Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Đề xuất phương án phân loại rác tại nguồn: Quản lý tại nguồn, thu gom, vận chuyển

Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ VÀ
CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1Đặc trưng CTR
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh CTR đô thị
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR là các cơ sở quan trọng
để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý CTR
Các nguồn phát sinh CTR đô thị gồm:
- Nhà ở
- Thương mại
- Cơ quan
- Xây dựng và phá huỷ các công trình xây dựng
- Các dịch vụ đô thị
- Tại các trạm xử lý
Chất thải đô thị có thể xem như chất thải cộng đồng ngoại trừ ngoài các chất thải có
trong quá trình chế biến tại các khu công nghiệp và chất thải công nghiệp. Các loại chất
thải được sinh ra từ các nguồn được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Các nguồn gốc phát CTRĐT
Nguồn Các hoạt động và vị trí phát sinh chất
thải
Loại chất thải rắn
Nhà ở Những nơi ở riêng của một gia đình hay
nhiều gia đình. Những căn hộ thấp, vừa và
cao tầng…
Chất thải thực phẩm, giấy, bìa
cứng, nhựa dẻo, hàng dệt, đồ da,
chất thải vườn, đồ gỗ, thuỷ tinh,
hộp thiết, nhôm, kim loại khác, tàn
thuốc, rác đường phố, chất thải
đặc biệt (dầu, lốp xe, thiết bị
điện, . . .), chất thải sinh hoạt nguy
hại.
Thương mại Cửa hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng,
khách sạn, dịch vụ, cửa hiệu in, . . .
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ, chất
thải thực phẩm, thuỷ tinh, kim
loại, chất thải đặc biệt , chất thải
nguy hại…
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 5 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Cơ quan Trường học, bệnh viện, nhà tù, trung tâm
chính phủ…
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ, chất
thải thực phẩm, thuỷ tinh, kim
loại, chất thải đặc biệt , chất thải
nguy hại…
Xây dựng
và phá dỡ
Nơi xây dưng mới, sửa dường, san bằng
các công trình xây dựng, vỉa hè hư hại.
Gỗ, thép, bê tông, đất…
Dịch vụ đô
thị (trừ trạm
xử lý)
Quét dọn đường phố, làm đẹp phong cảnh,
làm sạch theo lưu vực, công viên và bãi
tắm, những khu vực tiêu khiển khác.
Chất thải đặc biệt, rác, rác đường
phố, vật xén ra từ cây, chất thải từ
các công viên, bãi tắm và các khu
vực tiêu khiển.
Trạm xử lý,
lò thiêu đốt
Quá trình xử lý nước cấp, nước thải, và
chất thải công nghiệp. Các chất thải được
xử lý
Khối lượng lớn bùn dư.
Nguồn : George Tchobanoglous, et al, Mc Graw – Hill Inc, 1993.
CTR phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau căn cứ vào đặc điểm của các chất thải có
phân chia thành 3 nhóm lớn là : chất thải đô thị, công nghiệp và nguy hại. Nguồn thải
của CTRĐT rất khó quản lý tại các nơi đất trống bởi vì tại các vị trí này sự phát sinh
các nguồn chất thải là một quá trình phát tán.
1.1.2 Thành phần CTR đô thị
Thành phần của CTR đô thị được xác định ở bảng và, giá trị của các thành phần trong
CTR đô thị có thể thay đổi theo vị trí, theo mùa, theo điều kiện kinh tế. Sự thay đổi
khối lượng CTR theo mùa đặc trưng ở Bắc Mỹ được trình bày trong các bảng 1.2- 1.4,
thành phần CTR đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý CTR.
Bảng 1.2 Thành phần CTRĐT phân theo nguồn phát sinh
Nguồn chất thải Phần trăm trọng lượng
Dao động Trung bình
Nhà ở và khu thương mại 60-67 62,0
Chất thải đặc biệt(dầu, lốp xe, bình điện) 3-12 5,0
Chất thải nguy hại 0,1-0,1 0,1
Cơ quan 3-5 3,4
Xây dựng và phá dỡ 8-20 14,0
Làm sạch đường phố 2-5 3,8
Cây xanh và phong cảnh 2-5 3,0
Lĩnh vực đánh bắt 1,5-3 1,7
Bùn đặc từ nhà máy xử lý 3-8 6
Tổng cộng 100
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 6 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Nguồn : George Tchobanoglous, et al, Mc Graw – Hill Inc, 1993.
Bảng 1.3 Thành phần CTRDT theo tính chất vật lý
Thành phần Phần trăm trọng lượng
Khoảng giá trị Trung bình
Chất thải thực phẩm 6-25 15
Giấy 25-45 40
Bìa cứng 3-15 4
Chất dẻo 2-8 3
Vải vụn 0-4 2
Cao su 0-2 0,5
Gia vụn 0-2 0,5
Sản phẩm vườn 0-20 12
Gỗ 1-4 2
Thuỷ tinh 1-16 8
Xốp 2-8 6
Kim loại không thép 0-1 1
Kim loại thép 0-10 2
Bụi tro gạch 4
Tổng cộng 100
Nguồn : Trần Hiếu Nhuệ, quản lý chất thải rắn, Hà Nội 2001
Bảng 1.4 Sự thay đổi thành phần CTRSH theo mùa đặc trưng
Chất thải Phần trăm khối lượng Phần trăm thay đổi
Mùa mưa Mùa khô Giảm Tăng
Thực phẩm 11,1 13,5 21,0
Giấy 45,2 40,6 11.5
Nhựa dẻo 9,1 8,2 9,9
Chất hữu cơ khác 4,0 4,6 15,0
Chất thải vườn 18,7 4,0 28,3
Thuỷ tinh 3,5 2,5 28,6
Kim loại 4,1 3,1 24,4
Chất trơ và chất thải khác 4,3 4,1 4,7
Tổng cộng 100 100
Nguồn : George Tchobanaglous và cộng sự.
1.1.3 Phân loại CTR
Việc phân loại CTR là một việc rất phức tạp, bởi vì CTR sinh ra vô cùng phức tạp,
cả về chủng loại, thành phần và tính chất của chúng. Hiện nay có rất nhiều tài liệu về
việc thu gom và quản lý CTR, nhưng mỗi tài liệu có một cách phân loại khác nhau.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 7 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Nhìn tổng quát thì chúng cũng không khác nhau nhiều vì mục tiêu cuối cùng của các
chuyên gia cũng là phân loại để có biện pháp xử lý thích đáng, nhằm giảm độc hại của
CTR gây ra cho môi trường. sau đây là một cách phân loại dựa trên thành phần và tính
chất của CTR sinh ra
a. CTR có thành phần hữu cơ cao:
Là loại CTR sinh ra từ các hoạt động sinh hoạt của các khu dân cư, sinh ra từ khu
vực thương mại, nhà hàng, chợ, các khu văn phòng,… Loại chất thải này có các thành
phần như các loại thịt, cá hư hỏng, các loại thực phẩm dư thừa, rau củ, quả và các thực
phẩm khác. Chúng có thành phần hữu cơ cao, là loại CTR có tính chất phân huỷ nhanh,
khả năng thối rữa cao đặc biệt với những khu vực có nhiệt độ và độ ẩm cao, khả năng
gây ô nhiễm môi trường lớn do sự phân rã các chất hữu cơ trong thành phần của chúng.
b. CTR là rác rưởi
Loại CTR này thường sinh ra ở khu dân cư, văn phòng, công sở, khu thương mại,
nhà hàng, chợ, các khu vui chơi giải trí,… Thành phần chủ yếu của chúng là các loại
giấy, bao bì, giấy carton, plastic, nilon,…. với thành phần chủ yếu là các chất vô cơ,
xenlulo và các loại nhựa có thể đốt cháy dược.
Ngoài ra trong loại chất thải này còn có chứa các loại chất thải là các kim loại
như sắt thép, kẽm, đồng, nhôm, …. Là các loại chất thải không có thành phần hữu cơ
và chúng không có khả năng tự phân huỷ. Tuy nhiên loại chất thải này hoàn toàn có thể
tái chế lại mà không thải lại môi trường trừ khi chúng tồn tại dưới dạng các muối hay
ion thì lại gây tác hại lớn đến môi trường.
c. CTR là sản phẩm của quá trình cháy
Loại CTR này chủ yếu là tro tàn hay các nhiên liệu cháy còn dư lại trong quá
trình cháy tại các lò đốt hay lò hơi, lò đốt dầu. Các loại tro tàn thường sinh ra từ các cơ
sở công nghiệp, các hộ gia đình khu sử dụng nhiên liệu đốt lấy nhiệt, để sử dụng cho
mục đích sinh hoạt. Tro sinh ra thường ở dạng bột mịn hay dạng bánh xỉ khi sử dụng
làm nguyên liệu. Xét về tính chất thì loại chất thải này là vô hại nhưng chúng lại rất dễ
gây ra hiện tượng ô nhiểm môi trường do việc phát sinh bụi.
d. Chất thải độc hại
Các chất thải rắn hoá học, sinh học, chất gây phóng xạ, chất cháy, chất gây nổ…
khi thải bỏ ra môi trường có ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng với môi trường. Chúng
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 8 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
được sinh ra từ các nhà máy, các khu công nghiệp mà tại đó hoá chất được sử dụng làm
nguyên liệu cho sản xuất.
Ngoài ra CTR thải từ các cơ sở y tế như bông băng, kim tiêm, bệnh phẩm cũng là
loại CTR có tính nguy hại lớn đến môi trường và được xếp vào dạng chất thải độc hại.
e. Chất thải ra trong nông nghiệp
Các CTR sinh ra do dư thừa trong sản xuất nông nghiệp cũng rất đa dạng và
phức tạp. Chúng bao gồm các loại cây củ, quả không đạt chất lượng bị thải bỏ, các loại
sản phẩm phụ sinh ra trong nông nghiệp, các loại cây con giống không còn giá trị sử
dụng….
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng có loại chất thải có tính độc
hại cao cần phải quan tâm đến, có ảnh hưởng khá lớn đến môi trường như các loại
phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, chúng có khả năng gây ô nhiễm môi trường
trên diện rộng, nhất là đối với các nguồn nước ngầm và nước mặt.
f. Chất thải rắn sinh ra trong xây dựng
Là loại CTR sinh ra từ quá trình đập phá, đào bới nhằm xây dựng các công trình
xây dựng dân dụng, giao thông, cầu cống… Loại chất thải này thành phần chủ yếu là
các loại gạch đá, xà bần, sắt thép, bê tông, tre gỗ… Chúng được xuất hiện ở các khu
dân cư mới hay các khu đang xây dựng.
g. CTR sinh ra từ các ống cống thoát nước, trạm xử lý nước
Trong loại chất thải này thì thành phần chủ yếu của chúng là bùn đất chiếm tới
10- 95%. Nguồn gốc sinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất cát đường phố, động vật
chết, lá cây, dầu mỡ, kim loại nặng… Nhìn chung loại CTR này cũng rất đa dạng và
phức tạp và có tính độc hại khá cao.
1.1.4 Tính chất CTR
1.1.4.1 Tính chất vật lý
Những tính chất vật lý quan trọng của CTR đô thị bao gồm khối lượng riêng,
độ ẩm, kích thước phân loại và độ xốp. Trong đó, khối lượng riêng và độ ẩm là hai tính
chất được quan tâm nhất trong công tác quản lý CTR đô thị ở Việt Nam.
- Khối lượng riêng: Khối lượng riêng (hay mật độ) của rác thải thay đổi theo
thành phần, độ ẩm, độ nén của chất thải. Trong công tác quản lý CTR, khối lượng
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 9 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
riêng là một thông số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải. Qua đó có thể phân bổ và tính được nhu cầu trang thiết bị phục vụ
công tác thu gom, vận chuyển, khối lượng rác thu gom và thiết kế quy mô bãi chôn
lấp chất thải,…
Khối lượng riêng được xác định bởi khối lượng của vật liệu trên một đơn vị
thể tích (kg/m
3
). Dữ liệu về khối lượng riêng thường cần thiết để định mức tổng
khối lượng và thể tích chúng cần phải quản lý. Khối lượng riêng của các hợp phần
trong chất thải rắn đô thị được trình bày ở bảng 1.5
Bởi vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi một cách rõ rang theo vị trí
địa lý, mùa trong năm và thời gian lưu trữ, trong đó tốt nhất là sử dụng các giá trị
trung bình đã được lựa chọn. khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay đổi từ
120 đến 590kg/m
3
. Đối với xe vận chuyển có thiết bị ép CTR có thể lên đến
830kg/m
3
.
Khối lượng riêng của CTR được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng
để xác định tỷ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vị là kg/m
3
(hoặc lb/yd
3
)
Bảng 1.5 Khối lượng riêng các thành phần của CTRDT
Loại chất thải Khối lượng riêng lb/yd
3
Dao động Trung bình
Thực phẩm 220-810 490
Giấy 70-220 150
Carton 70-135 85
Plastic 70-220 110
Vải 70-170 110
Cao su 170-340 220
Da 170-440 270
Rác vườn 100-380 170
Gỗ 220-540 400
Thuỷ tinh 270-810 330
Can thiết(đồ hộp) 85-270 150
Nhôm 110-405 270
Kim loại khác 220-1940 540
Bụi 540-1685 810
Tro 1095-1400 1255
Rác rưởi 150-305 220
Nguồn : George Tchobanoglous, et al, Mc Graw – Hill Inc, 1993.
Chú thích : lb/yd
3
x o.5933=kg/m
3
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 10 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
- Độ ẩm: độ ẩm của chất thải rắn là thông số có liên quan đến giá trị nhiệt lượng của
chất thải, được xem xét để lựa chọn phương án xử lý, thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt.
Độ ầm CTR thay đổi theo thành phần và theo mùa trong năm. CTR thực phẩm có độ
ẩm từ 50-80%, CTR là thuỷ tinh, kim loại có độ ẩm thấp. Độ ẩm trong CTR cao tạo
điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật kị khí phân huỷ gây thối rữa.
Độ ẩm của chất thải rắn được biểu diễn bằng 2 cách:
- Phương pháp trọng lượng ướt, độ ẩm của mẫu được biểu diễn bằng %
của trọng lượng ướt vật liệu;
- Phương pháp trọng lượng khô, độ ẩm của mẫu được biễu diễn bằng %
của trọng lượng khô vật liệu;
- Phương pháp trọng lượng ướt thường được sử dụng trong lĩnh vực quản
lý chất thải rắn. Độ ẩm theo phương pháp trọng lượng ướt được biểu
diễn dưới dạng toán học như sau:
Công thức:

M =
W −d
W
×100

Trong đó: M : độ ẩm %
W : trọng lượng ban đầu của mẫu (kg,g)
d : trọng lượng của mẫu sau khi sấy khô ở 105
0
c (kg,g)
1.1.4.2 Tính chất hoá học
Các chỉ tiêu hoá học quan trọng của chất thải rắn đô thị gồm chất hữu cơ, chất tro, hàm
lượng cacbon cố định, nhiệt trị.
- Chất hữu cơ: lấy mẫu nung ở 950
0
c, phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là
tổn thất khâu nung, thông thường chất hữu cơ giao động khoảng 40-60%, giá trị trung
bình là 53%.
- Chất tro : là thành phần còn lại sau khi nung ở 950
0
c, tức là chất tro dư hay chất vô
cơ.
- Hàm lượng cacbon cố định : là hàm lượng cacbon còn lại sau khi đã loại các chất
vô cơ khác không phải là cacbon trong tro khi nung ở 950
0
c, hàm lượng này thường
chiếm khoảng 5-12%, giá trị trung bình là 7%. Các chất vô cơ khác trong tro gồm thuỷ
tinh, kim loại, Đối với chất thải rắn đô thị, các chất vô cơ này chiếm khoảng 15-30%,
giá trị trung bình là 20%.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 11 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
- Nhiệt trị : là giá trị nhiệt tạo thành khi đốt chất thải rắn. Giá trị nhiệt được xác định
theo công thức Dulong:
Btu/lb = 145C + 610(H
2
– 1/8O
2
+ 40S + 10N)
Trong đó : C : % trọng lượng của Cacbon
H : % trọng lượng của Hidro
O
2
: % trọng lượng của Oxy
S : % trọng lượng của Sulfua
N : % trọng lượng Nitơ
Số liệu trung bình về các chất dư trơ và nhiệt năng của các hợp phần trong
chất thải rắn được trình bày trong bảng 1.6
Bảng 1.6 Số liệu trung bình về các chất dư trơ và nhiệt năng của các hợp phần
trong CTRĐT
Thành Phần Chất dư trơ
+
, % Hàm lượng năng lượng,Btu/lb
Dao động Trung bình Dao động Trung bình
Thực phẩm 2-8 5,0 1,500-3,000 2,000
Giấy 4-8 6,0 5,000-8,000 7,200
Cacton 3-6 5,0 6,000-7,500 7,000
Plastic 6-20 10,0 12,000-16,000 14,000
Vải 2-4 2,5 6,500-8,000 7,500
Cao su 8-20 10,0 9,000-12,000 10,000
Da 8-20 10,0 6,500-8,500 7,500
Rác vườn 2-6 4,5 1,000-8,000 2,800
Gỗ 0,6-2 1,5 7,500-8,500 8,000
Thuỷ tinh 96-99
+
98,0 50-100 60
Can thiết(đồ hợp) 96-99
+
98,0 100-500 300
Nhôm 90-99
+
96,0
Kim loại khác 94-99
+
98,0 100-500 300
Bụi, tro,… 60-80 70,0 1,000-5,000 3,000
Rác sinh hoạt 4,000-5,500 4,500
Nguồn : George Tchobanoglous, et al, Mc Graw – Hill Inc, 1993.
1.1.4.3 Tính chất hoá học
Các thành phần hữu cơ (không kể các thành phần như plactic, cao su, da) của hầu hết
chất thải rắn có thể phân loại về phương diện sinh học sau:
- Các thành phần có thể hoà tan trong nước như: đường, tinh bột, amino acid và nhiều
chất hữu cơ khác.
- Bán celluloso: các sản phẩm ngưng tụ của đường 5 và 6 cacbon.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 12 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
- Cellulose: sản phẩm ngưng tụ của đường gluloso 6 cacbon.
- Dầu, mỡ và sáp: là những esters của vòng thơm với nhóm methoxyl.
- Lignin: một polimer chứa các vòng thơm với nhóm methoxyl.
- Lignocelluloza: hợp chất do lignin và celluloza kết hợp với nhau.
- Protein: chất tạo thành từ các amino acid mạch thẳng.
Tính chất sinh học quan trọng nhất của thành phần hữu cơ trong chất thải rắn đô thị là
hầu hết các thành phần hữu cơ có thể được chuyển hoá sinh học thành dạng khí, các
chất rắn vô cơ và hữu cơ khác.Sự tao mùi hôi và phát sinh ruồi cũng liên quan đến tính
dễ phân huỷ của các vật liệu hữu cơ trong chất thải rắn đô thị như CTR thực phẩm.
Khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần hữu cơ trong chất thải rắn:
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách đốt cháy chất ở nhiệt độ
550
0
c,thường được sử dụng đánh giá khả năng phân huỷ sinh học của hữu cơ trong
chất thải rắn. Tuy nhiên việc sử dụng VS để mô tả khả năng phân huỷ sinh học của
phần hữu cơ trong chất thải rắn thì không đúng vì một vài phần hữu cơ của chất thải
rắn dễ bay hơi nhưng lai kém khả năng phân huỷ sinh học là giấy in và cành cây. Thay
vào dó, hàm lượng lignin của chất thải rắn có thể được sử dụng để áp dụng tỉ lệ phần
dễ phân huỷ sinh học của chất thải rắn và dược tính theo công thức:
BF = 0.83 – 0.028LC
Trong đó: BF: tỷ lệ phần trăm phân huỷ sinh học biểu diễn trên cơ sở VS
0,83 và 0,028 : hằng số thực nghiệm
LC : hàm lượng lignin của VS biểu diễn bằng % trọng lượng khô
Khả năng phân huỷ sinh học của một vài hợp chất hữu cơ tìm thấy trong chất thải rắn
đô thị, dựa trên cơ sở hàm lượng lignin. Các chất thải có hàm lượng lignin cao như:
giấy in có khả năn phân huỷ sinh học kém hơn đáng kể so với các chất thải hữu cơ
khác trong chất thải rắn đô thị. Trong thực tế, các thành phần hữu cơ trong chất thải rắn
thường được phân loại thành phần phân huỷ chậm và phần phân huỷ nhanh.
Sự phát sinh mùi hôi
Mùi hôi có thể sinh ra khi chất thải chứa trong khoảng thời gian dài ở trong nhà, trạm
trung chuyển và bãi đổ. Mùi hôi phát sinh đáng kể ở các thùng chứa trong nhà vào mùa
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 13 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
khô có khí hậu nóng ẩm. Sự hình thành mùi hôi là do sự phân huỷ kỵ khí của các thành
phần hữu cơ dễ phân huỷ trong chất thải rắn.
Sự sản sinh ruồi
Vào thời gian hè của những vủng nóng ẩm, sự nhân giống và sinh sản của ruồi là một
vấn đề đáng quan tâm ở những thùng chứa chất thải rắn bên trong nhà. Ruồi có thể
phát triển nhanh trong khoảng thời gian không đến hai tuần sau khi trứng được cấy
vào.
1.1.5 Tốc độ pháp sinh chất thải rắn
Việc tính toán tốc độ phát thải CTR là một trong những yếu tố quan trọng trong việc
quản lý CTR thải bởi vì từ đó người ta có thể xác định được lượng CTR phát sinh
trong tương lai ở một khu vực cụ thể từ đó có kế hoạch quản lý từ khâu thu gom, vận
chuyển tới công tác quản lý.
Phương pháp xác định tốc độ phát thải CTR cũng gần giống như phương pháp xác
định tổng lượng CTR. Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để định lượng
CTR ở một khu vực.
• Đo khối lượng
• Phân tích thống kê
• Dựa trên các đơn vị thu gom CTR ( ví dụ thùng chứa)
• Phương pháp xác định tỉ lệ CTR
• Tính cân bằng vật chất
Lượng vào Lượng ra
Nguyên liệu + nhiên liệu
Hình 1.1 : Sơ đồ cân bằng vật chất
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn
- Sự phát triển kinh tế và nếp sống
Các nghiên cứu cho thấy sự phát sinh chất thải liên hệ trực tiếp với phát triển của một
cộng đồng. Lượng chất thải sinh hoạt đã được gi nhận là có giảm khi có sự suy giảm
về kinh tế ( rõ nhất là trong thời gian khủng hoảng kinh tế của thế kỷ 17). Phần trăm
vật liệu đóng gói (đặc biệt là túi nilon ) đã tăng lên trong ba thập kỷ qua và tương ứng
với tỷ trọng khối lượng ( khi thu gom ) của chất thải cũng giảm đi.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 14 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nhà máy
xí nghiệp
Sản phẩm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét