Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

tiểu luận kinh tế môi trường

- Việc đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa và mạng lưới giao thông.
 Ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt:
Chất thải rắn đô thị cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất nếu
không được quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹ thuật.Chất thải rắn đô
thị rất phức tạp, nó bao gồm các thức ăn thừa, rác thải nhà bếp, làm vườn , đồ dùng
hỏng , gỗ, thủy tinh, nhựa, các loại giấy thải,các loạirác đường phố bụi, bùn, lá
cây…
Ở các thành phố lớn , chất thải rắn sinh hoạt được thu gom , tập trung ,phân loại
và xử lý. Sau khi phân loại có thể tái sử dụng hoặc xử lý rác thải đô thị để chế biến
phân hữu cơ, hoặc đốt chôn. Cuối cùng vẫn là chôn lấp và ảnh hưởng tới môi
trường.
Ô nhiễm môi trường đất tại các bãi chôn lấp có thể do mùi hôi thối sinh ra do
phân hủy rác làm ảnh hưởng tới sinh vật trong đất, giảm lượng oxi trong đất.
Các chất độc hại sản phẩm của quá trình lên men khuếch tán , thấm và ở lại
trong đất.
Nước rỉ từ các hầm ủ và bãi chôn lấp có tải lượng ô nhiễm chất hữu cơ rất cao
cũng như các kim loại nặng như Cu , Zn, Pb, Al ,Fe, Cd , Hg và cả các chất như
P ,N, … cũng cao. Nước rỉ này sẽ ngấm xuống đất gây ô nhiễm đất và nước ngầm.
Ô nhiễm môi trường đất, nước còn có thể do bùn cống rãnh của hệ thống thoát
nước của thành phố là mà thành phần các chất hữu cơ , vô cơ, kim loại tạo nên các
hỗn hợp các phức chất và đơn chất khó phân hủy.
 Ô nhiễm do chất thải công nghiệp:
Các hoạt động công nghiệp rất phong phú và đa dạng, chúng có thể là nguồn gây
ô nhiễm.
Bảng 3: Nguồn gốc công nghiệp của một số kim loại nặng.
Kim loại nặng Nguồn gốc công nghiệp
As Nước thải công nghiệp thủy tinh, sản xuất phân bón
Cd Luyện kim, mạ điện, xưởng thuốc nhuộm, hơi thải chứa Cd
Cu
Luyện kim, công nghiệp chế đồ uống, sản xuất thuốc bảo vệ
thực vật( BVTV)
Cr Luy Luyện kim, mạ, nước thải xưởng in và nhuộm
Hg Xưởng sản xuất hợp chất có chứa Hg, thuốc BVTV có chứa Hg
Nước thải luyện kim, BVTV, Nhà máy sản xuất pin, ắc quy, khí
thải chứa Pb
Zn Nước thải luyện kim, xưởng dệt, nông dược chứa Zn và Phân lân
Ni Nước thải luyện kim, mạ, luyện dầu, thuốc nhuộm
F Nước thải sau khi sản xuất phân lân
Muối kiềm Nước thải nhà máy giấy, nhà máy hóa chất
Axit Nước thải nhà máy sản xuất axit sunfuric, đá dầu, mạ điện
- Những tác động về vật lý như: gây xói mòn, nén chặt đất và phá hủy cấu trúc
đất do kết quả của các hoạt động xây dựng, sản xuất khai thác mỏ.
- Những tác động về hóa học như: các chất thải rắn, lỏng và khí tác động đến
đất.Các chất thải độc hại có thể được tích lũy trong đất trong thời gian dài gây ra
nguy cơ ô nhiễm môi trường đất nghiêm trọng.
 Ô nhiễm do chất thải nông nghiệp:
Áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng lương thực, thực phẩm ngày càng tăng
và phải tăng cường khai thác độ phì nhiêu của đất bằng nhiều biện pháp : Tăng
cường sử dụng hóa chất như phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, sử dụng chất
kích thích sinh trưởng làm giảm thất thoát và tạo nguồn lợi cho thu hoạch, mở rộng
các hệ tưới tiêu.
Tuy nhiên trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật thường có sẵn kim loại nặng
và chất khó phân hủy, khi tích lũy đến một giới hạn nhất định, chúng sẽ thành chất
ô nhiễm.
 Ô nhiễm do phân bón hóa học:
* Sử dụng phân vô cơ:
- Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cây trồng chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa
30% lượng phân bón vào đất. Phần còn lại sẽ bị rửa trôi theo nước hoặc nằm lại trên
đất gây ô nhiễm môi trường.
Ví dụ:
+ Phân lân rất dễ chuyển hóa thành nitrat NO3 Một phần nitrat được thực vật
hấp thụ làm chất dinh dưỡng nhưng nếu tích lũy quá nhiều nitrat NO3-sẽ sinh ra quá
trình đềnitrat (khử nitrat) bởi vi sinh tạo nên nitrit NO2- là chất sẽ theo dây chuyền
thực phẩm đi vào động vật gây ảnh hưởng tới sức khỏe. Mặt khác, các anion NO3-
và NO2- ít bị hấp phụ trong đất (vì hầu hết các keo trong đất là keo âm) sẽ đi vào
nước, gây ô nhiễm nước
+ Hàm lượng (NH4)2SO4, K2SO4, KCl, superphotphat còn tồn dư acid nếu bón
liên tục mà không có biện pháp trung hòa sẽ làm chua đất, nghèo kiệt các ion
bazơvà xuất hiện nhiều độc tố đối với cây trồng (như: Al3+, Fe3+, Mn2+…) làm
giảm hoạt tính sinh học của đất.
* Sử dụng phân hữu cơ:
Trong phân chuồng cũng có chứa rất nhiều các loại kim loại nặng và các vi sinh
vật gây hại. Ở Việt Nam, phân chuồng thường ít được ủ đúng kỹ thuật và bón đúng
liều lượng nên dễ gây ô nhiễm môi trường đất, gây hại cho động vật và người. Bởi
vì trong phân bón này có chứa nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng, và các
mầm bệnh dễ lây lan. Khi bón vào đất chúng có điều kiện phát triển làm ô nhiễm
môi trường sinh thái qua lan truyền trong nước mặt hoặc bốc hơi trong không khí.
 Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật:
Việc lạm dụng và sử dụng một cách không phù hợp đã trở thành nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường đất, nước.
Các thuốc bảo vệ thực vật thường là những hóa chất độc, khả năng tồn dư lâu
trong đất tươi, tác động tới môi trường đất, sau đó đến sản phẩm nông nghiệp, đến
động vật và người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn. Hiện nay do sử dụng và
bảo quản thuốc BVTV chưa đúng quy định nên đã gây ô nhiễm môi trường đất,
nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Đất, nước một khi đã bị ô nhiễm thì việc xử lí là vô cùng khó khăn và mất nhiều
công sức, tiền của. Do đó cần phải có biện pháp ngăn chặn ô nhiễm đất, nước trong
đó giải pháp quan trọng nhất là nâng cao ý thức của con người trong việc thải bỏ
chất thải,ý thức xử dụng thốc trừ sâu, phân bón hóa học của những người nông dân.
Đồng thới cần khuyến khích sử dụng phân bón sinh học, sử dụng các giống cây
trồng không có sâu bệnh để hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa
học, tuyên truyền cho người dân thực hiện luật môi trường để bảo vệ môi trường
đất, nước bảo vệ các sinh vật sinh sống trên Trái Đất để cuộc sống của chúng ta
ngày càng tốt đẹp hơn.
3.2.3. Ô nhiễm không khí:
Hằng năm có khoảng 20 tỉ tấn CO2 + 1,53 triệu tấn SiO2 + Hơn 1 triệu tấn
Niken + 700 triệu tấn bụi + 1,5 triệu tấn Asen + 900 tấn coban + 600.000 tấn Kẽm
(Zn), hơi Thuỷ ngân (Hg), hơi Chì (Pb) và các chất độc hại khác. Làm tăng đột biến
các chất như CO2, NOX, SO3 …
Các chất ô nhiễm phát xuất từ nhiều nguồn khác khau; ô nhiễm không khí rất khó
phân tích vì chất ô nhiễm thay đổi nhiều do điều kiện thời tiết và địa hình; nhiều
chất còn phản ứng với nhau tạo ra chất mới rất độc.
 Ảnh hưởng đến môi trường đa dạng và phong phú. Vì vậy, xử l ý kh í th ải là
điều rất cần thiết.
 Tác hại đến con người:
 Tác hại của bụi:
- Thành phần hóa học, thời gian tiếp xúc là các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ
quan nội tạng.
- Mức độ bụi trong bộ máy hô hấp phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, mật độ
hạt bụi và cá nhân từng người.
- Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp
như khó thở, ho và khạc đờm, ho ra máu, đau ngực …
- TCVN 2005 qui định bụi tổng cộng trong không khí xung quanh 0,5 mg/m3.
Ví dụ:
+ Bụi đất đá không gây ra các phản ứng phụ: tính trõ, không có tính gây độc.
Kích thước lớn (bụi thô), nặng, ít có khả năng đi vào phế nang phổi, ít ảnh hưởng
đến sức khỏe.
+ Bụi than: thành phần chủ yếu là hydrocacbon đa vòng (VD: 3,4-
benzenpyrene), có độc tính cao, có khả năng gây ung thư, phần lớn bụi than có kích
thước lớn hơn 5 micromet bị các dịch nhầy ở các tuyến phế quản và các lông giữ
lại. Chỉ có các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 5 mm vào được phế nang.
 Tác hại của SO2 và NOX:
- SO2, NOX là chất kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành axít
(HNO3, H2SO3, H2SO4). Các chất khí trên vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa
tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó phân tán vào máu tuần hoàn.
- Kết hợp với bụi => bụi lơ lửng có tính axít, kích thước < 2-3µm sẽ vào tới phế
nang, bị đại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết.
- SO2 nhiễm độc qua da làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac ra
nước tiểu và kiềm ra nước bọt.
- Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường,
thiếu vitamin B và C, ức chế enzym oxydaza.
- Giới hạn phát hiện thấy bằng mũi SO2 từ 8 – 13 mg/m3.
- Giới hạn gây độc tính của SO2 là 20 – 30 mg/m3, giới hạn gây kích thích hô
hấp, ho là 50mg/m3.
- Giới hạn gây nguy hiểm sau khi hít thở 30 – 60 phút là từ 130 đến 260mg/m3
- Giới hạn gây tử vong nhanh (30’ – 1h) là 1.000-1.300mg/m3.
- Tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam đối với SO2, SO3, NO2 týõng
ứng là 0,5; 0,3 và 0,085 mg/m3 (nồng độ tối đa 1 lần nhiễm).
 Tác hại của HF:
- HF sinh ra do quá trình sản xuất hóa chất (HF) và là một tác nhân ô nhiễm
quan trọng khi nung gạch ngói, gốm sứ.
- Không khí bị ô nhiễm bởi HF và các hợp chất fluorua gây ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống sinh vật và sức khoẻ của người. Các hợp chất fluorua gây ra bệnh
fluorosis trên hệ xương và răng.
 Tác hại của CO:
- Ôxít cacbon (CO) kết hợp với hemoglobin (Hb) trong máu thành hợp chất bền
vững là cacboxy hemoglobin (HbCO) làm cho máu giảm khả năng vận chuyển ôxy
dẫn đến thiếu ôxy trong máu rồi thiếu ôxy ở các tổ chức.
- Mối liên quan giữa nồng độ CO và triệu chứng nhiễm độc tóm tắt dưới đây:

 AMONIAC (NH3):
- NH3 không ăn mòn thép, nhôm, tan trong nước gây ăn mòn kim loại màu:
kẽm, đồng và các hợp kim của đồng. NH3 tạo với không khí một hỗn hợp có nồng
độ trong khoảng từ 16 đến 25% thể tích sẽ gây nổ.
- NH3 là khí độc có khả năng kích thích mạnh lên mũi, miệng và hệ thống hô
hấp.
- Ngưỡng chịu đựng đối với NH3 là 20 – 40 mg/m3.
- Tiếp xúc với NH3 với nồng độ 100 mg/m3 trong khoảng thời gian ngắn sẽ
không để lại hậu qủa lâu dài.
- Tiếp xúc với NH3 ở nồng độ 1.500 – 2.000 mg/m3 trong thời gian 30’ sẽ nguy
hiểm đối với tính mạng.
 HYDRO SUNFUA (H2S):
- Phát hiện dễ dàng nhờ vào mùi đặc trưng.
- Xâm nhập vào cơ thể qua phổi, H2S bị oxy hoá => sunfat, các hợp chất có độc
tính thấp. Không tích lũy trong cơ thể. Khoảng 6% lượng khí hấp thụ sẽ được thải
ra ngoài qua khí thở ra, phần còn lại sau khi chuyển hóa được bài tiết qua nước tiểu.
- Ở nồng độ thấp, H2S có kích thích lên mắt và đường hô hấp.
- Hít thở lượng lớn hỗn hợp khí H2S, mercaptan, ammoniac… gây thiếu oxy đột
ngột, có thể dẫn đến tử vong do ngạt.
- Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính: buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mũi họng
khô và có mùi hôi, mắt có biểu hiện phù mi, viêm kết mạc nhãn cầu, tiết dịch mủ và
giảm thị lực.
- Sunfua được tạo thành xâm nhập hệ tuần hoàn tác động đến các vùng cảm giác
– mạch, vùng sinh phản xạ của các thần kinh động mạch cảnh.
- Thường xuyên tiếp xúc với H2S ở nồng độ dưới mức gây độc cấp tính có thể
gây nhiễm độc mãn tính. Các triệu chứng có thể là: suy nhược, rối loạn hệ thần
kinh, hệ tiêu hóa, tính khí thất thường, khó tập trung, mất ngủ, viêm phế quản mãn
tính…
 Tác hại của HYDROCACBON:
- Hơi dầu có chứa các chất hydrocacbon nhẹ như metan, propan, butan, sunfua
hydro.
- Giới hạn nhiễm độc của các khí như sau: Metan 60-95 %, Propan 10 %, Butan
30 %, Sulfua hydro 10 ppm.
- Tiêu chuẩn của Bộ Y Tế Việt Nam năm 1977 qui định tại nơi lao động: dầu
xăng nhiên liệu là 100mg/m3, dầu hỏa là 300mg/m3. TCVN 5938-2005 qui định
nồng độ xăng dầu trong không khí xung quanh tối đa trong 1 giờ là 5mg/m3.
- Nồng độ hơi xăng, dầu từ 45% (thể tích) trở lên sẽ gây ngạt thở do thiếu ôxy.
Triệu chứng nhiễm độc như say, co giật, ngạt, viêm phổi, áp xe phổi.
- Dầu xăng ở nồng độ trên 40.000 mg/m3 có thể bị tai biến cấp tính với các triệu
chứng như tức ngực, chóng mặt, rối loạn giác quan, tâm thần, nhức đầu, buồn nôn,
ở nồng độ trên 60.000 mg/m3 sẽ xuất hiện các cơn co giật, rối loạn tim và hô hấp,
thậm chí gây tử vong.
- Người nhạy cảm xăng dầu: tác động trực tiếp lên da (ghẻ, ban đỏ, eczema,
bệnh nốt dầu, ung thư da).
- Các hợp chất hữu cơ bay hơi:Dưới ánh sáng mặt trời, các hợp chất hữu cơ với
NOx tạo thành ozon hoặc những chất oxy hóa mạnh khác. Các chất này có hại tới
sức khỏe (rối loạn hô hấp, đau đầu, nhức mắt), gây hại cho cây cối và vật liệu.
 Tác hại của FORMALDEHYDE:
- Formaldehyde với nồng độ thấp kích thích da, mắt, đường hô hấp, ở liều cao
có tác động toàn thân, gây ngủ.
- Nhiễm theo đường tiêu hoá với liều lượng cao hơn 200mg/ngày sẽ gây nôn,
choáng váng.
- Người bị nhiễm độc mãn tính có tổn thương rất đặc trưng ở móng tay: móng
tay màu nâu, mềm ra, dễ gẫy, viêm nhiễm ở xung quanh móng rồi mưng mủ.
- Nồng độ tối đa cho phép của hơi formaldehyde trong không khí là 0,012mg/m3
(TCVN 5938-1995), trong khí thải là 6 mg/m3.
- Tổ chức Y tế Thế giới: nồng độ giới hạn formandehyde là 100 mg/m3 trong
không khí với thời gian trung bình 30phút.
 Tác hại của ô nhiễm không khí tới động thực vật:
- Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng tai hại cho tất cả sinh vật.
- Thực vật rất nhạy cảm đối với ô nhiễm không khí.
- SO2, NO2, ozon, fluor, chì… gây hại trực tiếp cho thực vật khi đi vào khí
khổng, làm hư hại hệ thống giảm thoát nước và giảm khả năng kháng bệnh.
- Ngăn cản sự quang hợp và tăng trưởng của thực vật; giảm sự hấp thu thức ăn,
làm lá vàng và rụng sớm.
- Đa số cây ăn quả rất nhạy đối với HF. Khi tiếp xúc với nồng độ HF lớn hơn
0,002 mg/m3 thì lá cây bị cháy đốm, rụng lá.
- Mưa acid còn tác động gián tiếp lên thực vật và làm cây thiếu thức ăn như Ca
và giết chết các vi sinh vật đất. Nó làm ion Al được giải phóng vào nước làm hại rễ
cây (lông hút) và làm giảm hấp thu thức ăn và nước.
- Ðối với động vật, nhất là vật nuôi, thì fluor gây nhiều tai họa hơn cả. Chúng bị
nhiễm độc do hít trực tiếp và qua chuỗi thức ăn.
 Tác hại của ô nhiễm môi trường tới tài sản:
- Làm gỉ kim loại.
- Ăn mòn bêtông.
- Mài mòn, phân huỷ chất sõn trên bề mặt sản phẩm.
- Làm mất màu, hư hại tranh.
- Làm giảm độ bền dẻo, mất màu sợi vải.
- Giảm độ bền của giấy, cao su, thuộc da.
3.2.4. Ô nhiễm tiếng ồn:
Những thí dụ minh họa cho các chỉ số dB :
10-20 dB Gió vi vu qua lá cây được xem là trạng thái yên tỉnh
30 dB Thì thầm (trong phòng ngủ)
40 dB Tiếng nói chuyện bình thường
50 dB
Tiếng máy giặt, ồn ở siêu thị, có gây phiền nhưng còn chịu được
55 dB -80
dB
Động cơ xe hơi, xe máy, gây khó chịu, mệt mỏi
80 dB -
85 dB
Máy cắt cỏ, hút bụi, cắt gỗ, làm rất khó chịu
90 dB -
100 dB
phát ra ở Công trường xây dựng, ồn ở mức nguy hiểm
120dB -
140 dB
Máy bay lúc cất cánh, ồn quá lớn gây tổn thương tâm trí
Hậu quả ô nhiễm tiếng ồn: ô nhiểm tiếng ồn có hại về sinh lý, tâm lý và có tầm
ảnh hưởng xã hội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét