô của vấn đề được đưa ra. Giải thích
quan tâm đến việc giải thích trên cơ sở vĩ mô của sự thâm thủng mậu dịch có thể đơn giản được
đưa ra. Trong điểm cân bằng vĩ mô trong mô hình thu nhập quốc dân đơn giản
Y = C + I + G + (X - M)
Trong đó, Y : Thu nhập quốc dân
C : Tổng tiêu dùng
I : Tổng đầu tư
G : Chi tiêu của chính phủ cho những hàng hóa và dịch vụ
X : Xuất khẩu
M : Nhập khẩu
Sắp xếp lại biểu thức trên ta được
Y - (C + I + G) = (X - M)
Bởi vì (C + I +G) chỉ ra chi tiêu trong nước (bởi người tiêu dùng, doanh nghiệp và chính phủ),
nên kết luận ở đây sẽ là nếu như sự thâm thủng mậu dịch tồn tại (có nghĩa là X<M), lúc đó Y< (C
+ I +G), hoặc là thu nhập sẽ nhỏ hơn chi tiêu trong nước. Nói cách khác, biểu thức sau cùng cho
thấy là chúng ta đang tiêu dùng ngoài khả năng thu nhập của chúng ta. Cách duy nhất để giảm sự
thâm thủng này là làm tăng Y, giảm chi tiêu hoặc sự kết hợp giữa hai. Nếu sự thâm thủng là vấn đề
vĩ mô thì thuế quan không có hiệu quả cao, đặc biệt khi nền kinh tế hầu như không có thất nghiệp
và thu nhập vì thế không thể được gia tăng.
Thậm chí nếu bỏ qua vấn đề giải thích sự thâm thủng mang tính chất vĩ mô, thì chính sách
khác ngoài thuế quan ra có thể loại trừ hoặc làm giảm sự thâm thủng mậu dịch. Sự mất mát phúc
lợi ít hơn có thể xảy ra nếu như đất nước áp dụng một chính sách khác hiệu quả hơn đó là phá giá
đồng tiền.

TÌNH HUỐNG 1
CHI PHÍ CỦA VIỆC BẢO HỘ VIỆC LÀM
TRONG MỘT NGÀNH
Thuế quan có thể ảnh hưởng đến việc làm trong những ngành cụ thể nào đó bởi vì việc đưa
ra thuế quan sẽ kích thích sản xuất đối với những ngành thay thế nhập khẩu. Lúc này người tiêu
dùng trong nước sẽ có khuynh hướng sử dụng hàng hóa trong nước nhiều hơn. Tuy nhiên, chi phí
cho việc chuyển đổi này thì cao. Do vậy câu hỏi được đặt ra ở đây là lợi ích được mang lại do thuế
quan trong việc tạo ra thêm việc làm so với chi phí phải mất đi như thế nào?
Những nhà kinh tế như Gary C. Hufbauer và Kimberly A. Elliott (1994) đã cố gắng để xem
xét lại chi phí của việc bảo hộ việc làm. Bảng số liệu dưới đây chỉ ra những ảnh hưởng của chính
sách hạn chế mậu dịch trong 12 ngành ở Mỹ. Những số liệu trong bảng liên quan đến 1990 và dựa
trên giả thuyết là những mức thuế quan cao sẽ được giảm xuống đến 0, những hạn chế về lượng
thương mại không còn tồn tại, những mức thuế quan thấp nằm dưới dạng những hạn ngạch.
Số liệu trong bảng rõ ràng chỉ ra rằng, nếu việc làm của công nhân được bảo hộ thì chi phí
phát sinh sẽ cao hơn tiền lương đạt được của người công nhân trong những ngành được đưa ra. Có
thể rẻ hơn nếu như thực hiện việc chuyển giao trực tiếp bằng tiền tệ của tiền lương hàng năm từ
người tiêu dùng cho người công nhân.

Chi phí tạo việc làm và chi phí phúc lợi của những ngành khác nhau ở Mỹ, 1990

Ngành Số việc làm
được tạo ra
Chi phí cho
mỗi việc làm
($USD)
Chi phí phúc
lợi hàng năm
đối với Mỹ
($USD)
Trụ chơi bóng 146 438.356 1.000.000
Những hóa chất benzoid 216 > 1.000.000 10.000.000
Nữ trang giả 1.067 96.532 5.000.000
Những sản phẩm sữa 2.378 497.897 104.000.000
Nước cam đông lạnh 609 461.412 35.000.000
Ðồ thủy tinh 1.477 180.095 9.000.000
Hành lý 226 933.628 26.000.000
Những công cụ cơ khí 1.556 348.329 35.000.000
Nhựa tổng hợp 298 590.604 20.000.000
Giày dép nhựa 1.701 122.281 12.000.000
Gỗ xẽ 605 758.678 12.000.000
Giày, dép phụ nữ 3.702 101.567 11.000.000

GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây,một vài lý thuyết nói về tại sao một đất nước có thể đạt được
nguồn lợi từ một thuế quan hoặc là công cụ chính sách thương mại khác đã xuất hiện. Chúng
thường được gọi là chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch mới hoặc là những lý thuyết về chính sách thương
mại chiến lược . Ðặc điểm khác biệt của sự tiếp cận trong những lý thuyết mới này là cạnh tranh
không hoàn hảo tồn tại trong những ngành được xem xét, khác với những phân tích cổ điển trước
đây là chỉ xét đến trường hợp các ngành nằm trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo. Những cách
tiếp cận mới cho rằng, cạnh tranh không hoàn hảo mô tả tốt hơn về thế giới xung quanh ta. Cạnh
tranh không hoàn hảo thường giới thiệu những yếu tố của sự phụ thuộc lẫn nhau được thừa nhận
của những xí nghiệp trong bất kỳ ngành nào. Do vậy, khi quyêt định những hành động tốt nhất
của họ,thì nhửng xí nghiệp cố gắng đưa vào những phản ứng của những xí nghiệp khác. Trong
chương này, chúng ta sẽ trình bày nhữmg tóm tắt một vài lý thuyết mới để cung cấp nền tảng cho
loại nghiên cứu này.
Trong phần đầu sẽ đưa ra một tình trạng mang tính lý thuyết, trong đó một thuế quan của
nước chủ nhà sẽ dẫn đến một sự chuyển giao một phần lợi nhuận của xí nghiệp độc quyền nước
ngoài đến nước chủ nhà. Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ xem xét - trong ngữ cảnh của một xí
nghiệp nước chủ nhà và một xí nghiệp nước ngoài - việc bảo hộ mậu dịch có thể tạo ra việc thực
hiện kinh tế qui mô và lượng xuất khẩu lớn hơn cho xí nghiệp được bảo hộ như thế nào. Ðiều này
được thực hiện trong khuôn khổ của hai xí nghiệp giống nhau, nhưng một xí nghiệp nằm trong
ngữ cảnh của một ảnh hưởng có thể có lợi của việc bảo hộ trên lĩnh vực nghiên cứu và phát triển.
Phần cuối sẽ xây dựng một trường hợp có thể đối với việc sử dụng một trợ cấp xuất khẩu. Luôn
giữ trong đầu rằng, trong khi nghiên cứu những cách tiếp cận khác nhau- cái mà rất khó để xác
định xem việc bảo hộ mậu dịch trong bất kỳ thí dụ cụ thể nào có khả năng để cuối cùng mang lại
nguồn lợi cho nước đưa ra sự bảo hộ hay không. Thêm vào đó, giống như hầu hết những nhà
kinh tế, chúng ta có những hạn chế trong xem xét việc sử dụng những tranh luận này đối với việc
bảo hộ mậu dịch như là một cơ sở cho chính sách thương mại- những hạn chế mà chúng ta sẽ chỉ
ra tại một vài điểm trong chương này.
NỘI DUNG CHÍNH
I. Thuế quan để lấy lại độc quyền nước ngoài

Phân tích này được khởi xướng bởi James Brander và Barbara Spencer (1981) trong khuôn
khổ của một nước chủ nhà đối mặt với một nhà cung cấp dộc quyền nước ngoài. Giả thuyết hạn
chế được tạo ra là xí nghiệp nước ngoài là nhà cung cấp duy nhất sản phẩm này trong thị trường
thế giới và như vậy là không có sản xuất trong nước- nước chủ nhà phụ thuộc hoàn toàn vào xí
nghiệp độc quyền nước ngoài đối với sản phẩm này. Ðồ thị 1 dưới đây sẽ chỉ ra bản chất cơ bản
của pân tích.
Ðường cầu D biểu hiện nhu cầu của nước chủ nhà đối với sản phẩm của xí nghiệp độc
quyền nước ngoài. Bởi vì xì nghiệp đối mặt với đường cầu có độ dốc đi xuống (không giống với
trường hợp cạnh tranh hoàn hảo - nơi xí nghiệp đối mặt với đường cầu nằm ngang) nên thu nhập
cận biên sẽ nhỏ hơn giá cả. Giả sử để cho đơn giản hơn là chi phí cận biên không đổi (có nghĩa là
mỗi đơn vị sản lượng thêm vào được tạo ra sẽ có cùng một chi phí như những đơn vị trước đó ) và
giả sử là không có những chi phí cố định và chi phí vận chuyển. Ðiều nầy sẽ dẫn đến đường chi
phí cận biên ( MC ) sẽ là đường nằm ngang bằng với đường chi phí bình quân ( AC ).
Ðồ thị 1: Một Thuế Quan để lấy lại lợi nhuận độc quyền nưóc ngoài.
Khi không có thuế quan của nước chủ nhà, xí nghiệp độc quyền nưóc ngoài sẽ bán lượng OP1 cho thị trường của
nước chủ nhà tại giá OP1, được xác định bởi giao điểm MR và MC . với một thuế quan xảy ra, chi phí bán hàng cận
biên của nhà độc quyền nước ngoài trong thị trường nước chủ nhà là MC+t , ở đó t là lượng thuế quan trên mỗi đơn
vị hàng hóa. Lượng hàng hóa tối đa hòa với lợi nhuận mới bây giờ là Oq2 ( MR=MC+t ). Những người tiêu dùng
trong nước chủ nhà bây giờ chi với giá P1P2 SR. Tuy nhiên, nước chủ nhà sẽ đạt được lượng thu nhập thuế quan
bằng với diện tích tứ giác C1 C2 GH - là một phần lợi nhuận kinh tế trước đây của nhà độc quyền nước ngoài này.
Với thương mại tự do, xí nghiệp sẽ đặt MR= MC để tối đa hóa lợi nhuận và lượng hàng
hóa sẽ được chuyển đến nước chủ nhà sẽ là Oq1. Giá cả được mua sẽ là Op1 và lợi nhuận (kinh tế)
của xí nghiệp sẽ bằng với diện tích của tứ giác c1p1RF. Bởi vì xí nghiệp sản xuất là một nhà độc
quyền, nên không có áp lực cạnh tranh buộc giá cả bằng với MC (hoặcAC).
Bây giờ giả sử rằng, nước chủ nhà muốn đạt được một phần lợi nhuận độc quyền nước
ngoài này, làm như thế có thể có nghĩa là tạo ra một sư gia tăng trong phúc lợi của nước chủ nhà từ
nhà độc quyền nước ngoài. Nếu như một thuế quan được đưa vào-cái phải được chi trên mỗi đơn
vị hàng hóa bởi xí nghiệp nước ngoài trước khi nó được phép bán hàng hóa trong nước chủ nhà -
lúc đó đường chi phí cận biên sẽ dịch chuyển đi lên theo hướng thẳng đứng tới MC+t, ở đây t là
lượng thuế trên mỗi đơn vị . Ðối với xí nghiệp nước ngoài, thuế này đơn giản là một dạng chi phí
khác đi cùng với việc bán mỗi đơn vị hàng hóa trong nước chủ nhà, do vậy tối đa hóa lợi nhuận
bây giờ cân bằng thu nhập cận biên với chi phí cận biên mới MC+t. Lượng hàng hóa được sản
xuất đối với nước chủ nhà sẽ giảm xuống tới Oq2 và giá cả được mua sẽ là Op2.
Ðể xem xét sự thay đổi phúc lợi trong nước đưa ra thuế quan, chúng ta sẽ xem xét lợi
nhuận của xí nghiệp độc quyền. Lợi nhuận sau khi có thuế quan là diện tích c2p2SG. Còn diện tích
c1c2GH là gì? Vùng này thể hiện cho thu nhập thuế quan và nó cũng biểu hiện cho lợi nhuận
trước đây của nhà độc quyền đã chuyển cho nước chủ nhà. Cái đạt được này của nước chủ nhà
được đánh đổi với sự mất mát trong thặng dư tiêu dùng của những người tiêu dùng trong nước chủ
nhà với lượng bằng với diện tích p1p2SR. Nhưng nếu diện tích c1c2GH lớn hơn diện tích p1p2SR,
lúc đó nước chủ nhà đã thành công trong việc nâng cao phúc lợi của nó từ cái mất mát của nhà sản
xuất nước ngoài. Rõ ràng, sự can thiệp này có thể là đáng mong mõi đối với nước chủ nhà.
Trong khi một phần lợi nhuận kinh tế đã được chuyển cho nước chủ nhà, thì nhà kinh tế
không nhất thiết kết luận rằng hoạt động bảo hộ mậu dịch đã mang lại lợi ích , thậm chí nếu như
sự chuyển giao lợi nhuận nhiều hơn là sư mất mát trong thặng dư tiêu dùng. Bởi do có thuế quan
nên hiệu quả và phúc lợi của thế giới đã giảm bởi vì trong một tình trạng độc quyền, thì hiệu quả
và phúc lợi sẽ được nâng cao nếu như những hành động khiến cho nhà độc quyền giảm giá cả và
tăng sản lượng. Ở đây điều ngược lại đã xảy ra với việc đưa vào thuế quan đối với sản phẩm của
nhà độc quyền! Do vậy, một sự đạt được về phúc lợi cúa nước chủ nhà có thể xảy ra trong khi thế
giới như là toàn bộ sẽ bị mất mát (một tình trạng làm nghèo người hàng xóm). Một phân tích đầy
đủ của việc nên thực hiện hoạt động này hay không cũng đòi hỏi xem xét những vấn đề như triễn
vọng về sự trả đũa của nước ngoài đối với những hàng hóa được nhập khẩu từ nước chủ nhà.
II - Kinh tế qui mô trong một khuôn Khổ một cặp xí nghiệp

Một sự đóng góp khác vào lý thuyết của những người ủng hộ chế độ mậu dịch mới được
đưa ra từ nhà kinh tế Paul Kougman (1984). - trong mô hính của ông, Kougman giả sử rằng có 2
xí nghiệp trong một ngành, một cặp xí nghiệp - một xí nghiệp trong nước và một xí nghiệp nước
ngoài , họ cạnh tranh với nhau trong những thị trường khắp thế giới (bao gồm trong nững thị
trường của mỗi nước). Mục đích của Kougman là sẽ chứng minh việc bảo hộ nhập khẩu cho một
xí nghiệp sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong xuất khẩu cho xí nghiệp được bảo vệ như thế nào trong
bất kỳ thị trường nước ngoài nào mà xí nghiệp sẽ hoạt động ở đó. Hai giả thuyết đặc biệt quan
trọng là: (1) chi phí cận biên giảm với một sự gia tăng trong sản phẩm và (2) mỗi xí nghiệp sẽ chịu
ảnh hưởng của hoạt động từ những xí nghiệp khác khi tạo những quyết định về giá cả và sản
lượng. Cuối cùng xí nghiệp của nước chủ nhà nhận thức được rằng, thu nhập của nó sẽ phụ thuộc
cùng hướng với sản lượng của chính nó và không ngược hướng đối với sản lượng của xí nghiệp
nước ngoài. Sự phụ thuộc lẫn nhau được thừa nhận này không tồn tại trong mô hình cạnh tranh
hoàn hảo.
Với sự phụ thuộc lẫn nhau được thừa nhận, chúng ta có thể nghĩ về những hàm phản ứng
của mỗi xí nghiệp trong mỗi thị trường ( xem đồ thị 2 ).Dấu hiệu Xi trên trục hoành biểu hiện
lượng hàng hóa bán của xí nghiệp chủ nhà trong bất kỳ thị trường i nào đó, trong khi X*i trên trục
tung biểu hiện lượng hàng hóa bán của xí nghiệp nước ngoài trong cùng một thị trường. HH là
hàm phản ứng của xí nghiệp chủ nhà. Hàm này ngụ ý nói rằng, nếu như xí nghiệp nước ngoài gia
tăng doanh số lượng hàng bán trong thị trường (một sự gia tăng trong X*i) lúc đó xí nghiệp của
nước chủ nhà nhận ra rằng, giá cả của hàng hóa sẽ bị giảm. Do vậy những cơ hội lợi nhuận cho xí
nghiệp nước chủ nhà sẽ giảm xuống làm cho lượng được bán bởi xí nghiệp nước chủ nhà sẽ giảm
xuống (Xi). Hàm phản ứng đối với xí nghiệp nước chủ nhà có độ dốc đi xuống. Giống vậy, ta có
đường FF biểu hiện cho hàm phản ứng của xí nghiệp nước ngoài. Những hàm phản ứng này chỉ ra
mức hàng hóa bán có khả năng mang lại lợi nhuận cao nhất trong thị trường i cho mỗi xí nghiệp
với những mức hàng bán khác nhau của xí nghiệp khác được biết. Chú ý rằng, những hàm này
được vẽ ra cho một chi phí cận biên được đưa ra, muốn nói rằng tổng sản lượng của mỗi xí nghiệp
là không đổi nhưng lượng hàng hóa bán ra trong bất kỳ thị trường nào đó có thể thay đổi. Cuối
cùng, vị trí cân bằng sẽ ở tại điểm E, nơi mà mỗi xí nghiệp sẽ bán một lượng hàng hóa dưới điều
kiện tối đa hóa lợi nhuận của nó khi biết được hành vi của xí nghiệp khác.
Ðồ thị 2: Lượng hàng hóa bán của xí nghiệp nước chủ nhà và xí nghiệp nước Ðồ thị 2: Lượng
hàng hóa bán của xí nghiệp nước chủ nhà và xí nghiệp nước

Hàm phản ứng HH chỉ ra mức hàng hóa bán trong điều kiện tối đa hóa lợi nhuận trong thị trường của nước thứ ba
đối với xí nghiệp nước chủ nhà với mức hàng hóa bán của xí nghiệp nước ngoài khác nhau đã được biết. HH có độ
dốc đi xuống bởi vì lượng hàng hóa nước ngoài được gia tăng sẽ làm giảm giá cả và lợi nhuận của xí nghiệp nước
chủ nhà. Do đó xí nghiệp đó sẽ thu nhỏ lượng hàng bán lại. Hàm phản ứng FF chỉ ra mức hàng hóa bán trong điều
kiện tối đa hoá lợi nhuận của xí nghiệp nước ngoài với những mức hàng hóa bán khác nhau của xí nghiệp nước chủ
nhà đã biết và nó có độ dốc đi xuống với những lý do tương tự. Tại những điểm A,B.và C, những mức độ hàng hóa
bán sẽ thay đổi đến khi đạt được tới điểm cân bằng E.
Ðể thấy được tại sao điểm E đạt được, chúng ta sẽ xem xét điểm A. Nếu như hai xí nghiệp
sẽ sản xuất cho thị trường này tại điểm A, thì lúc đó xí nghiệp nước chủ nhà sẽ được thỏa mãn với
lượng hàng hóa bán của nó là OX1. Những xí nghiệp nước ngoài sẽ không được thỏa mãn với
lượng hàng bán OX*1 của nó. Ðể tối đa hóa lợi nhuận, xí nghiệp nước ngoài sẽ cắt giảm sản xuất
tới OX*1 bởi vì xí nghiệp này đã sản xuất quá nhiều cho lợi nhuận tối đa tại điểm A. Với sự thay
đổi này trong hàng hóa bán của xí nghiệp nước ngoài, điểm B sẽ đạt được. Tuy nhiên, B không
phải là điểm tối đa hóa lợi nhuận cho xí nghiệp chủ nhà và nó mở rộng sản xuất đến OX2, do đó
nó đạt tới diểm C. quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi điểm E đạt được. Sự di chuyển này tới
điểm E xảy ra bởi vì chúng ta đã vẽ HH dốc hơn FF. Nếu FF được vẽ dốc hơn HH, thì điểm cân
bằng sẽ không bền vững và nó sẽ buộc các xí nghiệp đạt được điểm cân bằng xa điểm E hơn nếu
như chúng không gặp nhau tại điểm E. Bởi vì những sự di chuyển xa điểm cân bằng liên tục dính
líu đến những thay đổi cơ bản trong thị phần thì không thường được quan sát trong những thị
trường độc quyền nhóm, Kougman xem những độ dốc của đồ thị 2 là thích đáng hơn so với trường
hợp ngược lại.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét mức tổng sản lượng của mỗi xí nghiệp hơn là mức hàng hóa
bán trong mỗi thị trường mà xí nghiệp đáp ứng nhu cầu. Nhớ giả thuyết rằng, chi phí cận biên
giảm khi sản lượng gia tăng. Thêm vào đó, giả thuyết là một sự dịch chuyển đi xuống hoặc một sự
giảm trong chi phí cận biên sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong sản lượng khi đường thu nhập cận
biên là đường cầu đã biết. Với mối quan hệ này trong đầu, xem xét đồ thị 3a. Trục hoành đo lường
tổng sản lượng của xí nghiệp nước chủ nhà, cái mà đến lược nó là tổng lượng hàng hóa bán trong
tất cả các thị trường mà xí nghiệp nước chủ nhà cung cấp .Trục tung thể hiện chi phí cận biên của
xí nghiệp nước chủ nhà. Ðường MM phản ảnh giả thuyết là một sự gia tăng trong sản lượng (dọc
theo trục hoành) sẽ làm cho chi phí cận biên giảm; đường QQ sẽ phản ảnh quan hệ ngược lại rằng,
một sự gia giảm trong chi phí cận biên (dọc theo trục tung) sẽ làm tăng sản lượng. Ðiểm cân bằng
bây giờ là T, tại đây không có động lực cho xí nghiệp thay đổi mức sản lượng của nó. Dĩ nhiên
một đồ thị giống vậy (không được chỉ ra ở đây) có thể được tạo ra cho xí nghiệp nước ngoài, với
tổng sản lượng của xí nghiệp đó xuất hiện tại điểm mà đường M*M* (giống với MM) giao với
đường Q*Q* ( giống với QQ)
Ðồ thị 3: Bảo hộ mậu dịch của nước chủ nhà và lượng hàng hóa bán của xí nghiệp của nước chủ
nhà thông qua kinh tế qui mô

Trong đồ thị 3(a), đường QQ chỉ ra rằng một sự giảm xuống trong chi phí cận biên sẽ đem lại một tổng sản lượng
lớn hơn. Sản lượng này bằng tổng tất cả hàng hóa bán của xí nghiệp trong tất cả những thị trường i. Ðường MM sẽ
chỉ ra sự có mặt của kinh tế qui mô, bởi vì những mức sản lượng lớn hơn sẽ dẫn đến chi phí cận biên thấp hơn.
Ðiểm cân bằng đối với xí nghiệp xuất hiện tại điểm T. Tại điểm này, xí nghiệp không có động lực để làm thay đổi
mức sản lượng của nó. Một thuế quan nhập khẩu của nước chủ nhà sẽ làm dịch chuyển đường QQ tới QQ, bởi vì xí
nghiệp có thể bán nhiều sản lượng hơn ở thị trường trong nước tại mỗi mức độ chi phí cận biên, với QQ hiện hữu thì
chi phí cận biên của xí nghiệp nước chủ nhà sẽ giảm xuống. Hậu quả của sự sụt giảm này trong chi phí cận biên là
(trong đồ thị b), hàm phản ứng của xí nghiệp nước chủ nhà trong bất kỳ thị trường xuất khẩu i nào sẽ làm dịch
chuyển HH tới HH. Thêm vào đó, bởi vì việc bảo hộ mậu dịch của nước chủ nhà đã làm giảm lượng hàng hóa bán
của xí nghiệp nước ngoài trong thị trường nước chủ nhà nên chi phí cận biên của xí nghiệp nước ngoài sẽ gia tăng
và hàm phản ứng của nó trong đồ thị 3(b) sẽ dịch chuyển vào trong từ FF tới FF. Do vậy, điểm cân bằng sẽ dịch
chuyển từ E đến E, với xí nghiệp nước chủ nhà đạt đượt lượng hàng hóa bán trong mỗi thị trường tại chi phí của xí
nghiệp nước ngoài.
Với cách thiết lập này, hãy xem xét ảnh hưởng của việc bảo hộ mậu dịch. Giả sử rằng chính
phủ của nước chủ nhà đưa ra một thuế quan hoặc một hạn ngạch nhập khẩu trên việc nhập khẩu
hàng hóa cuả xí nghiệp nước ngoài. Xí nghiệp này có ảnh hưởng đến việc duy trì một phần thị
trường trong nước chủ nhà của xí nghiệp nước chủ nhà. Aính hưởng ban đầu của việc bảo hộ mậu
dịch này đặt lên sản lượng của nươc chủ nhà (dồ thị 3a). Bởi vì sản lượng của xí nghiệp nước chủ
nhà đã gia tăng với bất kỳ mức chi phí cận biên nào. Ðường QQ sẽ dịch chuyển sang bên phải dến
QQ, làm cho điểm cân bằng T bây giờ dịch chuyển đến T, nơi mà chi phí cận biên thấp hơn bị
gánh chịu. Trong đồ thị giống vậy cho xí nghiệp nước ngoài (không được chỉ ra ở đây),đường
Q*Q* của xí nghiệp nước ngoài sẽ dịch chuyển sang trái. Ít sản lượng hơn được đi cùng với mỗi
mức chi phí cận biên bởi vì một số thị trường trong nước chủ nhà bây giờ đã bị từ chối bởi xí
nghiệp nước ngoài. Kết quả sẽ là một sự gia tăng trong chi phí cận biên của xí nghiệp nước ngoài.
Bởi vì chi phí cận biên đã thay đổi đối với mỗi xí nghiệp,nên có sự phản hồi trên những
hàm phản ứng do những hàm đó được vẽ ra từng cái với chi phí cận biên đã biết. Trong đồ thị3(b),
việc gia giảm trong chi phí cận biên của xí nghiệp nước chủ nhà đã làm cho hàng hóa bán ra của xí
nghiệp này gia tăng lên với mỗi mức độ hàng hóa bán của xí nghiệp nước ngoài được đưa ra trong
mỗi thị trường xuất khẩu; Có nghĩa là HH sẽ dịch chuyển sang bên phải tới HH. Giống vậy, sự gia
tăng trong chi phí cận biên của xí nghiệp nước ngoài sẽ làm cho FF dịch chuyển đi xuống theo trục
trong tới FF, bởi vì xí nghiệp nước ngoài sẽ bán một lượng hàng hóa nhỏ hơn với mỗi mức hàng
hóa bán của xí nghiệp nước chủ nhà. Do vậy, điểm cân bằng trong bối cảnh một cặp xí nghiệp
trong mỗi thị trường bây giờ sẽ là điểm E thay vì E và xí nghiệp nước chủ nhà đã đạt được hàng
hóa bán trong tất cả những thị trường tại phí tổn của xí nghiệp nước ngoài. Lý thuyết bảo hộ mậu
dịch có thể được gọi là thuế quan để thúc đẩy xuất khẩu thông qua kinh tế qui mô, bởi vì những
hàng hóa bán mới này trong tất cả những thị trường i là những hàng hóa xuất khẩu từ nước chủ
nhà.
Krugman đã đưa ra phân tích kinh tế qui mô thực chất không phải như là một đề nghị cho
việc bảo hộ mậu dịch, nhưng nó như là một giải thích cho tình trạng khẩn cấp của Nhật Bản được
xem là một nhà xuất khẩu dẫn đầu của một vài sản phẩm mà những nhà sản xuất trong nước của
chúng buổi đầu đã được bảo hộ (thí dụ: xe hơi). Tuy nhiên, khi xem xét nó như là một cơ sở cho
việc kiến nghị việc bảo hộ mậu dịch, thì nước ngoài có khả năng trả đũa bằng việc thiết lập một
thuế quan của nó.Kết quả cuối cùng là những thị phần tương đối không bị ảnh hưởng nhưng dung
lượng thương mại sẽ giảm đáng kể. Thêm vào đó, như trong nhiều tranh luận của những người
ủng hộ chế độ mậu dịch mới thì những nguồn lực được sử dụng để mở rộng ngành được bảo hộ sẽ
làm cho sản lượng của những ngành khác giảm đi và những chi phí cơ hội nàycần phải được xem
xét.
III. Nghiên cứu, phát triển và hàng hóa bán ra của xí nghiệp nước
chủ nhà.

Cách tiếp cận này đối với việc bảo hộ mậu dịch đã cũng được đưa ra bởi Paul Krugman
(1984). Nó có vài cái giống với cách tiếp cận kinh tế qui mô nhưng nhấn mạnh khía cạnh khác là
bảo hộ mậu dịch sẽ tạo ra một sự gia tăng trong xuất khẩu của xí nghiệp nước chủ nhà. Trong việc
xem xét này thuế quan sẽ làm thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc nghiên cứu và phát triễn, giả sử
lại rằng một cấu trúc thị trường có một cặp xí nghiệp nước chủ nhà và một xí nghiệp nước
ngoài tồn tại và chúng cạnh tranh với nhau trong nhiều thị trường. Tuy nhiên, giả sử rằng chi phí
cận biên cho mỗi xí nghiệp không thay đổi với mức sản lượng(có nghĩa là đường chi phí cận biên
là đường nằm ngang), nhưng với bất kỳ mức sản lượng nào thì chi phí cận biên sẽ phụ thuộc vào
việc đầu tư nghiên cứu và phat triễn (R&D).Mối quan hệ này nghịch hướng với nhau có nghĩa là
một lượng chi trả cho R&D lớn hơn (trên những đặc tính sản phẩm mới, qui trình sản xuất
mới,v.v ) sẽ dẫn đến một sự gia giảm trong chi phí cận biên. Ðến lượt nó, lượng chi trên cho
nghiên cứu và phát triển là một hàm thuận hướng với mức độ sản lượng, khi sản lượng hiện tại lớn
hơn sẽ tạo ra một lượng lợi nhuận lớn hơn, cái có thể được sử dụng để tài trợ thêm cho R&D (giả
sử là xí nhiệp không vay tiền từ thị trường vốn để tài trợ cho R&D).
Mối quan hệ chủ yếu trong mô hình R&D này được chỉ ra ở đồ thị 4. Lượng chi cho RxD
bởi xí nghiệp nước chủ nhà được đo lường trên trục tung và sản lượng của xí nghiệp này được đo
lường trên trục hoành như là tổng lượng hàng hóa bán ra của xí nghiệp trong tất cả thị trường i.
Ðường MM có độ dốc đi lên chỉ ra rằng, khi sản lượng gia tăng thì lượng chi cho R&D sẽ gia tăng
bởi vì lượng lợi nhuận lớn hơn. Ðường QQ với độ dốc đi lên chỉ ra sự phụ thuộc của sản lượng
trên R&D: Khi R&D gia tăng, thì chi phí cận biên giảm xuống, đến lượt nó, nó sẽ giúp cho xí
nghiệp bán một lượng sản lượng lớn hơn. Tính chắc chắn qua lại của hai mối quan hệ xuất hiện
khi xí nghiệp được đặt tại điểm cân bằng T. Một đồ thị giống vậy sẽ được biểu hiện cho xí nghiệp
nước ngoài.
Ðồ thị 4: Bảo hộ mậu dịch, chi tiêu và sản lượng cho R&D của nước chủ nhà

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét