Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Giai cấp công nhân phong trào công nhân quốc tế từ ra đời đến 1848

của”, “giai cấp công nhân làm thuê thế kỷ XIX” Cần khẳng định rằng, tất cả
những thuật ngữ đồng nghĩa này chỉ là sự khác nhau về hình thức biểu đạt
trong những văn cảnh cụ thể của một khái niệm: giai cấp công nhân. Sự khác
nhau căn bản, theo các ông, chỉ là sự khác nhau giữa những công nhân đứng
máy (thuộc về những người này có một số công nhân trông coi máy phát
động, nghĩa là cho nó ăn than, dầu) và những người giúp việc (hầu hết là trẻ
em) cho những công nhân cơ khí đó. Trên một mức độ nhiều hay ít, tất cả
những feeders (những người chỉ nạp nguyên liệu cho máy móc) đều là những
người giúp việc. Bên cạnh những loại thợ chính đó còn có những người, với
một số lượng không đáng kể, làm công việc kiểm tra toàn bộ máy móc và
thường xuyên sửa chữa máy móc như kỹ sư, thợ máy, thợ mộc v.v Đó là lớp
công nhân cao cấp, một phần có tri thức khoa học, một phần có tính thủ công,
đứng ngoài giới công nhân công xưởng và chỉ được kết hợp với những công
nhân này thôi. Sự phân công lao động đó có tính chất thuần tuý công nghệ”.
Ngoài ra, khi phân biệt bản chất cách mạng của giai cấp công nhân gắn
với vai trò, sứ mệnh mệnh sử thế giới của nó với sự biến dạng bản chất ấy, sự
tha hoá, đánh mất mình của giai cấp vô sản trong tình trạng bị nô dịch bởi chủ
nghĩa tư bản, các nhà kinh điển đã sử dụng những thuật ngữ đối ngược nhau:
“giai cấp vô sản cách mạng” và tầng lớp “vô sản luư manh” mất gốc, những
phần tử cặn bã của xã hội tư sản. Đồng thời, cũng để phân biệt giai cấp công
nhân cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục và trở thành công cụ
của giai cấp tư sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong, muư toan
kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật tự của
“chủ nghĩa công liên” vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư tởng
tư sản và tiểu tư sản thao túng, các ông cần sử dụng thuật ngữ “công nhân quý
tộc”. Vậy là, theo các ông “công nhân quí tộc” và tầng lớp vô sản luư manh
không còn là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà hoặc đã trở thành bộ
phận của giai cấp tư sản hoặc là tầng lớp cặn bã của xã hội.
5
Tất cả những diễn đạt nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân của các
nhà kinh điển được đặt trong hoàn cảnh lịch sử từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX, trên cơ sở các ông đã đưa vào hai tiêu chí để phân định giai cấp
công nhân với các giai tầng xã hội khác:
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Giai cấp
công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp
vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và
xã hội hoá, quốc tế hoá cao. Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công
nghiệp hiện đại ” Là sản phẩm của đại công nghiệp, nên giai cấp công nhân
là hiện thân của lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại, đại biểu cho phơng thức
sản xuất tiên tiến, và, do đó nó có những phẩm chất riêng mà không có giai
tầng nào có được. Đó là: tính tiên tiến, hiện đại; ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác
phong công nghiệp, tinh thần khoa học và thái độ cách mạng triệt để; tinh thần
quốc tế cao cả và trong sáng
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Giai cấp công
nhân – giai cấp những người làm thuê thế kỷ XIX, Những công nhân ấy buộc
phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món
hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi
may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường ”
Căn cứ vào hai tiêu chí trên, trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ
nghĩa cộng sản”, Ph. Anghen đã đưa ra định nghĩa về cấp giai vô sản: “giai
cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động
của mình, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn,
vào sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai
cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế
kỷ XIX giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”.
Phát triển học thuyết của Mác và Ph. Ănghen trong thời đại Đế quốc
chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
6
xã hội hiện thực, trên cơ sở quan niệm đúng và mới về giai cấp, Lênin đã bổ
sung thêm những thuộc tính mới của giai cấp công nhân. V.I. Lênin đã đưa ra
một định nghĩa mẫu mực về giai cấp công nhân: “là giai cấp thống trị về
chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản,
trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ
tiêu hoàn toàn các giai cấp. Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới
chỗ tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp vô sản” .
1.2. Hoàn cảnh ra đời giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân ra đời từ những tiền đề về kinh tế,chính trị, xã hội,
văn hoá. Sự ra đời của chủ nghĩa thực dân dẫn đến những đi xâm chiếm thuộc
địa, chiếm những vùng đất mới, nhằm tạo ra thị trường để tiêu thụ hàng hoá,
chính từ đó dẫn đến tích luỹ tư bản về người, vốn, sức lao động…tư bản ra
đời. Bản chất của tư bản là bóc lột, mỗi lần đi xâm chiếm thuộc địa thì cần
nhiều hàng hoá và sức người, dẫn đến những người nông dân bị phá sản phải
làm thuê bán sức lao động của mình cho bọn tư bản, xuất hiện những tiền đề
về mặt kinh tế, chính trị dẫn đến sự ra đời nền đại công nghiệp.
Thế kỷ XV- XVI châu Âu có nền văn hoá phát triển bền vững, văn hoá
phục hưng và các phong trào cải cách diễn ra mở đường cho sự phát triển của
cách mạng tư sản và cách mạng chủ nghĩa. Bên cạnh đó nhiều học thuyết về
kinh tế tư sản ra đời: Ađam Xmít đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thành học thuyết chính trị kinh tế cổ điển của chủ nghĩa tư bản; Đavit Ricacđô
đã phát triển quan điểm của Ađam Xmít về học thuyết trên và trình bày một
cách đúng đắn là tiền lương của công nhân càng cao thì lợi nhuận của nhà tư
bản càng cao; các trào lưu về mặt triết học (Triết học cổ điển Đức, CNDV
Phơbách)…Như vậy sự ra đời của học thuyết chính trị kinh tế và triết học gắn
liền với sự phát triển của kinh tế tư bản và thúc đẩy nhanh sự phát triển nền
đại công nghiệp.
7
Cuộc cách mạng công nghiệp Anh bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVIII đã
gây nên những chuyển biến căn bản trong sự phát triển của sức sản xuất và
quan hệ sản xuất. Những phát minh kỹ thuật đã đem lại hậu quả kinh tế
chuyển từ lao động bằng tay sang lao động máy móc, thay thế các công trường
thủ công bằng máy móc hiện đại, Nhờ đó nước Anh sau một thời gian ngắn đã
đạt được những thành tựu về kinh tế rất to lớn. Đến những năm 30- 40 của thế
kỷ XIX, nước Anh trở thành một trung tâm công nghiệp của thế giới và đang
bước vào giai đoạn công nghiệp hoá cao. Nước Pháp, cuộc cách mạng công
nghiệp đang trên đà phát triển, tuy nhiên tốc độ chuyển biến chậm hơn nước
Anh. Nền công nghiệp ở Đức cũng phát triển đáng kể đặc biệt là công nghiệp
than và luyện kim. Nước Mỹ cũng bắt tay vào phát triển công nghiệp từ những
năm 1837 -1842….cùng với sự phát triển đó, nền đại công nghiệp lan dần ra
tất cả các nước châu Âu.
Sự phát triển đó đem lại kết quả tất nhiên là xác lập sự thống trị của chủ
nghĩa tư bản trong các nước đã trải qua cuộc cách mạng xã hội, hoặc ít ra cũng
tạo nên những tiền đề cần thiết cho sự thắng lợi của giai cấp tư sản đối với chế
độ phong kiến trong khoảng thời gian không xa nữa.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự phát triển nền công
nghiệp giai cấp công nhân đã từng bước hình thành, do yêu cầu về sản xuất
hàng hoá đòi hỏi nhiều lao động cho nên các công xưởng thủ công được cơ
giới hoá và hình thành các lao động làm thuê. C.Mác đã chỉ ra “giai cấp công
nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp, nó ra đời và cùng lớn lên với nền đại
công nghiệp”.
Đến những năm 50- 60 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp
căn bản đã hoàn thành trên hầu hết các quốc gia phát triển ở châu Âu và Bắc
Mĩ, những xí nghiệp hiện đại trang bị bằng máy móc và tập trung hàng ngàn
vạn công nhân. Những đường giao thông chằng chịt nối liền các trung tâm với
nhau, xoá bỏ sự ngăn cách lâu đời giữa các vùng. Cuộc cách mạng công
8
nghiệp làm cho số công nhân ngày một đông đảo và tập trung hình thành đội
ngũ giai cấp công nhân hiện đại mà trong nhiều tài liệu gọi là giai cấp vô sản
hiện đại.
9
PHẦN 2: PHONG TRÀO CÔNG NHÂN QUỐC TẾ TỪ KHI RA ĐỜI
ĐẾN NĂM 1848
2.1. Những cuộc đấu tranh ban đầu của giai cấp công nhân
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã nâng cao rõ rệt mức sản xuất trên
thế giới, các trung tâm công thương nghiệp mọc lên với những bến cảng tấp
nập, các đường giao thong thuỷ lộ chằng chịt, các thành phố đồ sộ… Nhưng
cùng với sự phát triển đó, cảnh tương phản giữa tư sản và công nhân ngày
càng bộc lộ rõ rệt. Ở hầu hết các nước công nhân lâm vào tình trạng vô cùng
cực khổ (Nước Anh là nơi có nền công nghiệp phát triển nhất, ngày lao động
kéo dài 16- 18 giờ, số công nhân lớn tuổi chỉ chiếm 30%, còn lại là công nhân
chưa đến tuổi trưởng thành. Tiền lương của công nhân nữ, trẻ em thì rẻ mạt
hơn đàn ông, điều kiện vệ sinh ăn ở thấp kém.)
Sự bóc lột tàn khốc của chủ nghĩa tư bản làm cho hố ngăn cách giữa
giai cấp tư sản và giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc và mâu thuẫn xã hội
trở nên gây gắt. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản là không thể
tránh khỏi.
Mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản ngày càng gay gắt thì công nhân càng
đứng dậy đấu tranh giành quyền lợi cho mình. Ngay từ những ngày đầu tiên
của công trường thủ công nhân đã chống lại bọn chủ một cách lẻ tẻ và tự phát.
Nhưng khi đó mâu thuẫn chủ yếu bao trùm xã hội là mâu thuẫn giữa sức sản
xuất tư bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất phong kiến, công nhân chưa tấn
công quyết liệt vào giai cấp tư sản mà còn đi theo giai cấp tư sản “chống lại kẻ
thù của kẻ thù mình”. Sự tham gia của công nhân vào các cuộc cách mạng tư
sản ở Châu Âu và Bắc Mĩ đã góp phần tích cực vào thắng lợi của cuộc đấu
tranh chống phong kiến xong những thành quả thu lượm được rơi vào tay giai
cấp tư sản.
Hình thức phản ánh sơ khai của người công nhân là những cuộc bạo
động tự phát chống lại việc áp dụng máy móc. Trong buổi đầu của cuộc cách
10
mạng công nghiệp họ tưởng rằng nguồn gốc của sự khổ đau chính là máy
móc. Vì vậy phong trào phá máy, đập phá công xưởng lan tràn rất nhanh trong
các trung tâm công nghiệp. Nhưng dần dần, họ thấy rằng máy móc không phải
là kẻ thù thực sự và hậu quả của sự phá máy thường là sự trấn áp của chính
quyền. Họ tiến lên một bước cao hơn là đấu tranh bãi công và xây dựng công
đoàn. Đây là một bước tiến, mục đích của những công đoàn ấy là đòi quy định
tiền lương, tập hợp thành một lực lượng để điều đình tập thể với chủ, điều
chỉnh lương theo lợi nhuận của chủ, tăng lương hoặc giữ vững mức lương khi
cần thiết. Nhưng hầu hết các cuộc bãi công đều thất bại do hạn chế tập trung
đấu tranh về kinh tế và chưa có lí luận dẫn đường.
Qúa trình đấu tranh của giai cấp công nhân dần có ý thức và tổ chức
hơn, họ tiến hành những cuộc đấu tranh với quy mô lớn hơn không chỉ chống
lại riêng chủ xưởng mà với cả giai cấp tư sản, không chỉ đòi lợi ích kinh tế mà
còn đòi yêu cầu chính trị rõ rệt.
Ở Pháp, cuộc đấu tranh của công nhân dệt thành phố Lyông (1831-
1834), đứng dậy khởi nghĩa nhân việc bọn chủ khước từ yêu sách tăng lương.
Họ đưa ra khẩu hiệu “sống có việc làm hay chết trong chiến đấu”. Sau những
trận kịch chiến trên đường phố, họ làm chủ thành phố trong 3 ngày liền.
Nhưng do trình độ còn non kém, họ không biết phải tiếp tục làm gì nên bị
quân đội trở lại đàn áp nhanh chóng. Cuộc khởi nghĩa lần thứ 2 nổ ra vào 1834
còn nêu lên khẩu hiệu chính trị trên lá cờ đỏ “cộng hoà hay là chết” chứng tỏ
bước trưởng thành của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa bị dập
tắt đẫm máu nhưng nó đánh dấu sự lớn mạnh của công nhân Pháp, lần đầu
tiên bước lên vũ đài chính trị vơi tư thế một giai cấp độc lập, chống trực tiếp
kẻ thù là giai cấp tư sản bằng biện pháp bạo lực. Nhưng nó cũng để lộ ra nhiều
nhược điểm về trình độ giác ngộ và tổ chức, thiếu vai trò của lí luận tiên
phong và đảng tiên phong của giai cấp. Cuộc khởi nghĩa Lyông được công
nhân của các trung tâm công nghiệp hưởng ứng.
11
Ở Anh, phong trào Hiến chương từ 1836 đến 1848. Tổ chức lãnh đạo
phong trào Hiến chương là Hội công nhân Luôn Đôn thành lập năm 1936 do
một người thợ thủ công là Lôvét đứng đầu. Hội công bố bản Hiến chương
gồm 6 điểm với nội dung cải cách dân chủ, cải thiện kinh tế…nó được đông
đảo quần chúng công nhân ủng hộ.
Cao trào Hiến chương lần thứ nhất diễn ra vào tháng 5 -1939. Bản kiến
nghị mang 1.125.000 chữ kí được đệ lên nghị viện. Công nhân chủ trương đấu
tranh hoà bình nếu có thể được,bằng vũ lực nếu không có cách nào khác. Nghị
viện đã bác bỏ ý kiến, công nhân chuyển sang đấu tranh bạo lực nhưng bị đàn
áp, trước tình hình đó Hiệp hội kêu gọi tổng bãi công khổng lồ trong toàn
quốc vào ngày 12-8 được gọi là “Tháng thiêng liêng”, tuy nhiên được một thời
gian thì Hiệp hội tuyên bố tự giải tán do sự phân hoá tư tưởng trong giới lãnh
đạo.
Cao trào Hiến chương lần 2 diễn ra năm 1842, là năm nền kinh tế nước
Anh bị sa sút, đời sống nhân dân đói khổ. Ngày 2.5, một bản kiến nghị mới đệ
trình lên nghị viện với 3.315.752 chữ ký. Yêu cầu của bản kiến nghị đòi thủ
tiêu ách áp bức của Anh đối với Ailen và công nhân, nhưng không được chấp
nhận. Phong trào bãi công nổ ra đòi thực hiện Hiến chương, cuộc bãi công thể
hiện tính chất chính trị và nâng phong trào bãi công lên mức khởi nghĩa vũ
trang. Chính phủ tiến hành đàn áp, bắt bớ để dập tắt phong trào, nhưng nghị
viện đã phải thong qua đạo luật rút thời gian làm việc của công nhân xuống
còn 10 giờ.
Năm 1848, những người thuộc phái Hiến Chương lại tiến hành cuộc đấu
tranh lần ba, công nhân biểu tình ngày 10-4 để đưa bản kiến nghị lên Quốc hội
gồm 5 triệu chữ ký. Nhưng công nhân bị àn áp.
Ở Đức, cùng với sự phát triển của công nghiệp, giai cấp công nhân Đức
ngày càng lớn mạnh về số lượng và ý thức giác ngộ. Cuộc đấu tranh ở Sơlêdiên
năm 1844 đánh dấu thời kỳ đấu tranh có tính chất độc lập của giai cấp công nhân.
12
Tuy bị thất bại nhưng nó có tác dụng góp phần làm thức tỉnh và đoàn kết giai cấp
công nhân Đức.
Tuy tất cả các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở giai đoạn này đều
thất bại và bị dìm trong bể máu, nhưng nó đã thu hút đông đảo quần chúng tham
gia, các cuộc đấu tranh đã vừa máng tính chất kinh tế vừa mang tính chất chính trị
và nó khẳng định những mâu thuẫn cố hữu trong lòng Chủ nghĩa tư bản là không
thể điều hoà được. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ một số nhược điểm đó là: chưa có
đường lối đấu tranh khoa học và chính xác; chưa có một tổ chức lãnh đạo sang
suốt của giai cấp công nhân; thiếu một lí luận soi đường dẫn các cuộc đấu tranh đó
đi đến thắng lợi (Sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản khoa học mà người sáng lập ra
nó là C.Mác và Ăngghen đã đáp ứng được những nhu cầu của giai cấp công nhân.
(ở giai đoạn sau nay)).
2.2. Phong trào công nhân quốc tế từ khi ra đời đến năm 1848
Đằng sau bộ mặt lộng lẫy của chủ nghĩa tư bản, toàn bộ sư thực về đời sống
công nhân đã được Ăngghên vạch ra trong tác phẩm nổi tiếng “Tình cảnh của giai
cấp lao động ở Anh”.
Tình trạng khổ cực của quần chúng được phản ánh phần nào vào ý thức của
một số nhân vật tiến bộ trong giai cấp có của. Họ nhận thức được mặt trái của xã
hội tư bản chủ nghĩa, tìm cách xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp không có bóc
lột. Họ nêu lên những luận điểm xã hội chủ nghĩa và kế hoạch xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Song đó mới là xã hội chủ nghĩa không tưởng mà những người đại diện
xuất sắc trong giai đoạn này là Xanh Ximông và Saclơ Phuariê ở Pháp và Ôoen ở
Anh.
H.C. Xanh Ximông (1760-1825), chỉ ra nguyên nhân của mọi sự khổ đau là
do bóc lột chủ nghĩa tư bản, cần phải xoá bỏ sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và
Ông chủ trương xây dựng một xã hội mới dưới quyền thống trị của các “nhà công
nghiệp”, trong đó mọi người đều phải lao động trên cơ sở của nền đại sản xuất.
13
S. Phuariê (1772-1837), Ông vạch trần những gian xảo trục lợi của bọn tư
nhân và những mánh khoé xảo quyệt của giai cấp tư sản. Ông chủ trương xây
dựng một xã hội tương lai mà không còn chế độ người bóc lột người.
Rôbơ Ôoen (1771-1858), Ông cho rằng nguồn gốc của sự nghèo khổ là do chế độ
tư hữu và lao động làm thuê gây ra. Ông chủ trương xây dựng công xã, trong đó
tài sản là của chung, xoá bỏ nghèo khổ, lao động trở thành nghĩa vụ và hạnh phúc
của mọi người.
Các Ông đã chỉ trích và kết tội xã hội tư bản chủ nghĩa, mơ ước xoá bỏ nó
và tưởng tượng ra một xã hội tốt đẹp hơn, tìm cách thuyết phục những người giàu
để hộ thấy rằng sự bóc lột là vô nhân đạo. Nhưng chủ nghĩa xã hội không tưởng
không thể vạch ra một lối thoát thực sự. Tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử lúc đó,
chủ nghĩa xã hội không tưởng là một trào lưu tư tưởng tiến bộ và trở thành một
trong những nguồn gốc của học thuyết Mác.
Cùng với trào lưu về chủ nghĩa xã hội của các nhà không tưởng, trào lưu
triết học xuất hiện.
Nước Anh là nơi khai sinh của cuộc cách mạng công nghiệp và có nền kinh
tế tư bản phát triển, đó cũng là nơi ra đời nhiều học thuyết tư sản. Trong thế kỷ
XVIII, Ađam Xmit cho ra đời học thuyết kinh tế chính trị cổ điển của chủ nghĩa tư
bản. Ông là người đầu tiên tuyên bố rằng lao động là nguồn gốc của giá trị. Ông là
người đầu tiên nêu lên kết cấu xã hội gồm ba giai cấp: công nhân, tư bản và chủ
đất mà chưa thấy được quá trình đấu tranh giai cấp trong xã hội đó. Đavit Ricacđô
là người tiếp tục phát triển học thuyết kinh tế của Ađam Xmit. Tuy quan điểm của
hai ông còn hạn chế bởi tính chất tư sản nhưng nó đã đóng góp một phần quan
trọng vào sự phát triển học thuyết chính trị kinh tế
Ở Đức nửa đầu thế kỷ XIX, là nơi sản sinh ra các học thuyết cổ điển,
Vinhem Phriđrich Hêghen (1770-1831), Ông đứng trên lập trường duy tâm chủ
nghĩa, giải thích tồn tại bằng “ý niệm tuyệt đối”. Phần lớn giá trị trong triết học
Hêghen là phép biện chứng, nhận định sự phát triển của xã hội bắt đầu từ cuộc
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét