Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chương I. Các Căn Cứ Chủ Yếu Hình Thành Dự Án Đầu Tư
I. Các điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến sự hình thành và thực hiện của
dự án
1.1.Môi trường vĩ mô
1.1.1.Môi trường kinh tế vĩ mô
Nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đặc biệt sau sự kiện
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), kinh tế ngày càng phát triển và đạt
được rất nhiều thành tựu quan trọng. Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Việt Nam cũng
đang vươn lên khẳng định vị trí là một nước có nền nông nghiệp tiến bộ thể hiện qua
ngôi vị dẫn đầu xuất khẩu hạt tiêu, tiếp sau đó là xuất khẩu gạo. Những thành tựu
đáng kể đó đóng góp không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và
thu nhập bình quân đầu người cả nước. Cùng với sự phát triển của cả nước, thủ đô
Hà Nội ngày càng phát huy vai trò của trung tâm kinh tế chính trị xã hội với thu nhập
bình quân người năm 2007 là 37,8 triệu đồng. Mức thu nhập ngày càng tăng khiến
nhu cầu và khả năng thoả mãn nhu cầu của người dân cả nước nói chung và người
dân Hà Nội nói riêng không ngừng gia tăng.
1.1.2.Môi trường pháp lý
Từ sau cải cách kinh tế năm 1986 Chính phủ luôn khuyến khích các doanh
nghiệp trong nước tham gia đầu tư vào hoạt động sản xuất gia tăng tổng sản phẩm
quốc nội, vì thế có rất nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp thực hiện các dự
án đầu tư trực tiếp, đây là những điều kiện pháp lý rất quan trọng và thuận lợi cho
chủ đầu tư dự án này thực hiện dự án.
Các căn cứ pháp lý của dự án
• Quyết định số 14/1999/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập
Cục quản lý chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y Tế. Mục tiêu
hoạt động xã hội của Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là xây
dựng các văn bản pháp quy về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, hệ
thống các tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, lập danh mục các
loại thực phẩm phải đăng ký chất lượng và tiến hành tổ chức các hoạt động
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm…
• Chỉ thị số 08/1999/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường
công tác đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
• Định hướng phát triển chăn nuôi từ năm 2000 đến năm 2010 của Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Quyết định số 16/2000/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện
pháp và chính sách phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2010.
• Nghị định số 51/2000/NĐ – TTg của Thủ tướng Chính Phủ quy định chi tiết
luật khuyến khích đầu tư trong nước. Theo đó, các cơ sở chăn nuôi lợn giống,
lợn xuất khẩu, cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn xuất khẩu được hưởng chính
sách ưu đãi đầu tư.
• Thành uỷ, UBND thành phố Hà Nội ban hành một số văn bản cụ thể hoá chủ
trương về quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực giết mổ và chế
biến sản phẩm từ thịt gia súc như Thông báo số 25 – UB/TU, Công văn số
648-CV/UB.
• Quyết định số 8246/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt
nhiệm vụ kinh phí chuẩn bị đầu tư dự án “ nhà máy giết mổ gia súc và chế
biến thực phẩm”.
1.1.3.Môi trường chính trị - văn hoá - xã hội
Việt Nam được đánh giá là nước ổn định chính trị cao, đó là một thuận lợi cho
các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư. Đặc biệt, địa điểm xây dựng
dự án lại nằm ở ngoại thành Hà Nội, gần trái tim của cả nước nên có những điều kiện
về chính trị hết sức thuận lợi. Với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng như hiện nay cư dân
Hà Nội và các vùng lân cận sẽ dần thích sử dụng các sản phẩm chế biến sẵn bởi sự
nhanh chóng tiện lợi và tiết kiệm thời gian.
Bên cạnh đó, với tập quán ăn uống của người Việt, dù là ngày thường hay
ngày lễ Tết thì đều không thể thiếu các món ăn chính chế biến từ thịt lợn. Dù thực
phẩm bổ sung có nhiều loại như gà, bò, dê… nhưng hàm lượng chất đạm có trong thịt
lợn thì chưa bao giờ vắng mặt trong các bữa ăn của người Việt.
1.1.4.Môi trường tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nằm trong khu vực vành đai nhiệt đới gió mùa, miền Bắc nước ta có khí hậu 4 mùa
rõ rệt, và đó là điều kiện rất tốt để chăn nuôi lợn thịt và lợn xuất khẩu. Khu vực miền
Bắc có các tỉnh chuyên chăn nuôi lợn thịt xuất khẩu như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, và
các huyện lân cận nội thành Hà Nội như Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn…Điều kiện
thời tiết phù hợp và có những khu vực chăn nuôi có truyền thống làm nguồn cung ổn
định là điều kiện hết sức thuận lợi để dự án đi vào hoạt động với công suất và hiệu
quả cao.
1.2.Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Sở Nông nghiệp
nông thôn Hà Nội, ưu tiên phát triển nghành chăn nuôi hướng tới xuất khẩu. Sản
phẩm của dự án nằm trong quy hoạch phát triển nông nghiệp nên được hưởng một số
ưu tiên khi thực hiện đầu tư.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
II. Nghiên cứu thị trường về sản phẩm của dự án
2.1. Phân tích đánh giá thị trường tổng thể
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu tiêu dùng của người dân cả
nước nói chung và của người dân thủ đô Hà Nội nói riêng ngày càng tăng cao, trong
số đó nhu cầu lương thực thực phẩm nhất là thực phẩm chứa hàm lượng chất đạm
cao như thịt lợn cũng gia tăng. Qua khảo sát 1000 hộ gia đình Hà Nội về lượng tiêu
thụ thịt lợn hàng tuần kết quả là trong 1000 hộ có 800 hộ tiêu dùng thịt lợn thường
xuyên và liên tục trong các bữa ăn. Mỗi tuần lượng thịt lợn tiêu thụ trong nội thành
Hà Nội là 1,2 tấn. Như vậy cầu về thịt lợn khu vực nội thành Hà Nội là rất lớn, đây là
thị trường tiềm năng và vẫn còn chỗ trống cho doanh nghiệp gia nhập.
2.2. Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là địa bàn Hà Nội
2.3. Xác định sản phẩm của dự án
Sản phẩm của dự án phân ra làm 2 dòng chính: sản phẩm thịt lợn tuơi sống và chế
biến sẵn đóng hộp.
• Sản phẩm thịt lợn tươi sống: thịt nạc, xương, mỡ, phủ tạng…
• Sản phẩm chế biến sẵn đóng hộp: pa-tê, giăm bong, xúc xích…
2.4. Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án trong tương lai
a. Dự báo nhu cầu thị trường về sản phẩm
Nhu cầu tiêu dung của thị trường nội địa
Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để dự báo nhu cầu thị trường sản phẩm:
Song song với tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân, lượng thịt nói chung tiêu
thụ bình quân đầu người không ngừng tăng lên. Theo thống kê, lượng thịt tiêu thụ
bình quân trên đầu người cả nước năm 2006 là 17,6kg lợn hơi tương đương 12kg thịt
xẻ, năm 2007 con số này là 19,7 kg lợn hơi tương đương 13,4 kg lợn xẻ.
Ở các thành phố lớn mức tiêu thụ bình quân còn lớn hơn nhiều. Tại Hà Nội,
năm 2006 đã tiêu thụ 70.000 tấn lợn hơi ( tương đương 47.600 tấn thịt xẻ, và tương
ứng 130 tấn/ ngày ). Theo quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm
2020 đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt, dự báo dân số Hà Nội đến năm 2010
là 3,2 triệu người, cộng với lượng khách du lịch trong nước và nước ngoài khoảng 1
triệu lượt người/năm thì nhu cầu thịt lợn sẽ còn lớn hơn nhiều.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bảng 1.1. Dự tính nhu cầu thịt lợn của Hà Nội đến năm 2010
Năm Nhu cầu (tấn lợn
hơi)
Bình quân
kg/người/năm
Tỷ lệ tăng bình
quân
2000 75.000 17,6(12 kg thịt xẻ)
2002 91.250 22(15kg thịt xẻ)
7,25%/ năm
2005 107.000 25,5(17,3kg thịt)
2010 143.000 34(23kg thịt xẻ)
Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn- chương trình phát triển giống
lợn năm 2000-2010
Bảng 1.2. Dự báo khả năng đáp ứng của ngành chăn nuôi Hà Nội
Năm 2000 2005 2010
Tổng đàn lợn
(con)
315.000 370.000 450.000
Sản lượng thịt
hơi (tấn)
30.000 45.000 65.000
Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn- chương trình phát triển giống
lợn năm 2000-2010
Số liệu từ bang 1 và 2 cho thấy, với tốc độ đàn lợn tăng 4-5 %/năm và mức
tăng sản lượng thịt hơi 7-8%/năm thì con số thiếu hụt phải nhập từ các vụng
phụ cận là rất lớn.
Bảng 1.3. Nhu cầu thiếu hụt cần bổ sung cho Hà Nội.
Năm 2000 2005 2010
Tổng đàn lợn
(con)
421.000 570.000 821.000
Sản lượng thịt hơi
(tấn)
40.000 55.000 78.000
b. Dự báo nhu cầu cung sản phẩm
Phương pháp dùng để xác định nhu cầu cung sản phẩm dự án là phương pháp ngoại
suy thống kê:
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam:
Nước nhập khẩu Năm 2004
Nga 15.000
Hồng Kông 12.000
Trung Quốc+Lào 5.000
Malayxia 2.000
Cộng 34.000
Nguồn: Vietnam Economic Times số 56 ngày 10/5/2001
Nhu cầu nhập khẩu thịt lợn năm 2006 cuả một số nước:
Nga: 603.000 tấn
Nhật Bản: 1.070.000 tấn
Hồng Kông: 280.000 tấn
Các đơn vị tham gia xuất khẩu chính: Hợp tác xã lien minh trang trại chăn
nuôi lợn siêu nạc, Công ty giống lợn miền Bắc, Vissan, xí nghiệp chăn nuôi
heo Đồng Hiệp.
Mục tiêu xuất khẩu lợn Việt Nam đến năm 2010:
Năm Tấn (thịt thành phẩm)
2002 42.000
2005 80.000
2010 170.000
Khái quát về hoạt động giết mổ ở Hà Nội
Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có một số lò mỏ lợn tập trung:
• Lò mổ ở đường Tam Trinh (quận Hai Bà Trưng)
• Lò mổ Đền Lừ (quận Hai Bà Trưng)
• Lò mổ Lương Yên (quận Hai Ba Trưng)
• Lò mổ Khương Đình (Thanh Xuân)
• Lò mổ Thịnh Liệt (Thanh Trì)
• Lò mổ Phùng Khoang (Từ Liêm)
• Lò mổ Tứ Liên ( Tây Hồ)
Trong số các cơ sở trên, chi duy nhất cơ sở Lương Yên thuộc công ty thực phẩm Hà
Nội mới được lắp đặt dây chuyền giết mở mới và theo quy trình công nghiệp hoàn
toàn. Công suất giết mổ 50 con/giờ. Các lò mổ Tứ Liên, Phùng Khoang cũng mới
được nâng cấp, công suất khoảng 1.300 con/ngày.
Ngoài ra còn tồn tại khoảng 30 lò mổ tự do với quy mô nhỏ trong nội thành và
vùng phụ cận.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Điều bức xúc nhất mà các lò mổ gây ra là ô nhiễm ( chất thải, tiếng ồn) và
không an toàn về thú y. Ngay cả đối với 3 lò mổ tập trung có sự quản lý của các cơ
quan chức năng , chi cục thú y Hà Nội cũng chỉ kiểm tra được 90% số lợn giết mổ,
chiếm trên 50% lượng thịt bán ra trên toàn thành phố. Các lò mổ đều hoạt động quá
công suất, không có quy hoạch riêng từng khu ( khu cách ly gia súc ốm,khu nhốt gia
súc chờ giết mổ), phương thức hoạt động mua bán, giết mổ diễn ra trên cùng một
diện tích gây mất vệ sinh, chưa có hệ thống xử lý nước thải phù hợp, vị trí lò mổ quá
gần khu dân cư và 100% gia súc đưa vào giết mổ không có giấy kiểm dịch.
Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và nhằm phấn đấu đáp ứng
tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, trên địa bàn Hà Nội cũng mới chỉ có Công ty
thực phẩm Hà Nội lắp đặt xong dây chuyền giết mổ hiện đại của Đan Mạch và Đức,
công suất 50 đầu lợn/giờ.
Có thể nói rằng thị trường đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
trên địa bàn Hà Nội hiện nay còn rất thiếu, trong khi nhu cầu về thịt sạch lại rất lớn
và ngày càng gia tăng.
2.5. Các vấn đề tiếp thị sản phẩm
Sản phẩm dự kiến được đến với đông đảo người tiêu dung ban đầu thong qua
quảng cáo trên phương tiện truyền thong như đăng báo Người Tiêu Dùng, Tiêu dung
và tiếp thị, báo Mua Sắm, báo Lao Động… và quảng cáo trên đài tiếng nói Việt Nam.
Ngoài phương pháp quảng cáo truyền thống trên, chủ đầu tư còn tiếp thị đến từng
chợ đầu mối và các siêu thị trong nội thành Hà Nội. Phương Pháp tiếp thị giới thiệu
trực tiếp đảm bảo chắc chắn nhất là thong tin về sản phẩm đã đến được với người
tiêu dung vì nhân viên tiếp thị trực tiếp đến từng siêu thị và chợ đầu mối làm việc và
thu thập ý kiến của họ.
Chủ đầu tư còn xây dựng hệ thống đại lý chuyên phân phối các sản phẩm của
dự án. Có thể nói mô hình đại lý tiêu thụ sản phẩm này còn khá mới mẻ trên thị
trường vì các đại lý đang hoạt động hiện nay chủ yếu bán sản phẩm hang gia dụng
hoặc các nhu yếu phẩm hang ngày. Chủ đầu tư tin vào phương pháp tiếp thị sản phẩm
độc đáo này sản phẩm của dự án sẽ nhanh chóng có được chỗ đứng trên thị trường.
2.6. Khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường
Khảo sát thị trường sản phẩm
Phương thức giết mổ và phân phối
Theo phương thức giết mổ truyền thống, lợn sống đưa thẳng từ vùng chăn
nuôi xung quanh thành phố vào nội thành trên các phương tiện thô sơ và giết mổ thủ
công với chi phí nhỏ thuê mặt bằng rồi đưa ngay ra chợ để bán mà không có qua chu
trình chống lây nhiễm vi khuẩn hay bảo quản hợp vệ sinh. Lợn được đưa về với số
lượng lẻ tẻ tuỳ thuộc vào khả năng của người buôn và nhu cầu tại chỗ. Kiểu chế biến
giết mổ này có ưu điểm tiết kiệm tối đa chi phi giết mổ, nhưng rất nguy hại cho ngưòi
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiêu dung nếu nảy sinh dịch bệnh. Mặt khác, không thể xác định được nguyên nhân
gây ra dịch bệnh vì không có quy trình lien tục giám sát từ đầu nguồn.
Về mặt kinh tế, giá cả do ngưòi bán buôn đưa ra tuỳ tiện và thay đổi theo mức
cung - cầu thị trường từng ngày mà không có sự kiểm soát chung. Do đó, dẫn tới
những thiệt hại không đáng có cho người tiêu dung khi có biến động của thị truờng.
Một số mô hình chăn nuôi giết mổ và tiêu thụ thịt mảnh tại miền Bắc
Hợp tác xã Liên Minh các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc:
Đây là mô hình hợp tác kinh tế mới giữa các trang trại tư nhân ở 14 tỉnh miền
Bắc bao gồm 140 trang trại nuôi 7.500 đầu lợn nái. Hàng năm, xuất khẩu 60% sản
lượng sang thị trường Hồng Kông, hầu hết là thịt lợn choai mảnh đông lạnh… Giá trị
xuất khẩu tương đương 3 triệu đô la Mỹ và đạt lợi nhuận ròng 2% doanh thu.
Mô hình này là mô hình kinh tế tự nhiên xây dựng trên cơ sở nhu cầu của thị
truờng xuất khẩu. Mặc dù là tự phát theo hướng thị trưòng, nhưng được đánh giá là
một mẫu mới có triển vọng vì đã tiếp cận được khách hang nước ngoài tương đối khó
tính và mang lại thu nhập cho nông dân. Hiện tại, Liên minh này cũng đang có dự án
xây dựng nhà máy giết mổ lợn choai để đáp ứng nhu cầu tự có về sơ chế thịt mảnh vì
vẫn đang phải đi thuê các đơn vị ở Thái Bình và Hải Phòng để giết mổ trước khi xuất
khẩu.
Như vậy, đây là một ví dụ cho việc tạo ra các mối quan hệ hợp tác giữa nông
hộ dựa trên thuần tuý yếu tố kinh tế chưa có sự tác đông của các cấp quản lý. Nghiên
cứu sự vận hành và hiệu quả của hệ thống này làm cơ sở cho việc tạo ra bền vững các
quan hệ hợp tác quản lý với nông hộ, trang trại chăn nuôi là cần thiết cho sự thành
công của việc xây dựng vùng nguyên liệu của Dự Án này.
CP Group:
CP Group là một công ty có quốc tịch Thái Lan đã đầu tư một nhà máy thức ăn gia
súc tại tỉnh Bình Dương và tổ chức một mạng lưới chăn nuôi rộng khắp. Để đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, CP đã tổ chức mở rộng đầu tư vào thị trường
chăn nuôi, trong đó có cả nuôi lợn tại các tỉnh trong cả nước.
Với phương thức tổ chức đội ngũ bác sĩ thú y chăm sóc cho từng nhóm nông
hộ đã ký hợp đồng chăn nuôi với CP. Gần như tỷ lệ hao hụt đầu vào so với đầu ra của
các hộ chăn nuôi là không đáng kể ( trên 99 đầu lợn thu về so với 100 lợn sữa giao
cho nông hộ). Toàn bộ thức ăn, thuốc thú y cho lợn do CP cung cấp. Nông dân chỉ
phí công chăm sóc và chuồng trại với mức thu nhập 50.000 đồng/đầu lợn và bình
quân đầu lợn/ hộ thì tổng thu nhập của mỗi hộ trong vòng 4 tháng đạt 5 triệu đồng.
Sản phẩm lợn thịt mảnh sau khi chế biến giết mổ được xuất khẩu sang Thái
Lan là chủ yếu. Các phụ phẩm ( long, da, long, tiết…) tiêu thụ nội địa và làm nguyên
liệu chế biến thức ăn gia súc.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Có thể thấy đây là một điển hình về chăn nuôi và giết mổ an toàn vệ sinh thịt
lợn đáng nghiên cứu để tổ chức cho vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ của dự
án.
Các sản phẩm chế biến
Phương thức chế biến và phân phối
Trên thị truờng các sản phẩm chế biến, sự xuất hiện các nhà sản xuất tại khâu
chế biến kèm theo việc gắn các nhãn mác và đăng ký thương hiệu sản phẩm cùng với
việc tiếp thị thương hiệu có làm cho việc truy nguyên nguồn gốc các sản phẩm trở
nên có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên mức độ kiểm soát và đăng ký thương hiệu có khác
nhau giữa 2 chủng loại cao cấp và truyền thống.
Các sản phẩm cao cấp gần như do các nhà máy và các công ty có uy tín ( như
Vissan, Hạ Long, Đức Việt ) tập trung tiếp thị. Điều đó làm cho quá trinh truy
nguyên nguồn gốc thực phẩm trở nên thuận tiện và có căn cứ hơn. Mặc dù vẫn còn
một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu chế biến được mua từ các lò mổ thủ công hoặc không xác
định nguồn gốc. Nhưng nói chung vệ sinh an toàn của các sản phẩm này được “đảm
bảo” bởi các nhà sản xuất có trách nhiệm về an toàn sản phẩm của mình với khách
hang.
Đối với các sản phẩm truyền thống, nhà sản xuất là các hộ thủ công cá thể là
chính, chưa có nhãn hiệu hang hoá và phân tán nhiều nơi. Họ chú trọng vào tiếp thị
trên giá thành và một phần nhờ vào hương vị của sản phẩm do gia tăng một số phụ
gia không được kiểm soát chặt chẽ. Điều này dẫn tới việc thực hiện các điều kiện vệ
sinh an toàn thực phẩm ở đây không được chú trọng đầy đủ và khả năng gây ngộ độc
là rất dễ xảy ra.
Muốn làm được việc kiểm soát an toàn thực phẩm ở khâu chế biến các sản
phẩm truyền thống, nỗ lực của nhà sản xuất là sẽ tạo ra một số sản phẩm phù hợp với
“gu” thưởng thức của người tiêu dung với giá cả hợp lý nhất đử sức cạnh tranh trên
thương trường. Tuy nhiên sẽ là chưa đủ nếu không có sự quản lý giám sát chặt chẽ
của các cơ quan quản lý.
Mô hình sản xuất kinh doanh SP chế biến từ thịt lợn của Vissan:
Công ty Vissan hay công ty Việt Nam kỹ nghệ Súc sản là một đơn vị có bề dàt hoạt
động trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ thịt nói chung và thịt heo nói riêng tại
Việt Nam. Tuy không phải là một nhà máy chế biến ngay từ khi thành lập, nhưng có
lợi thế về nhiều mặt , mà quan trọng nhất là uy tín công nghệ, đặt tại trung tâm kinh
tế tiêu dung của cả nước và gần như độc chiếm trên thị trường nên Vissan đã có mặt
trên thị trường miền Bắc từ khá lâu ( 1995). Qua 7 năm kinh doanh tại phía Bắc,
Vissan đã thiết lập được mạng lưới tiêu thụ rộng khắp các tỉnh thành gồm khoảng 40
khách hang kể cả các đại lý và các khách hang tập thể. Doanh số và sản lượng của
Vissan tại phía Bắc co xu hướng tăng nhanh trong 3 năm gần đây. Tuy do các tháng
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đầu năm 2002 doanh thu có giảm nhưng cho thấy phần giảm này phụ thuộc vào tỷ lệ
giữa SP cao cấp và truyền thống. Trong đó có thể thấy các SP cao cấp chiếm khoảng
80% doanh thu và sản lượng hang năm. Điều đó chứng tỏ Vissan đã chiếm lĩnh được
và tập trung cho thị trường cao cấp. Mặt khác điều này cũng chỉ cho thấy muốn đạt
được hiệu quả kinh tế cao của dự án, thì việc đầu tư cho các hạng mục các sản phẩm
cao cấp và truyền thống là không thể bỏ qua.
Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh với nhiều phương thức giết mổ và kinh doanh
lợn thịt khác nhau, từ mô hình giết mổ truyền thống tới mô hình giết mổ tập trung, có
những đối thủ chỉ là một số lò mổ địa phương mang tính chất làm ăn nhỏ lẻ cho tới
đối thủ đã có vị thế trên thị trường như Vissan, những yếu tố trên đòi hỏi chủ đầu tư
phải có một chiến lược kinh doanh riêng biệt, độc đáo mới có khả năng thu hút khách
hang và có chỗ đứng trên thương trường.
Do yêu cầu về mặt nguồn gốc xuất xứ của lợn nuôi cung cấp cho dự án phải
đạt tiêu chuẩn vệ sinh và chất lượng đảm bảo nên giá thành đầu vào của dự án không
thể thấp hơn giá đầu vào của các lò mổ hoặc các công ty chế biến thực phẩm khác.
Nhưng do quy mô giết mổ rộng lớn và công suất dây chuyền giết mổ tự động ở thời
kỳ phát huy hết công suất rất cao nên có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí - điều
mà các lò mổ khác không thể làm được. Do đó, giá thành của sản phẩm cũng không
bị đội lên quá cao.
Chiến lược cạnh tranh sản phẩm của dự án là về sự độc đáo và chất lượng sản
phẩm. Thịt lợn đảm bảo vệ sinh ngay từ đầu vào và thực hiện giết mổ đảm bảo vệ
sinh trong tất cả các khâu giết mổ tự động nên người tiêu dung hoàn toàn yên tâm về
mức độ an toàn vệ sinh. Những sản phẩm đồ hộp chế biến sẵn có hương vị khác biệt
với sản phẩm khác đang có mặt trên thị trường nên không khó khăn trong việc tạo
chỗ đứng. Qua thử nghiệm cho 100 người dung thử sản phẩm pa-tê thì 80% nhận ra
sự khác biệt trong hương vị và khen ngon. Mặt khác, chiến lược cạnh tranh bằng hệ
thống đại lý cũng là điểm mạnh của dự án. Sau đây là chính sách với đại lý các cấp.
Các điều kiện chung để làm đại lý
Điều kiện bắt buộc
• Có cửa hang ở vị trí thuận lợi cho bán hang thực phẩm ( gần khu dân cư, khu
vực trong hoặc xung quanh chợ đuợc phép kinh doanh, gần đường giao
thong…).
• Có vốn lưu động từ 30 triệu trở lên.
• Đủ các hồ sơ chứng minh tư cách hợp pháp để đăng ký kinh doanh/
Điều kiện được ưu tiên:
• Có kinh nghiệm kinh doanh hang thực phẩm.
• Có đội ngũ bán hang thành thạo trong các giao dịch và tiếp thị khách hang tại
khu vực uỷ thác.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Nhiệt tình đóng góp vào thành công chung và có thái độ hợp tác kinh doanh.
Trách nhiệm và quyền lợi của đại lý:
a. Đại lý cấp 1
Sẽ xây dựng khoảng 12 đại lý cấp 1 theo địa bàn quận huyện. Các đại lý này
có thể đóng vai trò như Nhà phân phối, được phát triển hệ thống bán hang trong
địa bàn mình và với tiêu chuẩn cửa hang thống nhất do Nhà máy quy định.
Điều kiện bổ sung:
• Vốn lưu động từ 100-500 triệu đồng.
• Có năng lực giao hang bằng phương tiện xe ôtô đạt yêu cầu chở thực phẩm sẽ
được ưu tiên.
• Có khả năng điều hành đội ngũ nhân viên giao hang tận nơi cho khách.
Trách nhiệm và quyền lợi của đại lý cấp 1:
• Tiêu thụ từ 1-1,5 tấn thịt tươi và 0,05-0,35 tấn SP chế biến/ngày.
• Giá cả: theo giá chỉ đạo thống nhất của công ty.
• Chiết khấu: 5% doanh thu bán hang.
• Thanh toán: toàn bộ doanh thu sẽ nộp về tài vụ công ty vào cuối ngày hoạt
động, Ngày 10 hàng tháng, công ty sẽ thanh toán toàn bộ chiết khấu của đại lý
tháng trước.
• Đào tạo: công ty sẽ huấn luyện cho 2-3 nhân viên của đại lý kỹ năng bán hang.
• Đầu tư nâng cấp ban đầu của cửa hang theo tiêu chuẩn do công ty chi trả.
• Chi phí lưu động khác: thuế, điện, nước, nhân công, xăng xe, duy trì sửa chữa
thiết bị cho hoạt động của cửa hàng sẽ do đại lý chịu trách nhiệm thanh toán.
• Thời hạn hợp đồng từ 10 năm trở lên.
• Độc quyền tiêu thụ và có trách nhiệm bao tiêu trong khu vực uỷ thác, đuợc
phép mở rộng them các cửa hang trực thuộc.
b. Đại lý cấp 2
• Số lượng khoảng 20 đại lý
• điều kiện bổ sung:
• Vốn lưu động ít nhất 50 triệu đồng.
• Có năng lực giao hang bằng phương tiện xe máy đạt yêu cầu chở thực phẩm.
• Có khả năng điều hành đội ngũ nhân viên bán hang tận tâm.
• Giá cả, thanh toán, đào tạo, chi phí lưu động áp dụng giống như với đại lý cấp
1
Trách nhiệm và quyền lợi đối với đại lý cấp 2
• Tiêu thụ : 0,6-0,7 tấn thịt tươi và 0,03-0,2 tấn SP chế biến/ngày.
• Chiết khấu: 4% doanh thu bán hang.
• Đầu tư nâng cấp ban đầu tại cửa hang theo tiêu chuẩn: tuỳ thuộc vào vị trí mà
công ty sẽ đầu tư bằng 50% so với đại lý cấp 1
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét