Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

TÌM HIỂU PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN Ở SÀI GÒN – GIA ĐỊNH 1965 – 1968

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 5

tiêu và hình thức đấu tranh của học sinh, sinh viên qua các thời kỳ kháng chiến. Bởi,
chính sức mạnh của phong trào học sinh, sinh viên cũng là một biểu hiện của sự phát
triển về chất của cách mạng giải phóng dân tộc ở Miền Nam bấy giờ.
Lý do thực tiễn
Là sinh viên tôi vô cùng khâm phục tinh thần đấu tranh của học sinh, sinh viên ở
Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Mặt khác, với mong
muốn giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn những trang sử hào hùng của dân tộc, nhằm
khơi dậy ngọn lửa nhiệt tình, xung kích của thế hệ trẻ đối với công cuộc xây dựng và
phát triển đất nƣớc hiện nay. Là sinh viên khoa Lịch sử, khi tìm hiểu phong trào đấu
tranh của học sinh, sinh viên ở Sài Gòn - Gia Định 1965 - 1968, tôi hi vọng sẽ có thêm
một số tƣ liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy về cuộc kháng chiến
chống Mỹ trong các đô thị Miền Nam.
Với tất cả những lý do trên tôi chọn đề tài khóa luận của mình: “Tìm hiểu về
phong trào học sinh, sinh viên ở Sài Gòn – Gia Định 1965 -1968”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phong trào hoạt động của học sinh, sinh viên là phong trào đấu tranh công khai,
và hoạt động sôi nổi ngay trong trung tâm của Chính quyền Sài Gòn. Do những đặc
trƣng của phong trào nên sau khi hòa bình lập lại, một số ngƣời từng trực tiếp tham
gia, trƣởng thành hay lãnh đạo trong những thời khắc lịch sử ấy đã tiến hành tổng kết
lại phong trào đấu tranh của “đồng đội” mình.
Công trình đầu tiên nghiên cứu về phong trào học sinh, sinh viên trong cuộc
kháng chiến Mỹ cứu nƣớc là “Phong trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học
sinh, sinh viên Sài Gòn”, (NXB TP Hồ Chí Minh, 1984), do Hồ Hữu Nhựt, Chủ tịch
Tổng hội sinh viên Sài Gòn nhiệm khóa 1966 – 1967 chủ biên.
Bằng nỗ lực nghiên cứu và thực tiễn phong trào mà mình trực tiếp tham gia,
trƣởng thành và lãnh đạo. Tác giả đã tổng hợp và khái quát một số nét độc đáo của quá
trình đấu tranh lâu dài, gian khổ và sôi động của học sinh, sinh viên và giáo chức Sài
Gòn trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nƣớc. Qua đó, tác giả phân tích khá rõ nét về
nguồn gốc của chủ nghĩa thực dân mới mà đế quốc Mỹ là kẻ chủ xƣớng. Đặc biệt ở
miền Nam Việt Nam, ngoài những thủ đoạn về quân sự và kinh tế, Mỹ còn có ý đồ
thay đổi hệ thống giáo dục miền Nam Việt Nam theo kiểu Mỹ. Chúng đầu độc tầng
lớp thanh niên theo “Lối sống Mỹ”. Song Mỹ đã buộc phải thừa nhận thất bại trƣớc
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 6

lòng yêu nƣớc nồng nàn, tinh thần đấu tranh bất khuất của học sinh, sinh viên và giáo
chức cũng nhƣ nhân dân Miền Nam. Bằng nhiều hình thức đấu tranh khéo léo, sinh
động, bằng các tổ chức công khai, nửa công khai và bí mật, đƣợc Đảng Cộng Sản rèn
luyện, đƣợc Thành Ủy Sài Gòn – Gia Định trực tiếp lãnh đạo, phong trào học sinh,
sinh viên đả phát huy đƣợc sức mạnh to lớn trong cuộc đấu tranh với Mỹ và chính
quyền Sài Gòn.
Tuy nhiên, cuốn sách chỉ trình bày một cách khái quát về phong trào đấu tranh
của học sinh, sinh viên và giáo chức theo từng giai đoạn bằng việc liệt kê các phong
trào đấu tranh tiêu biểu. Nội dung chủ yếu của cuốn sách là nêu những ảnh hƣởng của
nền giáo dục Mỹ - Ngụy đối với giáo chức và học sinh, sinh viên ở Sài Gòn - Gia
Định. Trong giai đoạn Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam (1965 – 1968), mặc dù
đánh giá âm mƣu của đế quốc Mỹ nhƣng không so sánh với giai đoạn trƣớc nhất là
hành động leo thang về mặt quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Chƣa thấy đƣợc sự lớn mạnh
và phát triển về chất của phong trào học sinh, sinh viên đặt phong trào trong cuộc đấu
tranh chung của các tầng lớp trí thức Sài Gòn.
Năm 1991, NXB Trẻ xuất bản cuốn sách “Tổ quốc trong lòng học sinh, sinh viên
thành phố”, của nhiều tác giả. Các tác giả tham gia viết cuốn sách này là những ngƣời
tham gia trực tiếp phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên thành phố. Những
ngƣời viết đã lƣợc tả một cách khái quát về phong trào học sinh, sinh viên trong phong
trào đấu tranh chung của quần chúng nhân dân. Nêu rõ đƣợc thái độ kiên quyết của
tầng lớp này đối với kẻ thù của dân tộc là Pháp, Mỹ và chính quyền tay sai bấy giờ.
Cuốn sách đã giúp chúng ta biết đƣợc phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên
trong suốt cả thời kỳ chống Pháp và Chống Mỹ. Tuy vậy, tập thể tác giả chủ yếu trình
bày biên niên sử phong trào học sinh, sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh từ 1945 –
1975. Chính vì thế cuốn sách chủ yếu có giá trị về mặt sử liệu và chƣa làm rõ đƣợc
tính chất và đặc điểm của phong trào.
Tiếp theo là cuốn sách:“Lược sử đoàn và phong trào thanh niên Hồ Chí Minh
trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1954 -1975”, do Phạm Chánh Trực, Nguyên là Bí
thƣ Thành đoàn Thanh niên cộng sản Thành phố Hồ Chí Minh chủ biên (NXB Trẻ,
2001). Cuốn sách nghiên cứu về phong trào thanh niên nói chung trong thời kỳ chống
Mỹ. Song ở đó, ta sẽ thấy vai trò nòng cốt và tiên phong của học sinh, sinh viên trong
công tác vận động quần chúng nhân dân, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân chống Mỹ.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 7

Thông qua cuốn sách, các tác giả cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò của Thành đoàn, tổ
chức có sự chỉ đạo và nâng đỡ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam…
Một cuốn sách khác ít nhiều đề cập đến phong trào học sinh, sinh viên có tựa đề
là “Tuổi trẻ Sài Gòn Mậu Thân 1968” (NXB Trẻ, 2003). Khác với các công trình
trƣớc, cuốn sách này là tập hồi ký của nhiều nhân chứng lịch sử. Họ là những ngƣời
trực tiếp tham gia hoặc có đóng góp trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968. Cuốn sách cho chúng ta thấy đƣợc vai trò quan trọng của các tổ chức Đoàn
trong việc tập hợp đƣợc lực lƣợng đông đảo mọi tầng lớp nhân dân và nhất là sinh
viên, học sinh ở các trƣờng học. Một số học sinh, sinh viên đã phối hợp tích cực với
các lực lƣợng biệt động Sài Gòn và quân giải phóng Miền Nam trong cuộc tổng tiến
công quy mô lớn vào cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Sau Mậu Thân 1968,
Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pari, thừa nhận thất bại trong chiến lƣợc
“chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Sau sự kiện này, phong trào học sinh, sinh viên đã
chuyển sang hƣớng hoạt động mới, phù hợp hơn với yêu cầu mới của cách mạng. Tuy
nhiên, cuốn sách chỉ tập trung vào một khoảnh khắc đỉnh cao của lịch sử là Tết Mậu
Thân 1968, chƣa khái quát đƣợc những phong trào tiêu biểu…
Bên cạnh những cuốn sách phục vụ trực tiếp vào việc nghiên cứu còn có nhiều
cuốn sách sƣu tầm những hoạt động của học sinh, sinh viên trong các lĩnh vực văn hóa
nghệ thuật, nhƣ: “Tiếng hát những người đi tới”, (NXB Trẻ, 1993). Cuốn sách tập hợp
các sáng tác về thơ, văn, nhạc, họa và báo chí của sinh viên, học sinh miền Nam chống
Mỹ 1960 – 1975. Qua đó, họ thể hiện sự tinh tế và khéo léo nhƣng hiệu quả của học
sinh, sinh viên trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và Chính quyền Sài Gòn.
Cuốn sách “Theo nhịp khúc lên đàng” (NXB Trẻ, 2000) là công trình kỷ niệm 50
năm ngày truyền thống của học sinh, sinh viên Việt Nam (1950 – 2000). Thông qua
cuốn sách, các tác giả đã tổng kết và khái quát phong trào đấu tranh của học sinh, sinh
viên Thành phố từ khi ra đời 1950 đến năm 1975 và quá trình tiếp bƣớc không ngừng
từ 1975 đến 2000. Ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử, học sinh, sinh viên đều thể
hiện đƣợc vai trò tiên phong của mình.
Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy một số bài viết và nghiên cứu của những
ngƣời gia phong trào hồi tƣởng lại, thông qua những câu chuyện kể và hồi ký của họ
về một thời đấu tranh hào hùng…nhƣ bài viết “Một số chuyện kể về phong trào đấu
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 8

tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn”
1
của Lê Văn Nuôi (Nguyên Chủ tịch Tổng
đoàn học sinh Sài Gòn), hay bài nghiên cứu về “Phong trào sinh viên, học sinh các đô
thị Miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 -1975)”
2
của TS Lê
Cung (Trƣờng ĐHSP – ĐH Huế).
Đặc điểm các công trình nghiên cứu trên là đều do những ngƣời trong cuộc tự
thuật về quá khứ của thế hệ mình sống và chiến đấu. Tuy nhiên là những ngƣời trong
cuộc, cách nhìn nhận, đánh giá của họ về các phong trào đấu tranh phần nào mang tính
chủ quan và chƣa toàn diện. Cho đến nay, chúng ta còn thiếu công trình nghiên cứu
chuyên sâu về sự phát triển của phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn – Gia Định
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hầu nhƣ các công trình đều viết
dƣới dạng khái quát, sơ lƣợc hoặc tập hợp hồi ức của các chứng nhân lịch sử. Điều này
gây khó khăn cho thế hệ sau khi muốn tìm hiểu về phong trào đấu tranh của cha anh
mình một cách hệ thống và khách quan.
Chính từ những trăn trở đó thôi thúc tôi tìm hiểu sâu hơn vai trò của học sinh,
sinh viên ở Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, nhất là
trong giai đoạn Đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, bằng chiến
lƣợc “Chiến tranh cục bộ” (1965 -1968).
Trong khóa luận của mình, tôi sẽ tìm hiểu về phong trào đấu tranh của học sinh,
sinh viên chống Chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính sách can thiệp vào Việt
Nam của Mỹ. Trong đó, tác giả sẽ làm rõ đƣợc các xu hƣớng, hình thức và mục đích
đấu tranh của phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn - Gia Định. Đặc biệt, tôi nhìn
nhận phong trào thông qua những đánh giá và thái độ của Mỹ cũng nhƣ chính quyền
Việt Nam Cộng hòa đối với các cuộc đấu tranh của tầng lớp này. Mặt khác, giúp
chúng ta thấy đƣợc tầm ảnh hƣởng cũng nhƣ vị trí của phong trào học sinh, sinh viên
đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc giai đoạn 1965 – 1968. Trên cơ sở đó,
ngƣời viết bƣớc đầu rút ra tính chất và đặc điểm của phong trào học sinh, sinh viên Sài
Gòn - Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc.




1. Trích trong “Chung một bóng cờ” (1993), Nhiều tác giả, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Xuất bản trong cuốn sách “Các chuyên đề lịch sử Việt Nam” (2000), Trần Bá Đệ chủ biên, NXB Quốc gia,
Hà Nội.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 9

3. Phương pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu trong khóa luận là phƣơng pháp lịch sử
và phƣơng pháp lô gic. Ngoài ra, trong quá trinh thực hiện đề tài này các phƣơng pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh và liên ngành cũng đƣợc sử dụng.
4. Bố cục đề tài
Khóa luận gồm ba phần:
Mở đầu:
1. Lý do khoa học
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
4. Bố cục đề tài
Nội dung
Chƣơng 1: Vị trí của Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc
1. Sơ nét về lịch sử Sài Gòn – Gia Định
2. Sài Gòn – Gia Định trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của Chính quyền
Việt Nam Cộng hòa
3. Vị trí của Sài Gòn - Gia Định đối với cách mạng miền Nam Việt Nam
Chƣơng 2: Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên ở Sài Gòn – Gia Định
(1965 – 1968)
1. Sơ nét về phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn – Gia Định
trƣớc 1965
1.1 Âm mƣu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với học sinh, sinh viên
Miền Nam
1. 2 Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên ở Sài Gòn - Gia Định
trƣớc 1965
2. Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên ở Sài Gòn – Gia Định
(1965 – 1968)
2.1 Mục đích đấu tranh
2.2 Lực lƣợng lãnh đạo
2.3 Các hình thức đấu tranh
2.4 Các phong trào đấu tranh tiêu biểu

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 10

3. Phản ứng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với phong trào học sinh, sinh
viên
3.1 Nhận định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với phong trào
học sinh, sinh viên.
3.2 Biện pháp đối phó của Mỹ và Chính quyền Sài Gòn
Chƣơng 3: Đóng góp của phong trào học sinh, sinh viên ở Sài Gòn – Gia Định
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
1. Những đóng góp của phong trào
1.1 Đóng góp trên phƣơng diện đấu tranh chính trị
1.2 Đóng góp trên phƣơng diện văn hóa – giáo dục
1.3 Tăng cƣờng sức mạnh cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam
2. Tính chất và đặc điểm của phong trào
Kết luận



















Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 11

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Vị trí của Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước
1. Sơ nét về lịch sử Sài Gòn – Gia Định
Vùng đất Sài Gòn – Gia Định, trung tâm quần cƣ sầm uất là kết quả của lịch sử
mở rộng bờ cõi 300 năm trƣớc của cha ông ta
1
. Vùng đất mới này đã từng mang nhiều
tên gọi khác nhau qua các thời kỳ lịch sử: Bến Nghé, Phiên Trấn Dinh, Tân Bình
huyện, Gia Định thành, Gia Định kinh, Phiên An Thành, Sài Gòn…và ngày nay là
thành phố Hồ Chí Minh.
Trung tâm của Sài Gòn - Gia Định cách thủ đô Hà Nội 1730 km đƣờng bộ, cách
biển Đông 50 km đƣờng chim bay. Bản thân thành phố là một hải cảng lớn có 12 km
bờ biển, đƣợc nối liền với biển Đông bằng sông Sài Gòn, có độ sâu đủ sức tiếp nhận
các tàu biển có trọng tải trên 30000 tấn. Ngoài ra, trên vùng đất này còn có hệ thống
đƣờng sông nối liền biển Đông qua Sài Gòn - Gia Định, thông lên miền Đông, nối liền
lên miền Tây, sang tận Campuchia; là đầu mối của nhiều đƣờng bộ với nhiều xa lộ,
quốc lộ, liên tỉnh lộ; có sân bay Tân Sơn Nhất cách trung tâm thành phố 7 km, thuộc
loại tầm cỡ trên thế giới bấy giờ, nơi quá cảnh của đƣờng bay quốc tế và khu vực Châu
Á – Thái Bình Dƣơng.
Thành phố Sài Gòn - Gia Định có khí hậu nóng, ẩm, chịu ảnh hƣởng của gió
mùa, thuộc vùng khí hậu gần biển, nhiệt độ trung bình là 27,3
0
C, độ ẩm 78,3%, lƣợng
mƣa hàng năm 1879 mm. Thời tiết thuận hòa, ít khi có gió, bão, ngập lụt. Nhờ thiên
nhiên ƣu đãi, vị trí địa lý thuận lợi và chính sách khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định nhanh chóng trở thành trung tâm đô thị công
thƣơng nghiệp, nhất là sau chiến tranh thế giới thứ nhất trở đi. Mức độ đô thị hóa
nhanh chƣa từng có ở bất kỳ một thành phố nào của Việt Nam.
Sự gia tăng dân số của thành phố Sài Gòn đƣợc ghi nhận từ khoảng 248000
ngƣời (1913) đến 540000 ngƣời (1938), vƣợt quá dự đồ phát triển thành phố thành phố
Sài Gòn của Pháp (đồ án COFFYN). Chỉ trong 10 năm, dân số Sài Gòn – Gia Định đã

1. Năm 1698, chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lƣợc, đặt nền móng hành chính xác định xứ Sài
Gòn chính thức thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 12

tăng gấp 3 lần. Năm 1943: 1.498.100 ngƣời chiếm 9% dân số Nam Kỳ. 1953:
1.614.200 ngƣời chiếm 27% dân số Nam Kỳ
1
.
Về thành phần dân cƣ, thời điểm 1953, ngoài ngƣời Việt chiếm 73% dân số, tại
khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định còn có 443114 ngƣời Hoa, chiếm gần 50%
tổng số ngƣời Hoa ở miền Nam, cƣ ngụ chủ yếu tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn;
ngƣời Châu Âu có 18339 ngƣời, phần lớn cƣ ngụ tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và
tỉnh lỵ Gia Định. Ngoài ra còn có khoảng 10.000 ngƣời thuộc các dân tộc Khmer Nam
bộ, Lào, Chăm, Stiêng và một số dân tộc thiểu số khác
2
. Nhìn chung các cộng đồng
dân cƣ này xen ngụ đan xen, sống hòa đồng cởi mở với nhau.
Về tôn giáo, Sài Gòn - Gia Định có đa số dân số theo Phật giáo. Đây là tôn giáo
theo bƣớc chân lƣu dân, sự phát triển của Phật giáo gắn liền với sự chuyển biến của
vùng đất này. Dƣới thời chúa Nguyễn và vƣơng triều Nguyễn, Phật giáo ở Sài Gòn -
Gia Định khá phát triển. Đến thời Pháp, Phật giáo phần nào bị kìm kẹp, kiểm soát gắt
gao, nhiều chùa chiền bị phá hủy, hạn chế tối đa việc nhân dân theo Phật giáo. Tuy
nhiên, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đặc biệt những năm đầu của cuộc
kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1965), Phật giáo có một vai trò quan trọng trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Có thể coi đây là lực lƣợng tiên phong trong thời
điểm lật đổ sự thống trị của “gia đình trị” Ngô Đình Diệm (1963). Bên cạnh Phật giáo,
Thiên chúa giáo cũng là một tôn giáo có mặt khá sớm ở Đàng Trong và vùng Sài Gòn
- Gia Định. Khác với Phật giáo, Thiên chúa giáo đƣợc kẻ thù ƣu tiên đặc biệt, số lƣợng
giáo dân không ngừng đƣợc tăng lên, nhiều nhà thờ Thiên chúa đƣợc xây dựng. Tính
tới thời điểm 1954, ở Sài Gòn - Gia Định có tới 248 nhà thờ, nhà nguyện, 9 trƣờng
học, 8 viện mồ côi, 4 tờ báo, nhiều nhà thờ hiện đại, các cơ sở đào tạo và đoàn thể xã
hội…Ngoài ra, ở Sài Gòn - Gia Định còn có các tổ chức tôn giáo khác nhƣ Tin Lành,
Islam, Cao Đài, Hinđu, Hòa Hảo…Nhìn chung các tôn giáo này ngay từ khi ra đời đã
gắn liền với một bộ phận dân cƣ nhất định, làm chỗ dựa tinh thần cho các cộng đồng,
vì thế có vai trò và vị trí nhất định trong phát triển kinh tế và xã hội của Sài Gòn - Gia
Định và vùng đất đai Nam Bộ nói chung. Đời sống tín ngƣỡng của các cộng đồng tôn
giáo không ảnh hƣởng đến tính cố kết, bền vững, cùng tồn tại và phát triển chƣa bao
giờ xảy ra xung đột sắc tộc hay tôn giáo… Tuy nhiên, trong thời Pháp thuộc, thời

1. Lê Quang Hậu, Phong trào đấu tranh chống Mỹ và Chính quyền Sài Gòn ở Sài Gòn - Gia Định (1954-1963),
Luận án Tiến sĩ năm 2003, Trƣờng KHXH và NV TP Hồ Chí Minh, Tr 20
2. Lê Quang Hậu, Phong trào đấu tranh chống Mỹ và Chính quyền Sài Gòn ở Sài Gòn - Gia Định (1954-1963),
Luận án Tiến sĩ năm 2003, Trƣờng KHXH và NV TP Hồ Chí Minh, Tr 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 13

kháng chiến chống Pháp cũng nhƣ giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ
chính quyền thực dân, đế quốc thƣờng sử dụng chính sách chia rẽ, phân biệt và lợi
dụng tôn giáo cho các mục tiêu chính trị. Mặc dù vậy, đa số các tín đồ tôn giáo, phần
lớn là nhân dân lao động đã có những đóng góp tích cực trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Là một thành phố trẻ, Sài Gòn - Gia Định trở thành nơi hội tụ của cƣ dân tứ xứ.
Họ rời lũy tre làng đến với vùng đất mới đầy thách thức nhƣng có điều kiện sản xuất
thuận lợi để tìm đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn. Trải qua 300 năm lịch sử, nhân
dân Sài Gòn - Gia Định đã để lại cho lịch sử nƣớc nhà những trang sử hào hùng chói
lọi trong quá trình kiến tạo, gìn giữ và phát triển mảnh đất phía Nam của tổ quốc này.
Từ những năm đầu thế kỷ XVII, từ miền đất hoang vu, Sài Gòn - Gia Định dần
trở thành bến sông, phố chợ, một sở thu thuế, một ngã tƣ giao dịch quốc tế, một đồn
lũy chiến lƣợc rồi một trung tâm hành chính cho cả vùng đất mới. Từ khi lập đồn thu
thuế 1623 cho đến khi đặt phủ sở Gia Định 1698, chúa Nguyễn đã chọn Sài Gòn làm
tiền đồn, một trạm quá cảnh trong buôn bán với Cao Miên, một hậu cứ vững chắc cho
công cuộc mở đất và giữ đất.
Dƣới thời chúa Nguyễn, với chính sách thông thoáng, khuyến khích tƣ hữu về
ruộng đất của chính quyền, đất đai ngày càng đƣợc mở rộng, nền hành chính đƣợc xác
lập. Chính những điều này phần nào thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Lúa gạo sớm trở
thành hàng hóa, phố chợ - thành thị cũng nhanh chóng đƣợc hình thành. Sài Gòn trở
thành một thành phố phồn thịnh kể từ khi xây Lũy Bán Bích và đào kênh Ruột Ngựa
năm 1772. Tuy nhiên, những năm cuối thế kỷ XVIII, chiến tranh Nguyễn – Tây Sơn
bùng nổ, Nguyễn Ánh và Tây Sơn thay nhau làm chủ Gia Định, cuộc sống của nhân
dân Sài Gòn - Gia Định có sự xáo trộn lớn. Vào những năm từ 1788 – 1801, Tây Sơn
suy yếu Nguyễn Ánh đã chiếm hoàn toàn Gia Định. Sau khi chiếm đƣợc thành Gia
Định, Nguyễn Ánh lập Gia Định kinh, xây thành Bát Quái làm bàn đạp tấn công và
tiêu diệt Tây Sơn. Nguyễn Ánh lần lƣợt chiếm Phú Xuân, Thăng Long và lên ngôi lấy
hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn 1802. Sau đó, Gia Định kinh đƣợc đổi thành Gia
Định thành. Dƣới triều Nguyễn, Sài Gòn vẫn tiếp tục phát triển, diện tích sản xuất và
sản lƣợng lúa gạo không ngừng tăng lên đồng thời với nó thƣơng mại và giao thông
tiếp tục đƣợc mở rộng, dân cƣ ngày một đông đúc.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Tiến
SVTH: Lê Thị Tuyết Trang 14

Tháng 2 – 1859, sau khi thất bại ở Đà Nẵng, Pháp quyết định tấn công đánh
chiếm Gia Định để mở rộng chiến tranh. Sau thất thủ ở đại đồn Chí Hòa 2 – 1861 và
việc triều Nguyễn kí hiệp ƣớc Nhâm Tuất 1862, cuộc kháng chiến của nhân dân càng
khó khăn hơn. Tuy vậy, cuộc kháng chiến của nhân Sài Gòn chống chính sách bình
định của Pháp diễn ra sôi nổi. Đến đầu thế kỷ XX, các cuộc khởi nghĩa vẫn đƣợc tiếp
tục, xuất hiện các tổ chức yêu nƣớc “Hội kín Nam Kỳ”…Lịch sử kháng chiến còn mãi
mãi ghi tên những sĩ phu yêu nƣớc Gia Định nhƣ Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị,
Huỳnh Mẫn Đạt,….
Nối tiếp phong trào yêu nƣớc của các sĩ phu, đầu thế kỉ XX, trào lƣu dân chủ tƣ
sản phƣơng Tây đã đƣợc truyền bá vào Nam Kỳ thuộc địa nhƣ một luồng gió chính trị
mới. Suốt những năm hai mƣơi của thế kỷ XX, Sài Gòn - Gia Định là một trong những
trung tâm sôi động nhất, tiên phong nhất trong phong trào đấu tranh đòi dân chủ, dân
sinh của cả nƣớc.
Trong bối cảnh lịch sử đó, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời cảng Sài Gòn
ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc. Năm 1920, nhà cách mạng Tôn Đức Thắng lập “Công hội
đỏ”, phát động phong trào công nhân Ba Son. Từ những năm 20 của thế kỉ XX, khi
Chủ nghĩa Mác – Lênin đƣợc truyền bá vào Việt Nam, Sài Gòn – Gia Định là một
trong những nơi sớm tiếp nhận tƣ tƣởng cách mạng vô sản này. Cùng với sự hình
thành các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản năm 1929, trong đó có An Nam Cộng
sản Đảng, bộ phận Nam Kỳ của Đông Dƣơng Cộng sản Đảng, phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thành phố từng bƣớc đi vào chiều sâu.
Năm1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Sài Gòn là một trong những nơi
Trung ƣơng Đảng đặt trụ sở đầu tiên. Xứ ủy Nam Kỳ, Thành ủy Sài Gòn, Tỉnh ủy Gia
Định, Tỉnh ủy Chợ Lớn đƣợc thành lập ngay trong những tháng đầu của năm 1930. Kế
thừa và phát huy những giá trị truyền thống đó, những ngƣời cộng sản Việt Nam tại
Sài Gòn đã lợi dụng triệt để thế công khai, hợp pháp để phát động phong trào đấu
tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh. Phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Gia
Định đã góp phần không nhỏ vào các cao trào cách mạng thời kỳ từ năm 1930 – 1945.
Lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng đã thành lập Mặt trận công khai, hợp pháp mở cuộc
vận động bầu cử đƣa đại biểu của mình vào hội đồng thành phố Sài Gòn, Hội đồng
Quản hạt Nam Kỳ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét