Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Gìn giữ nét đẹp lễ hội truyền thống thả diều làng Bá Giang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm văn hóa và quản lý văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng
có mặt và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người
vì thế có rất nhiều định nghĩa, cach hiểu khác nhau về văn hóa.
Theo Khổng Tử: Văn là những gì tốt đẹp của con người và cộng
đồng. Hóa là biến những gì bình thường của con người và cộng đồng trở
nên tốt đẹp. Heriot nói: “Văn hóa là cái còn lại, khi người ta đã quyên đi
tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tốt cả”.
Pufendorf - Nhà dân tộc học Đức, là người đầu tiên sử dụng từ văn
hóa đã cho rằng “Văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động
xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên”.
Năm 1871, E.B. Tylor - Người góp phần khẳng định ngành văn hóa
học như một khoa học, đã đưa ra định nghĩa,“Văn hóa là phức thể bao
gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, và
mọi khả năng, thói quen mà con người với tư cách là thành viên xã hội đạt
được”.
Sau nhiều năm tìm tòi theo các hướng, cách tiếp cận khác nhau, đến
những năm 70 của thế kỷ XX, cách hiểu phổ biến và gặp nhau nhiều nhất
là ở quan niệm coi văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này
hay dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất đến tín
ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Năm 1982, tại Mêhicô,
Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự phát triển đã thông qua
tuyên bố Mihicô ngày 6-8 cho rằng. “Theo nghĩa rộng ngày nay văn hóa
có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí
tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không
chỉ bao gồm nghệ thuật văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống tín ngưỡng” (xem “Xây dựng
và phát triển nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”).
(NXB Chính trị Quốc gia, từ trang 14-16).
Như vậy theo nghĩa rộng lớn, vừa bản chất của no, văn hóa là toàn
bộ hoạt động tinh thần - sáng tạo và các giá trị vật chất và tinh thần ngày
càng cao hơn để vươn tới tự hoàn thiện theo khát vọng chân, thiện, mỹ và
góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ
cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. (Hồ Chí Minh toàn tập,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, trang 431).
Theo Viện sĩ Trần Ngọc Thêm thì “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội”.
Tuy nhiên có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, nhưng nhìn
chung các định nghĩa đều đề cập đến những đặc trưng.
Văn hóa là hoạt động của con người, văn hóa là biểu hiện trình độ
nhận thức của con người (đây là yếu tố phân biệt giữa người và động vật).
Văn hóa là thể hiện khát vọng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ,
đó là sự vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện. (Đây là cơ sở để phân biệt văn
hóa và phản văn hóa).
Văn hóa là tổng hợp các giá trị được cộng đồng thừa nhận, tuân thủ
trong một môi trường, một không gian cụ thể (đây là tiêu chí để xây dựng
những giá trị văn hóa mới, không thể áp đặt tùy tiện).
1.1.2. Khái niệm quản lý văn hóa
Sự cộng sinh có tính liên ngành của khoa học quản lý và khoa học
văn hóa, được thể hiện trong khái niệm quản lý văn hóa. Quản lý văn hóa
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vừa biểu thị sự lãnh đạo và điều hành những cơ sở đã được xã hội phân
công trong hệ thống nhà nước hoặc trong doanh nghiệp hoạt động văn
hóa, vừa biểu đạt một ngành đại học đã được khẳng định về lý luận và
nghiên cứu được định hướng về mặt thực tiễn.
Theo PGS Nguyễn Tri Nguyên - Ông cho rằng: “Quản lý văn hóa là
lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo hoặc kiểm tra các thiết chế văn hóa của
các phạm vi lợi nhuận cũng như phạm vi không lợi nhuận và cùng với
điều đó liên kết các nhiệm vụ chiến lược và chiến dịch như marketing,
giao thông liên lạc”.
Trong thời đại ngày nay, với sự hiện diện của cơ chế thị trườngthì
công tác quản lý văn hóa là những vấn đề mới mẻ cần được nghiên cứu
chu đáo và dưa ra một số phương thức như:
- Quản lý văn hóa bằng pháp luật.
- Xây dựng các chương trình, kế hoạch quốc gia về phát triển văn
hóa.
- Đầu tư tài chính cho văn hóa.
- Củng cố tổ chức, tăng cường đào tạo cán bộ, đổi mới hoạt động
của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát của nhà nước trong lĩnh vực văn
hóa.
Như vậy, cũng theo PGS Nguyễn Tri Nguyên thì: “Quản lý văn hóa
với tư cách là quản lý về nghệ thuật và văn hóa xác định tính cách được
định hướng về tính kinh tế, về tính kế hoạch, về tính công khai mà hoạt
động này liên quan tới nội dung nghệ thuật và mục tiêu văn hóa được tập
trung lại nhằm kiến tạo hiện tại và tương lai”.
1.1.3. Khái niệm về lễ hội
Lễ hội là thuật ngữ dân gian được dùng rộng rãi trong xã hội. Khi
giải thích thuật ngữ di sản văn hóa phi vật thể, Luật di sản văn hóa đã xác
định lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lễ hội “ là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của
người dân Việt”, đồng thời “ hội và lễ hội là một sinh hoạt văn hóa lâu
đời của dân tộc Việt Nam chúng ta. Hội và lễ hội có sức hấp dẫn, lôi cuốn
các tầng lớp trong xã hội để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của
nhân dân trong nhiều thập kỷ”.
Lễ hội thường được tổ chức gắn với tục lệ thờ cúng thần, thánh ở
miếu, ở đình, ở chùa hoặc các nơi công cộng khác; công việc tổ chức cũng
như nội dung cầu khấn của lễ hội cộng đồng lúc nào cũng vì sự ổn định
làm ăn và làm ăn phát đạt của cả cộng đồng.
Lễ hội gồm hai phần: Phần lễ và phần hội. Phần lễ là những nghi
thức, thủ tục mang tính chất trang nghiêm, trang trọng. Phần hội trong lễ
hội lúc nào cũng tưng bừng, không khí hội lộ rõ, tâm trạng của người dự
thoải mái, thăng hoa.
1.1.4. Khái niệm quản lý lễ hội
Cây có cội, sông có nguồn, lễ hội dân gian có cội nguồn từ văn hóa
cộng đồng. Lễ hội dân gian phản ánh nhiều giá trị văn hóa cần được quản
lý nhằm bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hiện tại. Song nội dung, khái
niệm quản lý lễ hội đang còn nhiều cách hiểu khác nhau. Xuất phát từ
quan điểm của Đảng và Nhà nước có thể hiểu quản lý lễ hội là tạo điều
kiện cho lễ hội phát triển theo định hướng phát triển của đất nước và phù
hợp với quy luật của thời đại, đồng thời ngăn cản những hành vi lợi dụng
lễ hội để hoạt động tệ nạn xã hội.
“Quản lý lễ hội là nhu cầu khách quan để lễ hội phát triển nhưng
quản lý đòi hỏi cái nhìn tổng thể để đưa các phương thức và cơ chế quản
lý thích hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc vừa phù hợp với định
hướng phát triển của địa phương nói riêng và yêu cầu phát triển của cả
nước nói chung”.
1.2. Các văn bản pháp quy về lễ hội và quản lý lễ hội
Nói đến quản lý, chúng ta phải căn cứ vào hiến pháp, pháp luật, các
văn bản dưới luật để thực hiện quyền quản lý ở cơ sở.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Liên quan đến lễ hội truyền thống cần khẳng định chủ trương của
Đảng và Nhà nước ta là “Tự do tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan”. Vì
vậy, để quản lý tốt lễ hội, trước tiên phải thực hiện tốt Nghị quyết số 24
của Ban Bí thư TW Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo.
Tiếp theo đó là nghị định 69 - HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng
bộ Trưởng qui định về các hoạt động tôn giáo “ Nhà nước bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân; Nghiêm
cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng”.
Ngày 23/7/1993, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 379/TTG về các
hoạt động tôn giáo, nhằm giúp các cấp chính quyền và Ban Tôn giáo các
cấp xử lý đúng đắn các vấn đề tín ngưỡng tôn giáo trong đời sống xã
hội….
Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/9/2001 của Bộ Văn hóa
Thông tin về việc ban hành quy chế tổ chức lễ hội (thay thế cho quy chế
ban hành tháng 5/1994).
Nghị định 112/2005/NĐ-CP ngày 18/1/2006 của Chính phủ về ban
hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
cộng.
Nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 của Chính phủ về xử phạt
hành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin.
1.3. Vai trò của cán bộ văn hóa đối với công tác quản lý lễ hội
Người cán bộ quản lý văn hóa trên địa bàn đối với công tác quản lý
lễ hội phải hiểu và nắm vững các công tác sau:
Chú trọng công tác tuyên truyền các giá trị lịch sử văn hóa của di
tích cũng như qui định của pháp luật có liên quan, để các thành viên tham
dự lễ hội có trách nhiệm cùng chính quyền, ban tổ chức thực hiện nghiêm
các quy định của lễ hội: Giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và kinh
tế trong việc tổ chức lễ hội, quy hoạch, sắp xếp các hàng quán dịch vụ và
các hoạt động vui chơi giải trí hợp lý, tạo điều kiện để nhân dân địa
phương có thêm thu nhập, nhưng vẫn đảm bảo tính văn hóa trong hoạt
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
động dịch vụ, thực hiện việc xã hội hóa tổ chức lễ hội, khai thác nguồn
lực từ các tổ chức cá nhân, đóng góp cho việc gìn giữ di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể liên quan đến lễ hội.
Nắm vững các văn bản pháp quy về công tác quản lý lễ hội để tham
mưu cho cấp chính quyền và địa phương tổ chức tốt các đợt tuyên truyền
giáo dục quần chúng tham gia bảo vệ và gìn giữ lễ hội.
Phối hợp với cán bộ quản lý di tích cấp trên biên tập thành tài liệu
tuyên truyền lễ hội, chống các hoạt động mê tín dị đoan.
Phát hiện và tham mưu cho UBND các cấp chỉ đạo các cơ quan tư
pháp, hành pháp xử lý các vụ việc xâm phạm di tích lễ hội theo đúng quy
định hiện hành của pháp luật.
Tham mưu cho chính quyền địa phương thành lập ban quản lý lễ hội
trên cơ sở quy định rõ nhiệm vụ cụ thể của từng người trong lễ hội và cơ
quan quản lý di tích. Vận động xã hội hóa bảo vệ, và phát huy lễ hội theo
kế hoạch dự án đã được cấp rên phê duyệt.
Phối hợp với các đơn vị chức năng, ban tuyên huấn tổ chức thường
xuyên các đợt tuyên truyền về truyền thống tốt đẹp của địa phương nơi có
lễ hội.
Rà soát phân loại lễ hội, tăng cường công tác quản lý, nghiên cứu để
việc tổ chức lễ hội ngày càng khoa học, thể hiện đúng ý nghĩa bản sắc của
lễ hội. Xây dựng nếp sống văn hóa, thực hiện, thông qua việc lồng ghép
và nội dung cụ thể của phong trào, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa”.
Lễ hội là di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc cần được bảo tồn, phát
huy và phát triển theo qui chế để các giá trị văn hóa của lễ hội trở thành
nguồn lực to lớn tác động mạnh mẽ đời sống tinh thần của nhân dân.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG LỄ HỘI THẢ DIỀU LÀNG BÁ GIANG
2.1. Tổng quan về làng Bá Giang xã Hồng Hà - huyện Đan
Phượng - tỉnh Hà Tây
2.1.1. Vị trí địa lý
Làng Bá Giang nằm ven sông Hồng quanh năm nước chảy, phù sa
bồi đắp thường xuyên, làm cho đất đai ở nơi đây luôn mầu mỡ, cây cối
xanh tươi. Từ xưa nhân dân chủ yếu làm ruộng, hàng năm thường trồng
những cây lương thực như: Lúa, ngô, khoai, lạc, đậu, và các loại cây công
nghiệp có các nghề như thợ mộc, thợ rèn, thêu, ren, đan lát, dệt vai lụa và
thao. Nhân dân buôn bán chính là hàng xáo (xay, giã gạo) hoa quả và một
số ít người buôn chuyến ở các nẻo sông. Một số người đi làm thuê, kiếm
ăn ở các tỉnh xa. Làng có chợ Bá xưa tháng họp 6 phiên, hàng hóa phong
phú nên có câu.
“Bá Nội là đất thanh nhàn
Thuyền em về Bá, lập đàng bán buôn”.
Bá Giang rất thuận tiện về giao thông thủy và bộ. Từ Hà Nội đến
làng Bá Giang có nhiều đường. Ta có thể đi theo đê sông Hồng (nay đã
được dải nhựa), qua gầm cầu Thăng Long, qua Thượng Cát (Từ Liêm - Hà
Nội), qua xã Liêm Trung, Liên Hà, Liên Hồng, đến làng Bá Giang. Đây là
tuyến đê bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa, Thủ đô Hà Nội ngày nay,
nên từ xưa được coi là rất quan trọng. Đê đắp khá lớn, chạy vòng ôm ấp
lấy làng Bá Giang. Đường thủy từ đây đi Hà Nội và ngược lên Việt Trì và
các tỉnh phía Bắc. Con đê sông Hồng còn kéo dài lên tới thị xã Sơn Tây.
Đến trạm Tiên Tân rẽ trái vào đê sông Đáy và đến huyện Đan Phượng
(qua các xã Hạ Mỗ, Thượng Mỗ, Đan Phượng).
Đầu làng Bá Giang (phía Bắc) có hệ thống điều tiết nước sông Hồng
tự chảy, xuyên qua đê sông Hồng, dẫn phù xa vào tưới cho đồng ruồng
của làng xã. Thời Pháp thuộc đã có cống tròn tự chảy xong lưu lượng nhỏ.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngày nay một hệ thống dẫn thủy hiện tại đã hoàn thành cung cấp nước
tưới cho cả hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức. Khi mùa nước cạn của
sông Hồng vẫn đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng, cả bốn mùa. Với hệ
thống giao thông thủy, bộ như vậy, làng Bá Giang có một ưu thế thuận lợi
và vị trí quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Với vị thế “nhất cận thị, nhị cận giang”, do thiên nhiên ban tặng,
môi trường sinh thái đặc thù ấy sẽ có ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa
- xã hội của làng Bá Giang. Sự lựa chọn thần linh và đời sống tín ngưỡng,
cả sự phát đạt về học hành, sự phong phú của đời sống tín ngưỡng, sự
phát đạt về học hành sự phong phú của sử dụng tinh thần ở đây, cũng từ vị
thế ấy.
2.1.2. Lịch sử hình thành
Ngược dòng sông Hồng, từ Thủ đô Hà Nội đi về phía Tây Bắc
khoảng 15km, có một khu dân cư sầm uất, chợ họp đông vui, thuận đường
thủy- bộ; Đó là làng Bá Giang xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng - tỉnh Hà
Tây.
Làng Bá Giang còn có tên là Bá Dương Nội, xưa có tên nôm là Kẻ
Bá. Đầu thế kỷ thứ XIX làng Bá Giang thuộc tổng Thượng Trì, huyện Từ
Liêm, thị trấn Sơn Tây. Sau cách mạng tháng Tám (1945) đã nhiều lần
thay đổi. Từ 1979 đến 1991 thuộc ngoại thành Hà Nội, từ năm 1992 đến
nay thuộc địa bàn Hà Tây.
Bá Giang là một trong 4 làng của xã Hồng Hà: Bá Thị, Tiên Tân và
Bồng Lai. Bá Giang ở trung tâm của xã, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc,
Đông Nam giáp xã Liên Hồng, Nam giáp xã Tân Hội, Tây Nam giáp Hạ
Mỗ. Bá Giang nằm cạnh sông Hồng có con đê bao bọc. Ngoài đê là Ghềnh
Nguyệt Lão, xưa có câu cá “Miếu Đinh Nguyên, ông Diên Thành, Ghềnh
Nguyên Lão”, là những địa danh quan trọng trong vùng.
Bá Giang ngày nay thuộc vùng đất cổ xưa xứ Đoài. Những năm
1975 - 1976 trong khi đào giếng nước ở Bá Giang đã đào được một số
hiện vật bằng đá và đồng của người xưa, giới nghiên cứu lịch sử Hà Nội
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ghi nhận là một di chỉ khảo cổ học rất cần được nghiên cứu. Chắc hẳn
dưới lòng đất nơi đây còn chứa đựng nhiều hiện vật báu có thể giúp chúng
ta xác minh thêm sự phong phú của nền văn minh sông Hồng - Con sông
mà xã Hồng Hà lấy làm tên gọi.
Về mặt văn vật ngàn năm mà nói, nơi đây còn nhiều truyền thuyết
và di tích để chứng minh nơi đây là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa.
Thời Hùng Định Vương, con gái thứ chín vua Hùng lấy con trai Lạc
tướng họ Hoàng ở Châu Ô (phải chăng là Ô Diên?), sinh ra được người
con trai là Hoàng Trụ, năm 12 tuổi, Trụ học ông Lỗ ở Kinh Đô (Bạch Hạc
- Việt Trì), vì ông thông minh học một biết mười nên ai cũng mến phục.
Năm 17 tuổi, cha mẹ mất cả. Trụ đến học thêm rồi dạy học ở bãi Tăng
Tang (bãi dâu), biết thêm cả nghề thuốc, sẵn sàng trừ bệnh dịch cho dân
cứu sống được nhiều người. Ba năm sau nhà vua cầm quân mời ông ra
đánh giặc. Ông đánh thắng, chém đầu tướng giặc. Ông đánh thắng, chém
đầu tướng giặc là Thiết Sả từ Trung Quốc tràn sang. Khi ông mất, nhân
dân Bồng Lai (cùng xã) dựng ngôi đền thờ ngay trên nền trường học cũ ở
bái Tang Tang, ngàn năm hương khói thờ phụng ông.
Người đời sau đã có thơ ca ngợi rằng:
“Danh thơm ngàn thủa non sông tỏ
Đền miếu nguy nga mãi vẻ vang”
Xã Hồng Hà, làng Bá Giang còn rạng rỡ trong trang sử anh dũng
chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, góp phần giành
độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong cuốn “Truyền thống cách mạng xã Hồng
Hà”, ấn hành năm 1985 có đoạn ghi: “Thôn Bá Giang dưới sự chỉ huy của
cụ Phạm Văn Thiều, Phạm Văn Tỉnh , Phạm Văn Thêm (thường gọi là
quận Thêm), đã cùng dân làng cương quyết đánh giặc bằng nhiều hình
thức: Đánh lẻ, diệt gọn, nếu cứ năm bẩy thằng giặc qua đường làng là các
cụ tiêu diệt gọn. Xác chúng được chôn ngay ở đầu làng, ý muốn giáo dục
cho con cháu đời sau là: “Giặc đến đây là không có đường về. Với kiểu
đánh này lực lượng địch bị hao hụt dần, địch khó đối phó, khó tìm ra tung
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tích của ta. Cuộc chiến đấu này kéo dài hơn 3 tháng gây cho giặc nhiều
thiệt hại”. Hưởng ứng phong trào toàn dân chống Pháp của Hoàng Hoa
Thám, cụ Lang Sáng - gây dựng cơ sở ở Bồng Lai, Bá Giang. Cụ được
giao trách nhiệm cắm cờ lên cột cờ thành Hà Nội. Chủ trương bị bại lộ, cụ
bị bắt ngay trong thành. Địch tra tấn hết sức dã man nhưng cụ vẫn biểu thị
tinh thần bất khuất, dẫu chết cũng không hề cung khai. Nhờ vậy mà cơ sở
không bị bại lộ, dân làng không bị triệt phá.
Trong kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước,
thanh niên làng Bá Giang xã Hồng Hà hăng hái lên đường nhập ngũ bảo
vệ Tổ quốc. Nhiều người đã hi sinh anh dũng góp phần tô thắm trang sử
truyền thống của quê hương, giành lại độc lập tự do cho đất nước.
Với truyền thống lịch sử lâu đời của quê hương là nền tảng vững
chắc, hun đúc lên tính cách anh dũng của người dân Kẻ Bá. Những địa
danh, nhân vật và công tích của cổ nhân là cơ sở cội nguồn các sinh hoạt
văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng quê dân dã nơi đây.
2.1.3. Đặc điểm đời sống văn hóa - kinh tế - chính trị - xã hội
Đặc điểm đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội
Đất đai của làng Bá Giang ở ven sông Hồng hình thành hai khu
đồng và khu bãi. Ngoài bãi sông phù sa màu mỡ rất thuận tiện cho việc
trồng màu, ngô, khoai, đâu. Nhưng không chắc ăn vì hàng năm lũ sông
Hồng lên to, có năm thất bát cả. Ngược lại, có năm mưa thuận gió hòa thì
mùa màng tốt tươi, được mùa to. Khu vực trong đồng, diện tích cấy lúa
không nhiều, song ổn định. Giữa làng là chợ Bá, xưa một tháng họp sáu
phiên. Một số gia đình buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công như nấu rượu,
một thời rượu bá nổi tiếng khắp vùng. Ngày nay, ngày nào chợ Bá cũng
đông người mua và bán. Các sản vật mua và bán nơi đây rất phong phú
phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Dưới thời phong kiến đế quốc, cuộc sống của người dân nơi đây khổ
cực, nghèo nàn, lạc hậu. Vì ven sông Hồng, nên hàng năm luôn bị lũ lụt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét