Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Sử dụng chính sách về tiền lương

Tiểu luận triết học
với các công cụ đã có mà chủ yếu là ở việc tạo ra những công cụ hoàn toàn
mới sử dụng cơ bắp con người. Do đó con người đã chuyển một phần công
việc nặng nhọc cho máy móc có điều kiện để phát huy năng lực khác của
mình.
QHSX là mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình
sản xuất ra của cải vật chất của xã hội, trong quá trình sản xuất con người có
những quan hệ, con người không thể tách khỏi cộng đồng. Như vậy viêc phẳi
thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật
rồi. Nhìn tổng thể QHSX gồm ba mặt:
-Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu
sản xuất, nói cách khác tư liệu sản xuất thuộc về ai.
-Chế độ tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh, tưc là quan hệ giữa
người với người trong sản xuất và trao đổi của vật chất như phân công chuyên
môn hoá và hợp tác hoá và hợp tác hoá lao động quan hệ giữa người quản lý
và công nhân.
-Chế độ phân phối sản xuất, sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với
nhauvà cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lí và có hiệu quả tư liệu sản
xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đảy tái sản xuất
mở rộng, nâng cao phúc lợi người lao động.Đóng góp ngày càng nhiều cho
nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Trong cải tạo và củng cố QHSX phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế
độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối .Không nên coi trọng một mặt
nào cả về mặt lí luận , không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng
QHSX. Nó còn là đặc trưng để phân biệt chẳng những các QHSX khác nhau
mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như Mác đã nói.
-Thực tế cho thấy rõ bất cứ một cuôc cách mang xă hội nào đều mang
mục đích kinh tế là đảm bảo cho LLSX tiếp tục phát triển thuận lợi và đời
sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên
của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế-xã hội trong quá khứ
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
5
Tiểu luận triết học
và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kì quá độ từ hình thái kinh tế-xã hội
tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa.
-Và xét riêng trong phạm vi một QHSX nhất định thì tính chất của sở
hữu cũng quyết định tính chất của quản lí và phân phối. Mặt khác trong mỗi
hình thái kinh tế-xã hội nhất định QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi
phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những không
đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của của chế độ
kinh tế-xã hội mới.
Nếu trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ hình thái
kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác hoàn toàn là một cuộc
tiến hoá êm ả, thì thời kì quá độ từ từ hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ
nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái cộng sản chủ nghĩa(CSCN)
trong thời đại ngày nay càng không thể là một quá tình êm ả. Chủ nghĩa
Mác-Lênin chưa bao giờ coi hình thái kinh tế-xã hội nao đã tồn tại kể từ trước
tới nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội cùng với một QHSX
thống trị, điển hình còn tồn tại những QHSX phụ thuộc, lỗi thời như tàn dư
của xã hội cũ. Ngay ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không
chỉ có một QHSX tư bản chủ nghĩa thuần nhất. Tất cả các hình thức trên đều
bắt nguồn từ phát triển không đều về LLSX không những giữa các nước khác
nhau mà còn giữa các ngành và các vùng khác nhau trong cùng một nước.
Việc chuyển từ QHSX lỗi thời lên cao hơn như C.Mác nhận xét:"Không bao
giờ xuất hiện trươc khi những điều kiện vật chất của những quan hệ đó chưa
chín muồi "phải có một thời kì lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tậo ra
điều kiện vật chất trên.
Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế-chính trị năm 1895
C.Mác viết: ''Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có
những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào họ, tức những QHSX.
Những quy luật này phù hợp với mộtt trình độ phát triển nhất định của LLSX.
Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của LLSX
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
6
Tiểu luận triết học
vật chất của họ " Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về
"Qui luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX
Cho đến nay hầu như qui luật này đã được khẳng định cũng như các
nhà triết học Mac xit nghiên cứu.Khái niệm "phù hợp" được hiểu với nghĩa
chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái
qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ "phù hợp" này. Các
mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một
cách tổng quát thì đó là dạng những QHSX và dạng những LLSX từ đó hình
thành những moói liên hệ chủ yếu cơ bản là mối quan hệ giữa QHSX phù hợp
với tính chất và trình độ của LLSX. Nhưng mối liên hệ giữa hai yếu tố cơ bản
này là gì? Phù hợp hay không phù hợp?Thống nhất hay mâu thuẫn? Trước hết
cần xác định phù hợp với các ý nghĩa sau:
-Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
-Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt
tới.
Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ tạm thời và sự không cân bằng
là tuyệt đối.Chính đây là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển. Ta biết
rằng trong phép biện chứng duy vật cái tương đối không thể tách khỏi cái
tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn nhất định. Chỉ có thể
quan niệm được sự phát triển chhừng nào người ta thưà nhận tính chân lý
vĩnh hằng của sự vận động, Cũng vì thế chỉ có thể quan niệm được sự phát
triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát triển trong mâu
thuẫn của LLSX và QHSX chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù
hợp giữa chúng.
Tóm lại, có thể nói thực chất của quy luật về mối quan giữa LLSX và
QHSX là quy luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ
là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động , sự mâu thuẫn là
vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đầy đủ khẳ năng vạch ra động lực
của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của quy luật kinh
tế.
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
7
Tiểu luận triết học
Tất cả chúng ta đều biết, QHSX và LLSX là hai mặt hợp thành của
phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy
QHSX lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của LLSX là một hiện
tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của
tư tưởng này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội
thuần nhất bất chấp quy luật khách quan.Về mặt phương pháp luận, đó là chủ
nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của
QHSX với sự phát triển của LLSX. Sự lạm dụng này biểu hiện ở "Nhà nước
chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra QHSX mới để mở đường
cho sự phát triển của LLSX".
QHSX chỉ có mở đường cho LLSX phát triển khi mà nó được hoàn
thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn
giữa QHSX và LLSX:
-LLSX quyết định sự hinh thành và biến đổi của QHSX:LLSX là cái
biến đổi trước và trong quá trình sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động
nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động.
Lực lượng lao động quy định sự hình thành và biến đổi QHSX khi QHSX
không thích ứng với trình độ và tính chất của LLSX thì nó kìm hãm thậm chí
phá hoại LLSX và ngược lại.
-Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX: QHSX khi đã được xác
lập thì nó độc lập tương đối với LLSX và trở thành những cơ sở và những thể
chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với LLSX. Thường lạc hậu
so với LLSX và và nếu QHSX phù hợp với trình độ và tính chất của LLSX thì
nó thúc đẩy LLSX phát triển .Sở dĩ QHSX có thể tác động mạnh mẽ trở lại
LLSX vì nó quy định mục đích của sản xuất quy định hệ thống tổ chức quản
lí sản xuất và quản lí xã hội, quy định phương thức phân phối và phần của cải
ít hay nhiều mà người lao động được hưởng . Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ
tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc
hạn chế sự phát triển của công cụ lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
8
Tiểu luận triết học
kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ lao động , áp dụng thành tựu
khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX
là quy luật vận động, phát triển của sản xuất qua sự thay đổi kế tiếp nhau từ
thấp đến cao của các phương thức sản xuất. Nhưng không phải bất cứ nước
nào cũng nhất thiết phải tuần tự trải qua tất cả những phương thức sản xuất
mà loài người biết đến. Thực tế lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, tuỳ
theo điều kiện lịch sử cụ thể, một số nước có thể bỏ qua một hoặc một số
phương thức sản xuất để tiến lên phương thức sản xuất mới cao hơn. Đó là sự
biểu hiện của quy luật chung trong điều kiện cụ thể của mỗi nước. Quy luật
chung chi phối xu hướng vận động phát triển của tất cả các nước, còn hình
thức bước đi cụ thể lại phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước .
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX
là quy luật chung của xã hội loài người. Quy luật xã hội thì thông qua hoạt
động có ý thức con người hoạt động xã hội thông qua xã hội có ý thức. Còn
quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là cái
quyết định chính còn QHSX là cái phụ thuộc khách quan và QHSX phát triển
hay không phát triển nhưng nó phải biến đổi để thích ứng với sản xuất
II.CƠ SỞ THỰC TIỄN
Ở Việt Nam hiện nay, khi LLSX đang phát triển một cách mạnh mẽ do
cơ chế thị trường, do trình độ xã hội hoá ngày càng cao và do sự phát triển
của khoa học kỹ thuật thì nhà nước ta đã có những chính sách thể hiện sự
quan tâm và có những biện pháp để tận dụng và phát huy những ưu thế của
vấn đề này. Một trong số đó chính là vấn đề tiền thưởng đã được nhà nước và
các doanh nghiệp nhà nước quan tâm phát triển. Trong phiên họp quốc hội
khoá IX, đã đưa ra thêm nhiều cải cách trong bộ luật lao động, trong đó cũng
đã đề cập đến đến việc có những chính sách ưu đãi và phúc lợi cho người lao
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
9
Tiểu luận triết học
động nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của con người.Nhưng vấn đề tiền
lươmg này cũng gồm có hai mặt: nếu sử dụng chính xác và hiệu quả sẽ kích
thích khả năng lao đông và làm việc của người lao động, còn nếu không phù
hợp và đúng mục đích sẽ gây nhiều tiêu cực và lãng phí.
1. Mặt tích cực:
a)Sử dụng chính sách về tiền lương.
*Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp
cho họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết
Việc áp dụng mức tiền thưởng phù hợp là một vấn đề rất quan trọng
trong việc phát triển nguồn lực con người và thành, bại công việc.Hiện nay
trên thế giới việc sử dụng thang lương, bảng lương là vấn đề phổ biến nhất.
Việc sử dụng thang lương và bảng lương có hiệu quả kích thích người lao
động làm việc chăm chỉ, cần cù sáng tạo hơn trong công việc nhằm đạt một
mức lương cao hơn.Ở nước ta, hệ thống tiền lương bao gồm hai chế độ tiền
lương: chế độ tiền lương cấp bậc và chế độ tiền lương chức vụ.
+Chế độ tiền lương cấp bậc được thiết kế để trả công cho công nhân
sản xuất căn cứ vào chất lượng lao động và điều kiện lao động khi họ thực
một công việc nhất định. Chế độ tiền lương này kích thích người lao động
không ngừng lao động tích luỹ kinh nghiệm, không ngừng học tập, học hỏi
để có trình độ cao hơn .
+Chế độ tiền lương chức vụ: được thiết kế để trả lương cho người lao
động trong các tổ chức và quản lý nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và các
loại lao động quản lý trong các doanh nghiệp tuỳ theo chức danh viên chức và
thâm niên của người lao động. Để áp dụng được các bảng lương, các tổ chức
phải xây dựng các tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức và thực hiện việc tiêu
chuẩn hoá cán bộ.
Nói chung việc đưa ra các chế độ tiền lương nhằm có sự công bằng, có
sự kích thích lao động.Nhằm tạo mục tiêu cho người lao động phấn đấu.
Ở tổng công ty LILAMA, là tổng công ty chế tạo máy Việt Nam việc
phân định mức tiền lương và tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên rất được
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
10
Tiểu luận triết học
ban lãnh đạo công ty quan tâm.Công ty có đặt ra nhiều chế độ tiền lương hợp
lý như: đối với những cán bộ, công nhân viên chức có công lao đóng góp đặc
biệt cho công ty lương tháng lên tới 1000USD\tháng và được tạo nhiều điều
kiện thuận lợi trong công tác, để có thể tiếp tục phát huy khả năng một cách
tốt nhất và tiếp có những đóng góp cho công ty.
Còn công ty STC của Mỹ có trụ sở đặt tại Việt Nam: về maketting cho
hàng tiêu dùng cũng có chính sách tiền thưởng rất phù hợp. Nhân viên nào thu
hút được nhiều khách hàng thì có thể được thưởng tới 2000USD.
b)Chế độ khuyến khích tài chính.
*Khuyến khích tài chính là những khoản phụ thêm ngoài tiền lương để thù
lao cho sự thực hiện tốt hơn mức tiêu chuẩn của người lao động.
Mục đích của các khuyến khích tài chính là tác động tới hành vi lao
động, nhằm hoàn thiện sự thực hiện công việc của người lao động, nâng cao
năng suất lao động của họ.
Tiền thưởng cũng chỉ là một dạng của vấn đề khuyến khích tài chính
(xét theo góc độ trả công) được chi trả một lần để thù lao cho việc thực hiện
công việc của người lao động. Tiền thưởng cũng có thể được chi trả đột xuất
để ghi nhận nhữnh thành tích xuất sắcnhư hoàn thanh dự án công việc trước
thời hạn, tiết kiệm ngân sách hoặc cho các sáng kiến cải tiến có giá trị.
Ngoài tiền thưởng còn có phần thưởng.Cũng giống như tiền thưởng,
phần thưởng là thù lao một lần cho người lao động nhưng được trả dưới dạng
vật chất như: một kì nghỉ phép, vé du lịch, một chiếc xe máy v.v
Các chế độ trả công khuyến khích là những dạng khuyến khích tài
chính có nhiều tác dụng tốt đối với người lao động với điều kiện chúng phải
được thiết kế một cách có tính toán và được quản lý cẩn thận. Tuy nhiên, xu
hướng ngày nay là các chế độ trả công theo sản phẩm ít được sử dụng vì tính
liên kết cao của quá trình sản xuất hiện đại, sự thay đổi nhanh chóng của
công nghệ và sự nhấn mạnh về chất lượng và phục vụ nhiều hơn về số lượng.
Hoa hồng là một dạng của trả công theo sản phẩm và được sử dụng với
các nhân viên bán hàng. Các nhân viên bán hàng có thể được thù lao theo tỷ
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
11
Tiểu luận triết học
lệ hoa hồng cố định so với giá bán của mỗi sản phẩm họ bán được. Tuy nhiên,
đa số những người bán hàng thường được thù lao kết hợp cả tiền lương cơ
bản và hoa hồng.
Ưu điểm cơ bản của khuyến khích cá nhân là thúc đẩy nâng cao năng
suất vì vậy cần dựa vào vấn đề này để thúc đẩy cạnh tranh tạo nền kinh tế
năng động.Có nhiều phương pháp để khuyến khích tài chính, ở Việt Nam
hiện nay có chủ yếu 3 phương thức chính được xem là hiệu quả và cũng đang
được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.
+Chương trình Scanlon: công ty cần thành lập một hội đồng gồm đại
diện quản lí và đại diện người lao động để đánh giá tỷ lệ % tiêu chuẩn về chi
phí lao động so với doanh thu. Tỷ lệ này được tính dựa trên các số liệu của
công ty (5năm) và được coi là cố định trừ khi có những thay đổi lớn về sản
phẩm và kỹ thuật. Mọi người lao động phân chia phần chi phí lao động tiết
kiệm được do tăng năng suất của cả bộ phận. Tỷ lệ phân chia thường là 60%
đến 75% cho công nhân, sau khi đã để một quỹ làm dự phòng cho những giai
có năng suất kém.
Ví dụ: Ở công ty LILAMA, phòng kế hoạch đã đưa ra kế hoạch tài
chính cho quý 3 năm 2004 là cần có 9.000.000.000 đ tiền lương để sản xuất
được 36.000.000.000 đ giá trị sản lượng hàng hoá . Tỷ lệ tiền lương so với giá
trị hàng hoá là 25%. Nhưng thực tế vào quý 3 năm 2004, chi phí tiền lương
thực tế chỉ còn là 6.000.000.000 đ. Vì vậy, phòng tài vụ đã quyết định đưa số
tiền 3.000.000.000 đ vào quỹ tiền thưởng của công ty với tỷ lệ phân chia là
75% tức là 2.250.000.000 đ. Số tiền thưởng này sẽ dành một phần phân chia
cho từng công nhân, việc phân chia được tính theo tỷ lệ thu nhập bình quân
của từng người so với tổng chi phí tiền công tiền của cả bộ phận; một phần
nhằm để tăng và khen thưởng cho những người có những sáng kiến có giá trị
và cho những người có đóng góp lớn với công ty trong năm vừa qua; một
phần dùng để hỗ trợ cho những người có hoàn cảnh khó khăn.
Cũng cần phải nói thêm về việc chênh lệch số tiền mà phòng kế hoạch
đã đưa ra có sự khác biệt so với thực tế là do sự tác động bởi rất nhiều nguyên
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
12
Tiểu luận triết học
nhân khách quan như giá cả của thị trường có nhiều thay đổi bất thường. Và
đặc biệt cũng không thể phủ nhận vai trò của nhân tố chủ quan ở đây .Việc
công ty có nhiều chính sách khuyến khích lao động đặc biệt là vấn đề phụ cấp
và tiền thưởng đã phát huy rất hiệu quả; hay việc xây dựng thương hiệu của
công ty là rất tốt
+Chương trình Rucker: cũng tương tự chương trình Scanlon, sự khác
nhau cơ bản là ở phương pháp tính tỷ lệ chi phí lao động. Tỷ lệ chi phí lao
động trong chương trình Rucker được gọi là chỉ số năng suất kinh tế được xác
định bằng cách chia giá trị gia tăng cho chi phí lao động (tổng chi phí tiền
lương trong kỳ). Giá trị gia tăng được tính bằng tổng doanh thu trừ đi chi phí
nguyên vật liệu.
Chương trình này được áp dụng ở một chi nhánh của công ty STC đặt
tại thành phố Hải Dương.Chương trình này đã được khẳng định hiệu quả và
gián tiếp tạo cho công ty một đội ngũ công nhân giỏi và một mức doanh thu
lớn trong nhiều năm qua. Nhìn vào số liệu của chi nhánh nay đạt được vào
tháng 5 và 6 năm 2004 ta có thể thấy rõ điều đó:
Số liệu thống kê
Doanh thu (USD) 200.000
Chi phí nguyên vật liệu (USD) 100.000
Giá trị gia tăng (USD) 100.000
Chi phí lao động (USD) tiêu chuẩn
cho 200.000 USD doanh thu 50.000
Tỷ lệ chi phí lao động\giá trị
gia tăng 50.000 :100.000 =0, 5
Chỉ số năng suất kinh tế 1 : 0, 5 = 2
Số liệu kỳ tính thưởng
Doanh thu (USD) 200.000
Chi phí nguyên vật liệu (USD) 100.000
Giá trị gia tăng (USD) 100.000
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
13
Tiểu luận triết học
Chi phí lao động (USD) 40.000
Giá trị gia tăng kỳ vọng (USD) 2 x 40.000 = 80.000
Tiết kiệm (hoặc lỗ) (USD) 100.000 - 80.000 = 20.000
Chi phí lao động tiết kiệm được (USD) 0, 5 x 20.000 = 10.000
Một phần ba của 10.000 USD chi phí lao động tiết kiệm được (tiết kiệm
tương đối)
Do năng suất này được đưa vào quỹ dự phòng còn lại sẽ được chia cho
người lao động và công ty. Đến cuối kỳ hạch toán, quỹ dự phòng không dùng
hết sẽ được chia cho người lao động.
+Chương trình Improshare: chương trình này đơn giản và có thể áp
dụng cho tổ nhóm lao động cũng như cả một xưởng/bộ phận. Chương trình
này đo lường năng suất lao động một cách trực tiếp chứ không đo giá trị sản
phẩm của tập thể lao động. Sản lượng tiêu chuẩnđược tính theo số liệu thống
kê của những thời kỳ trước. Tăng năng suất lao động được tính trên cơ sở so
sánh số giờ làm việc thực tế với số giờ tiêu chuẩn. Tiền cho số giờ tiết kiệm
thường được chi trả hàng tuần, nhưng cũng có thể là hàng tháng .
Chương trình này đã đựơc áp dụng ở nhiều nơi và cũng đã gặt hái được
nhiều thành quả tốt đẹp. Đặc biệt, ở công ty gốm sứ Hải Dương mô hình này
đã trở thành vấn đề chiến lược của nhà máy:
Tổng số lao động cả xưởng - công nhân và lao động quản lý (người)
Sản lượng bình quân - số liệu thống kê đơn vị 500
Tổng giờ cả xưởng (giờ tiêu chuẩn) 6.000 (150 x 40 giờ/tuần)
Giá trị bình quân một đơn vị sản phẩm (giờ/đơn vị)12 (6.000/500)
Sản lượng tuần sau khi áp dụng chương trình (đơn vị) 650
Giá trị năng suất thực tế (giờ) 7.800 (650 x 12)
Tiết kiệm nhờ tăng năng suất (giờ) 1.800 (7.800 - 6.000)
Phân chia (50% người lao động/50% công ty) 900 (1.800/2)
Chi phí lao động mới (giờ/đơn vị) 10, 62 (6.000 + 900)/650
Thưởng (so với sản lượng làm ra) 15% (900/6.000)
Hệ số tăng năng suất 1, 3 (7.800/6.000)
Nguyễn Minh Tuấn Luật Kinh doanh K47
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét