Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Hợp đồng thuê nhà xưởng tại công ty quan hệ quốc tế - Đầu tư sản xuất , chế độ pháp lý và thực tiễn áp dụng

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chính vì thế, chế độ hợp đồng kinh tế - cũng đợc chuyển đổi. Tren cơ sở đó,
pháp lệnh hợp đồng kinh tế do Hội đồng Nhà nớc , thông qua ngày 25/9/1989
đợc ban hành.
Đặc điểm của pháp lệnh hợp đồng kinh tế gồm :
+ Hợp đồng kinh tế đợc xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ, cùng có lợi và không trái pháp luật.
+ chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế là tất cả các pháp nhân, cá nhân có
đăng ký kinh doanh, ngoài ra còn đợc mở rộng trong một số trờng hợp đặc biệt
+ Chủ thể có quyền tự quyết trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh
tế
+ Thể loại hợp đồng kinh tế đợc đa dạng hoá, bên cạnh đó còn qui định
một số hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh áp dụng đối với các doanh
nghiệp Nhà nớc hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nớc giao và chính phủ
cũng có văn bản qui định riêng (Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của
Hội đồng bộ trởng)
Nh vậy, những điểm đổi mới của chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này đã
đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần, bớc đầu xây
dựng nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu chế độ hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
II. Khái quát về hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong các mối quan hệ xã hội có những quan hệ đợc các bên thoả thuận
thiết lập nhằm mục đích làm phát sinh những đổi thay chấm dứt quyền và nghĩa
vụ - giữa các bên với nhau. Những mối quan hệ thuộc loại này đợc gọi chung là
quan hệ hợp đồng. Cũng nh vậy quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế đợc
gọi là quan hệ hợp đồng kinh tế . Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế th-
ờng đợc hiểu theo hai nghĩa. Đó là nghĩa khách quan và chủ quan.
- Theo nghĩa khách quan (tức là dới góc độ ý chí Nhà nớc ) : hợp đồng
kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nớc ban hành để điều chỉnh
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các quan hệ kinh tế phát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các bên
chủ thể kinh doanh với nhau (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế hay pháp luật
về hợp đồng kinh tế). Chế độ hợp đồng kinh tế của nớc ta mang đặc thù của
pháp luật xã hội chủ nghĩa nó bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc
ký kết t cách chủ thể tham gia; trình tự và thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế; các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng nh các nguyên tắc và nội dung thực
hiện; các điều kiện và cách thức giải quyết hậu quả của việc thay đổi, huỷ bỏ,
đình chỉ và thanh lý hợp đồng kinh tế; quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc
thực hiện hợp đồng kinh tế; trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , sự thay đổi của quan hệ kinh tế,
chế độ hợp đồng kinh tế cũng đợc thay đổi và phát triển.
- Theo nghĩa chủ quan (tức là theo ý chí của các bên ký kết hợp đồng) :
"Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch giữa
các bên ký kết về thực hiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu , ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục
đích kinh doanh với sự qui định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để
xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình" (Điều 1 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
ngày 25/9/1989). Theo nghĩa này, hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các chủ
thể hợp đồng kinh tế.
Nh vậy, xét về thực chất hợp đồng kinh tế , cũng nh các loại hợp đồng
khác, đều là sự thay đổi giữa các chủ thể về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong các quan hệ cụ thể. Tuy nhiên, có
một số điểm khác nhau giữa hợp đồng kinh tế với các loại hợp đồng khác về t
các chủ thể, mục đích, hình thức ký kết, thực hiện
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2. Đặc điểm hợp đồng kinh tế
Những thay đổi cơ bản trong nền kinh tế cũng nh chế độ quản lý kinh tế
theo sự thay đổi những qui định của chế độ hợp đồng kinh tế để phù hợp với
tình hìh diễn biến mới trong các quan hệ kinh tế. Vì thế, những qui định của
pháp luật về hợp đồng kinh tế hiện nay có các đặc điểm để chúng ta phân biệt
với những qui định hợp đồng kinh tế trớc đây. Đồng thời cũng phân biệt với các
loại hợp đồng khác. Những đặc điểm đó là :
2.1 Đặc điểm về mục đích của hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm mục đích kinh doanh. Mục đích này
đợc thể hiện trong nội dung công việc mà các bên thoả thuận trong hợp đồng
nh là : thực hiện hoạt động sản xuất , trao đổi hàng hoá, dịch vụ Điều đó có
nghĩa là hợp đồng kinh tế phải gắn với quá trình sản xuất và tái sản xuất của các
chủ thể kinh doanh, trong đó ít nhất một bên ký hợp đồng phải có mục đích
kinh doanh còn bên kia có thể không có mục đích kinh doanh nhng không có
mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt. Đặc điểm này dùng để phân
biệt hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự, hơn nữa mục đích kinh doanh là đặc
trng của các quan hệ kinh tế.
2.2 Đặc điểm về chủ thể hợp đồng kinh tế :
Theo Điều 2 - pháp lệnh hợp đồng kinh tế, thì hợp đồng kinh tế đợc ký
kết giữa các bên : pháp nhân với pháp nhân; pháp nhân với cá nhân có đăng ký
kinh doanh theo qui định của pháp luật. Nh vậy theo qui định này thì chủ thể ký
kết hợp đồng kinh tế phải là chủ thể có điều kiện tổ chức, phải là pháp nhân và
luôn phải là một bên ký kết, còn bên kia có thể là cá nhân có đăng ký kinh
doanh.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh đợc hiểu là cá nhân đợc cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
2.3 Đặc điểm về hình thức hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế có thể ký kết dới hình thức văn bản hợp đồng hoặc tài
liệu giao dịch (nh công văn, điện báo, đơn chào hàng, đặt hàng). Ngoài ra các
bên có thể ký kết các văn bản phụ lục hợp đồng cụ thể hoá các điều kiện trong
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hợp đồng hoặc biên bản bổ sung những điều khoản mới thoả thuận vào văn bản
hợp đồng. Phụ lục hợp đồng và biên bản bổ sung có giá trị pháp lý nh hợp đồng
kinh tế.
3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Dựa trên những căn cứ khác nhau mà hợp đồng kinh tế đợc phân thành
nhiều loại khác nhau.
3.1 Căn cứ và tính chất của quan hệ hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm
các loại sau:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù :
Là loại hợp đồng mà theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tơng xứng
nhau (quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngợc lại). Trong quan hệ
hợp đồng, một bên có nghĩa vụ giao hàng hoá, thực hiện dịch vụ hoặc kết quả
công việc đã thoả thuận, bên kia có nghĩa vụ nhận hàng hoá hoặc kết quả đó và
thanh toán tiền. Đây là loại hợp đồng phản ánh quan hệ hàng hoá - tiền tệ với
bản chất là quan hệ ngang giá và đợc sử dụng trong các lĩnh vực nh la trao đổi
hàng hoá; vận chuyển hàng hoá
* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức :
Là loại hợp đồng đợc xác lập trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền, các chủ thể kinh doanh có thể thoả thuận với nhau lập ra một cơ
sở kinh tế - kỹ thuật mới để thực hiện mục đích chung. Hợp đồng này không
phản ánh quan hệ hàng hoá tiền tệ, không mang tính chất đền bù. Các bên chủ
thể có thể thoả thuận góp vật chất, góp sức lao động để lập ra cơ sở kinh doanh
mới. Song chủ thể của loại hợp đồng này phải có t cách pháp nhân đầy đủ. Tuỳ
theo tính chất của tổ chức, hợp đồng không chỉ có 2 bên chủ thể mà có nhiều
bên cùng tham gia.
3.2 Căn cứ vào thời hạn thực hiện hợp đồng, hợp đồng kinh tế chia
làm 2 loại :
* Hợp đồng kinh tế dài hạn :
Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn thực hiện từ 1 năm trở lên nhằm
thực hiện kế hoạch dài hạn
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Hợp đồng kinh tế ngắn hạn :
Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn thực hiện từ 1 năm trở xuống,
gồm hợp đồng năm, nửa năm, quý, tháng để thực hiện kế hoạch năm và những
phần kế hoạch trong năm.
Nh vậy, tuỳ theo đối tợng của hợp đồng, tính chất của mối quan hệ, giá
cả thị trờng mà các chủ thể có thể ký kết hợp đồng ngắn hạn hay dài hạn.
3.3. Căn cứ vào tính kế hoạch của hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm:
* Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh :
Là những hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh
do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền giao cho các doanh nghiệp Nhà nớc. Việc
ký kết hợp đồng kinh tế giữa những đơn vị kinh tế đợc giao nhiệm vụ kế hoạch
là nghĩa vụ, là kỷ luật của Nhà nớc. Hợp đồng này mang tính kế hoạch cao, vì
thế, tính tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể của hợp đồng bị hạn chế. Tuy
nhiên, trong cơ chế mới loại hợp đồng này không còn đợc áp dụng phổ biến nữa
mà chỉ những doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động công ích mới thực hiện nhiệm
vụ kế hoạch Nhà nớc giao.
* Hợp đồng kinh tế thông thờng :
Loại hợp đồng này đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các
bên cùng có lợi . Việc ký kết hợp đồng là quyền tự do ý chí của các đơn vị kinh
tế , không một tổ chức hay cá nhân nào đợc áp đặt ý chí của mình cho các đơn
vị kinh tế khác. Trong cơ chế mới này, loại hợp đồng này đợc áp dụng rất phổ
biến.
3.4 Căn cứ vào nội dung giao dịch của quan hệ hợp đồng gồm:
* Hợp đồng mua bán hàng hoá
Là hợp đồng mà theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá và
quyền sở hữu đối với hàng hoá đó cho bên mua theo đúng điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và thanh toán
tiền hàng. Quan hệ hợp đồng này là quan hệ trao đổi hàng hoá, gọi là quan hệ
hàng hoá - tiền tệ
* Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Là hợp đồng mà theo đó bên vận tải hàng hoá có nghĩa vụ vận chuyển
hàng hoá nhất định đến địa điểm đã ấn định để giao cho bên nhận hàng, còn
bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cho bên vận tải một khoản tiền nhất định
gọi là cớc phí vận chuyển.
* Hợp đồng xây dựng cơ bản :
Là hợp đồng kinh tế trong đó bên nhận thầu có nghĩa vụ xây dựng và bàn
giao cho bên giao thầu toàn bộ công trình theo đúng đồ án thiết kế và thời hạn
nh đã thoả thuận trong hợp đồng, còn ben giao thầu có nghĩa vụ bàn giao mặt
bằng xây dựng , các bản thiết kế và đầu t xây dựng đúng tiến độ đồng thời có
nghĩa vụ nghiệm thu công trình và thanh toán cho bên nhận thầu. Hợp đồng này
mang tính chất đền bù.
* Hợp đồng dịch vụ :
Là hợp đồng kinh tế theo đó bên cung cáp dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện
hành vi nhất định phù hợp với ngành nghề đã đăng ký để thoả mãn nhu cầu của
bên thuê dịch vụ và đợc hởng khoản tiền công nhất định gọi là phí dịch vụ, còn
bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả dịch vụ và thanh toán cho bên
thuê dịch vụ phí nh đã thoả thuận.
Tóm lại, trên đây là những hợp đồng kinh tế cụ thể đợc áp dụng phổ biến
trong thực tiễn đời sống kinh tế của nớc ta hiện nay.
4. Nguồn văn bản hiện hành của chế độ hợp đồng kinh tế
1- Nghị định số 735/TTg ngày 10/4/1960 ban hành điều lệ về hợp đồng
kinh doanh.
2- Nghị định 04/TTg ngày 04/1/1960 ban hành điều lệ tạm thời về chế độ
hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nớc.
3- Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng
kinh tế
4- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989
5- Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng bộ trởng qui định
chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
6- Quyết định 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng bộ trởng về việc
ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về chế độ pháp lý về hợp đồng kinh
tế
III. Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế
1. Chế độ ký kết về hợp đồng kinh tế
1.1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế
Theo điều 3 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế : "Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ
chính đáng của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, bảo vệ lợi ích của xã hội,
việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc pháp luật quy định, phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định đợc quy định trong chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế"
thì ký kết hợp đồng kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
1.1.1 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc này là quyền tự do ý chí (tự do khế ớc) của các chủ thể kinh
doanh đợc pháp luật cho phép để làm phát sinh quan hệ hợp đồng kinh tế mà
không có sự áp đặt ý chí của các bên với nhau hoặc của tổ chức, cá nhân khác
nhau. Việc tham gia hợp đồng hay không là do các bên toàn quyền định đoạt.
Mọi sự ép buộc ký kết hợp đồng kinh tế giữa bên này đối với bên kia - đều làm
cho hợp đồng kinh tế vô hiệu.Do đó, tự nguyện là nguyên tắc bắt buộc phải có
và cũng là nguyên tắc của hầu hết các loại hợp đồng. Theo nguyên tắc này , việc
ký kết hợp đồng kinh tế phải là mong muốn thực sự của các bên tham gia nhằm
đạt đợc mục đích nhất định. Theo đó, các bên có quyền lựa chọn bạn hàng, lựa
chọn địa chỉ cung ứng vật t, thời điểm ký kết hợp đồng cũng nh nội dung ký
kết Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ đợc coi là hình thành và có giá trị pháp lý
nếu có sự thoả thuận giữa các bên đợc thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các
bên.
Tại điều 4 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế qui định : "Ký kết hợp đồng
kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào đợc áp đặt ý chí của mình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng. Không
một đơn vị nào đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
pháp luật". Đây là một quy định thể hiện sự đổi mới rõ rệt của chế độ hợp đồng
kinh tế , nhằm đảm bảo thực sự quyền tự chủ, tự do ký kết hợp đồng, đó là
"quyền của các chủ thể - chứ không phải là "nghĩa vụ" của họ nh trớc đây.
Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu
pháp lệnh của Nhà nớc, bởi vì theo loại hợp đồng này bị chỉ tiêu pháp lệnh chi
phối rất cao. Và hiện nay, quyền tự do giao kết hợp đồng kinh tế chỉ bị giới hạn
bởi các điều kiện sau :
- Việc ký kết hợp đồng kinh tế phải phục vụ hoạt động kinh doanh đã
đăng ký, tức là các chủ thể chỉ đợc hoạt động kinh doanh trong phạm vi chức
năng của mình.
- Các bên không đợc lợi dụng quyền tự do ký kết hợp đồng kinh tế để
hoạt động trái pháp luật , có nghĩa các bên không đợc làm những gì mà pháp
luật cấm.
- Việc ký hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là bắt buộc,
tức là các đơn vị kinh tế Nhà nớc giao cho chỉ tiêu pháp lệnh thì có nghĩa vụ ký
kết hợp đồng kinh tế để thực hiện chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh đó.
Nh vậy, có thể thấy rằng hiện nay Nhà nớc chỉ can thiệp vào các quan hệ
hợp đồng kinh tế bằng pháp luật chứ không dùng mệnh lệnh hành chính nh trớc
đây nữa.
1.1.2 Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi
Theo nguyên tắc này, khi ký kết hợp đồng kinh tế , các chủ thể hợp đồng
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau mà pháp luật qui định để thoả thuận những
vấn đề mà các bênquan tâm nhằm đạt đợc mục đích cuối cùng là thiết lập quan
hệ hợp đồng kinh tế, hay nói cách khác , các chủ thể có vai trò nh nhau dù họ
có địa vị pháp lý khác nhau.
Biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên đ-
ợc thể hiện ngay trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế. Các bên
đều có quyền đa ra yêu cầu của mình và cũng có quyền chấp nhạn hay không
chấp nhận ý kiến của bên kia. Thực hiện nguyên tắc này không phụ thuộc quan
hệ sở hữu và quan hệ quản lý của các chủ thể hợp đồng, bát kể họ thuộc thành
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý, thì khi ký hợp đồng điều bình đẳng với
nhau về quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phải chịu trách
nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết. Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ
đợc coi là hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về tất cả các điều
khoản trong hợp đồng.
Tuy nhiên, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ ở đây phải song hành với t t-
ởng hai bên cùng có lợi nhng không nhất thiết các bên phải lợi ích nh nhau mà
mỗi bên đều có lợi ích riêng theo mục đích của mình, đồng thời, nó đòi hỏi các
bên phải biết tôn trọng lợi ích của nhau, không thể để lợi ích của bạn hàng lấn
át lợi ích của mình và ngợc lại không để lợi ích của mình lấn át lợi ích của bạn
hàng. Vì thế, đây chính là t tởng giúp cho quan hệ đợc làm ăn lâu dài.
1.1.3 Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất và không trái pháp
luật
- Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là nếu có vi phạm hợp đồng
kinh tế, thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi th-
ờng thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bằng chính tài sản của
mình mà không phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức, cá nhân có lỗi đã gây ra vi
phạm đó, trừ các trờng hợp miễm giảm trách nhiệm vật chất. Có nghĩa là, khi
hợp đồng kinh tế đợc ký kết thì các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những
điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Nguyên tắc này đợc qui định trong Điều
29 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 21 Nghị định 17/HĐBT đã dẫn. Đây là
một điểm mới của hợp đồng kinh tế theo pháp luật hiện hành. Trớc đây, trong
thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp, nếu trong quan hệ hợp đồng kinh tế mà có vi
phạm hợp đồng thì bên vi phạm không chịu trách nhiệm với bên kia mà chịu
trách nhiệm trớc Nhà nớc nh là một hình thức vi phạm kỷ luật Nhà nớc.
- Nguyên tắc không trái pháp luật đòi hỏi chủ cụ thể, hình thức thủ tục ký
két và nội dung hợp đồng kinh tế phải hợp pháp (tuân thủ đúng các quy định
của pháp luật). Mọi vấn đề kể trên mà trái vơi squy định của pháp luật đều làm
cho hợp đồng đó trở thành vô hiệu và có thể gây ra thiệt hại về mặt vật chất cho
các bên và cho cả Nhà nớc. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng trong
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
việc bảo vệ trật tự kỷ cơng pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nớc
trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế. Các bên đợc tự do thoả thuận ý chí nhng điều
đó không có nghĩa các bên muốn thoả thuận với nhau về điều gì cũng đợc. í chí
đó phải phù hợp với pháp luật
1.2 Chủ thể hợp đồng kinh tế
Những tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tham gia hợp đồng
kinh tế có quyền và nghĩa vụ đối với nhau gọi là chủ thể hợp đồng kinh tế. Theo
điều 2 pháp lệnh hợp đồng kinh tế , chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế phải là
pháp nhân với pháp nhân hoặc pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật. Nh vậy, trong quan hệ hợp đồng kinh tế pháp nhân
là một bên chủ thể ký kết hợp đồng, còn ben kia có thể là cá nhân có đăng ký
kinh doanh.
Pháp nhân phải là tổ chức có các điều kiện sau :
+ Đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập
hoặc công nhận.
+ Có cơ cấu tổ chức thống nhất.
+ Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật môt cách độc lập
(điều 94, Bộ luật dân sự)
Cá nhân có đăng ký kinh doanh đợc hiểu là cá nhân đợc cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đó là các hộ kinh
doanh cá thẻ đợc qui định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của
Chính phủ, hoặc các doanh nghiệp t nhân, công ty hợp doanh theo quy định của
luật doanh nghiệp 12/6/1999.
Nh vậy, những hợp đồng đợc ký kết giữa các cá nhân với nhau không đợc
gọi là hợp đồng kinh tế và nếu tranh chấp xẩy ra sẽ đợc giải quyết theo thủ tục
tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, theo qui định tại điều 42 , 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và
thông t số 11/TT/PL ngày 25/5/1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nớc hớng dẫn ký
kết và thực hiện hợp đồng kinh tế mở rộng điều kiện cho phép pháp nhân có thể
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét