Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CAPM VÀ FAMA FRENCH DỰ BÁO TỶ SUẤT SINH LỢI ĐỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM

5

Phụ lục 6: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi mô hình CAPM 101
Phụ lục 7: Kiểm định sự phù hợp của mô hình FF3FM ở Việt Nam 102
Phụ lục 8: Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình FF3FM. 105
Phụ lục 9: Kiểm định tự tương quan mô hình FF3FM. 106
Phụ lục 10: Kiểm định phương sai thay đổi mô hình FF3FM. 107
Phụ lục 11: Các chứng khoán được chọn để dự báo bằng hai mô hình CAPM và FF3FM 108
Phụ lục 12: Phiếu khảo sát 110
6

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
Đã hơn 10 năm kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành tuy cũng có những
thành tựu nhất định nhưng vẫn còn nhiều yếu kém và tồn tại không ít rủi ro. Hiện nay, ở
nước ta tồn tại đa số là các nhà đầu tư cá nhân và kinh doanh chủ yếu dựa vào những khuyến
nghị của các công ty chứng khoán được định giá bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền
hoặc phương pháp tương đối. Tuy nhiên, với tình hình biến động của thị trường hiện nay thì
các phương pháp này tỏ ra kém hiệu quả và không thể dự báo được những chuyển biến của
thị trường để nhà đầu tư có thể thực hiện quyết định kinh doanh một cách linh động hơn.
Do vậy, việc nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại vào TTCKVN
trong giai đoạn hiện nay là một việc hết sức quan trọng và cấp thiết. Hơn nữa, đã có nhiều
nghiên cứu trên thế giới trong việc ứng dụng các lý thuyết đầu tư tài chính vào thị trường
chứng khoán, đặc biệt là các nghiên cứu thực nghiệm trên các thị trường chứng khoán ở
các nước mới nổi đã cho những kết quả có ý nghĩa vô cùng thiết thực. Điều đó càng khẳng
định thêm tính đúng đắn và tính thực nghiệm của các mô hình. Thấy được sự cần thiết của
việc vận dụng các mô hình để dự đoán thị trường chứng khoán, chúng tôi quyết định nghiên
cứu đề tài “Ứng dụng mô hình CAPM và Fama French dự báo tỷ suất sinh lợi để kinh
doanh chứng khoán trên thị trường Việt Nam”.

2. Mục đích nghiên cứu
Hiện nay ở Việt Nam chưa thấy ứng dụng một mô hình dự báo tỷ suất sinh lợi nào, tuy
nhiên thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay cho thấy sự cần thiết phải ứng
dụng các mô hình kinh tế - tài chính để xác định rủi ro và lợi nhuận của cổ phiếu. Đáp ứng
tiêu chí này có thể kể đến hai mô hình nổi tiếng là mô hình định giá tài sản vốn CAPM và mô
hình 3 nhân tố Fama-French. Hai mô hình trên đã được kiểm định ở một số nước trên thế giới
và ứng dụng trong kinh doanh khá thành công. Bài nghiên cứu đứng trên quan điểm của một
nhà đầu tư nhằm mục đích kiểm định khả năng ứng dụng 2 mô hình trên vào TTCKVN để
giới thiệu thêm một công cụ cho các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định kinh doanh một
cách hiệu quả nhất.

3. Nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các mô hình đầu tư tài chính hiện đại như: mô hình định giá tài
sản vốn (CAPM), mô hình ba nhân tố Fama-French cùng với các phương pháp định giá phổ
7

biến như: Phương pháp chiết khấu dòng tiền (bao gồm: mô hình hiện giá cổ tức, hiện giá
dòng tiền hoạt động, hiện giá dòng tiền vốn cổ phần) và phương pháp định giá tương đối (bao
gồm: giá trên thu nhập, giá trên dòng tiền, giá trên sổ sách, giá trên doanh thu mỗi cổ phần)

3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên thì đề tài chỉ chú trọng vào phân tích và xử lý dữ liệu
để đưa ra kết quả của các mô hình và các khuyến nghị đầu tư mà không đi sâu vào phân tích
thị trường để đưa ra quyết định. Mọi quyết định đều phụ thuộc và kỹ năng và sở thích của
mỗi nhà đầu tư
Nghiên cứu dựa trên mẫu dữ liệu quan sát là những dữ liệu của các công ty niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1/2007 đến tháng tháng 12/2010
bao gồm: giá đóng cửa trung bình hằng tháng, chỉ số VN-Index, lãi suất phi rủi ro và các dữ
liệu cần thiết khác.

4 Phƣơng pháp nghiên cứu
Bằng việc nghiên cứu các lý thuyết đầu tư tài chính hiểu rõ bản chất và điều kiện áp dụng
kết hợp với nghiên cứu các kết quả thực nghiệm từ các mô hình thế giới, đặc biệt đó là các
kết quả thực nghiệm trên các thị trường chứng khoán ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Úc,
Nhật bản, New Zealand và Pháp cùng với các quốc gia ở thị trường mới nổi như Ấn độ, Hàn
quốc, Thái lan và Đài loan để so sánh và đối chiếu khi áp dụng vào thị trường chứng khoán
Việt nam song song với tìm ra các nhược điểm mà các phương pháp hiện đang áp dụng để
kinh doanh chứng khoán tại Việt nam.

5. Đóng góp và hƣớng phát triển của đề tài.
Trong bài nghiên cứu này chúng cung cấp cho các nhà đầu tư một công cụ phân tích và
dự báo tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và danh mục đầu tư. Điều này sẽ có ích cho các nhà
đầu tư trong việc quyết định nên nắm giữ những danh mục hay cổ phiếu nào, đồng thời cũng
sẽ cho chúng ta một đánh giá, kiểm định các yếu tố có ảnh hưởng đối với TTCKVN. Với đề
tài nghiên cứu này, tôi hy vọng các kết quả của nó sẽ giúp cho nhà đầu tư trong việc nhận
định rủi ro và lợi nhuận, các xu hướng biến động của thị trường, hiểu rõ bản chất của các
tỷ suất sinh lợi, giá trị thực của tài sản và hỗ trợ ra quyết đ ịnh.
Trong tương lai với khoảng thời gian dài hơn và chuỗi dữ liệu đầy đủ hơn, thiết nghĩ nên
nghiên cứu thêm những nhân tố khác để mô hình đạt sự phù hợp cao hơn. Thực tế hiện nay
đã có những mô hình 4 nhân tố và 5 nhân tố.
8

6. Những từ viết tắt
 CAPM: Mô hình định giá tài sản vốn CAPM
 FF3FM: Mô hình Fama French ba nhân tố (Fama French 3 Factors Model)
 TSSL: Tỷ suất sinh lợi
 CTCP: Công ty cổ phần
 TTCK VN: Thị trường chứng khoán Việt Nam
9

Chƣơng 1: Mô hình CAPM, Fama French và một số mô hình phổ biến khác để thực
hiện quyết định đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam
1.1 Giá chứng khoán và các yếu tố ảnh hƣởng đến giá chứng khoán
1.1.1 Vai trò của việc định giá trong việc đƣa ra một quyết định đầu tƣ
Việc định giá chứng khoán có vai trò vô cùng to lớn trong việc tạo ra một thị trường công
bằng và hoạt động trôi chảy. Thật vậy, khi định giá một cách chính xác và giá chứng khoán
được công bố thông tin một cách công khai ra thị trường điều này tạo ra một thị trường công
bằng cho những nhà đầu tư với nhau cùng có cơ hội như nhau do cùng nhận được lượng
thông tin như nhau, sự công bằng giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp người bán và người mua
đều mua và bán được chứng khoán của mình với mức giá cả hai bên chấp nhận và không ai
chịu thiệt cả. Và từ sự công bằng của thị trường đó sẽ tạo nên sự trôi chảy trong hoạt động
của thị trường. Hàng hoá được mua bán công khai, đồng nghĩa với việc sự vận động của vốn
nhanh hơn, nhà đầu tư sớm đầu tư được tiền của mình vào lĩnh vực quan tâm, doanh nghiệp
sớm nhận được vốn để đầu tư vào hoạt động sản xuất. Tóm lại, việc định giá chứng khoán
cũng đã góp phần vào việc tạo nên một thị trường công bằng và có hiệu quả hơn.
Việc định giá chứng khoán cũng cân đối được lợi ích của các bên tham gia thị trường.
Những doanh nghiệp thì phát hành cổ phiếu huy động vốn muốn bán được chứng khoán với
giá càng cao càng tốt để có thể thu được lượng vốn tối đa cho doanh nghiệp mình. Những
nhà đầu tư thì hi vọng rằng sẽ mua được chứng khoán với giá có lợi nhất (thấp nhất có thể)
đồng thời có mức sinh lời cao nhất (tỉ lệ lợi tức cao nhất). Việc định giá chứng khoán đã làm
cho sự dung hoà giữa cung và cầu, làm cho người mua và người bán không ai được lợi hơn
và không ai bị thiệt hơn, tạo sự cân đối lợi ích giữa các bên tham gia thị trường.
Định giá chứng khoán giúp nhà đầu tư cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro.Thật vậy, khi
định giá chứng khoán nhà đầu tư sẽ xác định được giá trị thực của chứng khoán, tỷ suất sinh
lợi hiện tại và dự đoán được tỷ suất sinh lợi tương lai cùng với những rủi ro tương ứng cho
mỗi cổ phiếu đó. Do đó nhà đầu tư có thể chọn những cổ phiếu phù hợp với khẩu vị rủi ro
mình. Không những thế, định giá chứng khoán cũng xác định xu hướng của chứng khoán đó
trên thị trường từ ban đầu để nhà đầu tư có thể nhận được những khoản lợi nhuận lớn tại thời
điểm bắt đầu trước khi giá nhanh chóng leo thang.
Định giá chứng khoán giúp nhà đầu tư tạo cho mình một danh mục các chứng khoán
nhằm giảm rủi ro, tối đa hóa lợi nhuận tiềm năng. Ngoài ra nó cũng có thể giúp nhà đầu tư
đảm bảo rằng danh mục đầu tư chứng khoán đa dạng và luôn luôn tuân theo chiến lược kinh
doanh trên cơ sở cân nhắc mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi tương ứng mà danh mục đó mang
đến.
10

1.1.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến giá chứng khoán
Trong thị trường chứng khoán nói chung có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng
khoán
1
. Ta có thể chia thành 3 nhóm yếu tố chính, đó là: nhóm yếu tố kinh tế, nhóm yếu tố
phi kinh tế, và nhóm yếu tố thị trường.

1.1.2.1 Nhóm yếu tố kinh tế
Sự tiến triển của nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới: Thông
thường, giá chứng khoán có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có xu hướng giảm
khi nền kinh tế yếu đi). Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn lực
tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như vậy,
nhiều người sẽ đầu tư vào chứng khoán.
Lạm phát: Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ
không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp bị hạ thấp
khiến giá chứng khoán giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng chứng khoán sẽ
tăng giá và ngược lại.
Tình hình biến động của lãi suất: Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với doanh
nghiệp. Chi phí này được chuyển cho các cổ đông vì nó sẽ hạ thấp lợi nhuận mà doanh
nghiệp dùng để thanh toán cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ chứng khoán thường sẽ tỏ
ra không mấy cạnh tranh đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm
nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao. Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn
hại cho triển vọng phát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh nghiệp giữ lại tiền
nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, lãi suất
tăng sẽ dẫn đến giá chứng khoán giảm. Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho doanh
nghiệp vì chi phí vay giảm và giá chứng khoán thường tăng lên.
Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng
tương đương và trái ngược của giá chứng khoán. Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ
đạo trong lạm phát, nó mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của thị trường chứng
khoán. Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá chứng
khoán tăng cao hơn. Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, giá chứng khoán sẽ giảm.
Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào thị
trường chứng khoán thường mang lại nhiều lãi. Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là
do nền kinh tế tăng trưởng.

1
Phụ lục 1
11

Chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: Nếu khoản thuế đánh
vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm xuống, từ
đó làm cho giá chứng khoán giảm.

1.1.2.2 Nhóm yếu tố phi kinh tế
Nhóm nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tiếp theo là những yếu tố phi kinh tế, bao gồm sự thay
đổi về các điều kiện chính trị, xã hội, quân sự ví dụ chiến tranh hoặc thay đổi cơ cấu Chính
phủ, thay đổi về thời tiết và những nhân tố tự nhiên khác, và thay đổi về điều kiện văn hoá,
như tiến bộ về công nghệ. Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực tới tình
hình kinh doanh của doanh nghiệp thì giá chứng khoán của doanh nghiệp sẽ tăng lên.

1.1.2.3 Nhóm yếu tố thị trƣờng
Những yếu tố nội tại gắn liền với bản thân doanh nghiệp, cụ thể: yếu tố về kỹ thuật sản
xuất như: trang thiết bị máy móc, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển; yếu tố về thị
trường tiêu thụ như: khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị trường; ngoài ra còn có yếu tố về
con người như: chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân; tình trạng tài
chính của doanh nghiệp. Khi có tín hiệu rằng doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nghiên cứu
hay có một dự án đầu tư mới thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ tăng lên và hấp dẫn nhà
đầu tư hơn do khả năng sinh lời trong tương lai của doanh nghiệp là lớn hơn.
Tâm lý nhà đầu tư: Theo thuyết lòng tin về giá chứng khoán, yếu tố căn bản trong biến
động của giá chứng khoán là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của
giá chứng khoán, của lợi nhuận doanh nghiệp và của lợi tức cổ phần. Vào bất cứ thời điểm
nào, trên thị trường cũng xuất hiện 2 nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi
quan. Khi số tiền do người lạc quan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số
tiền bán ra của người bi quan nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá. Tỷ lệ giữa 2 nhóm người này sẽ
thay đổi tuỳ theo cách diễn giải của họ về thông tin, cả về chính trị lẫn kinh doanh, cũng như
những đánh giá của họ về nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Chính
vì thế, cùng một loại chứng khoán nhưng nhóm người lạc quan sẽ có quyết định đầu tư khác
với nhóm người bi quan. Điều này cũng lý giải tại sao trên thị trường chứng khoán lúc nào
cũng có người mua, người bán. Nếu như trên thị trường nhóm người bi quan nhiều hơn nhóm
người lạc quan thì lượng chứng khoán bán ra sẽ nhiều hơn, gây ra hiện tượng cung nhiều cầu
ít, từ đó đẩy giá chứng khoán sụt giảm. Ngược lại, nếu nhóm người lạc quan đông hơn, các
nhà đầu tư tỏ ra tin tưởng vào triển vọng tương lai của thị trường thì giá chứng khoán sẽ tăng.
12

Ngoài ra, các hành động lũng đoạn, tung tin đồn, các biện pháp kỹ thuật của nhà điều
hành thị trường, ý kiến của các nhà phân tích cũng có thể khiến thị giá chứng khoán biến
động. Tùy theo mục đích mà họ có thể đầy giá chứng khoán lên cao hoặc thấp.

1.2 Một số mô hình định giá chứng khoán phổ biến
1.2.1. Mô hình định giá tài sản vốn CAPM
1.2.1.1. Các giả định của mô hình CAPM
Mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model - CAPM) là mô hình mô tả mối
quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi. Trong mô hình này, tỷ suất sinh lợi mong
đợi bằng tỷ suất sinh lợi phi rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở
rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó.
Mô hình CAPM do ba nhà kinh tế William Sharpe, John Lintnet và Jack Treynor phát
triển từ những năm 1960 và đã có được nhiều ứng dụng từ đó đến nay. Mặc dù cũng có một
số mô hình khác ra đời để giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là mô hình
đơn giản về mặt khái niệm và có khả năng ứng dụng sát với thực tiễn. Cũng như bất kỳ mô
hình nào khác, mô hình này cũng chỉ là một sự đơn giản hoá hiện thực nhưng nó vẫn cho
phép chúng ta rút ra những ứng dụng hữu ích.
Vì lý thuyết thị trường vốn xây dựng trên lý thuyết danh mục của Markowitz cho nên nó
sẽ cần các giả định tương tự, ngoài ra còn thêm một số giả định sau:
(1) Tất cả các nhà đầu tư đều là các nhà đầu tư hiệu quả Markowitz, họ mong muốn nắm
giữ danh mục nằm trên đường biên hiệu quả. Vì vậy vị trí chính xác trên đường biên
hiệu quả và danh mục cụ thể được chọn sẽ phụ thuộc vào hàm hữu dụng rủi ro – tỷ
suất sinh lợi của mỗi nhà đầu tư.
(2) Các nhà đầu tư có thể đi vay và cho vay bất kỳ số tiền nào ở lãi suất phi rủi ro - r
f
.
(3) Tất cả các nhà đầu tư đều có mong đợi thuần nhất: có nghĩa là, họ có ước lượng các
phân phối xác suất tỷ suất sinh lợi trong tương lai giống hệt nhau. Vả lại, giả định này
có thể bỏ qua, lúc đó các khác biệt trong các giá trị mong đợi sẽ không lớn nên các
ảnh hưởng của chúng sẽ không đáng kể.
(4) Tất cả các nhà đầu tư có một phạm vi thời gian trong một kỳ như nhau chẳng hạn như
một tháng, sáu tháng hay một năm. Mô hình này sẽ được xây dựng cho một khoảng
thời gian giả định và kết quả của nó cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi việc giả định khác đi.
Sự khác nhau trong phạm vi thời gian sẽ đòi hỏi các nhà đầu tư xác định ra các thước
đo rủi ro và các tài sản phi rủi ro phù hợp với các phạm vi thời gian đầu tư của họ.
13

(5) Tất cả các khoản đầu tư có thể phân chia tùy ý, có nghĩa là các nhà đầu tư có thể mua
và bán các tỷ lệ phần trăm của bất kỳ tài sản hay danh mục nào. Giả thuyết này cho
phép chúng ta thảo luận các kết hợp đầu tư thành các đường cong liên tục. Thay đổi
giả thuyết này sẽ có một chút ảnh hưởng đến lý thuyết.
(6) Không có thuế và chi phí giao dịch liên quan tới việc mua và bán các tài sản.
(7) Không có lạm phát hay bất kỳ thay đổi nào trong lãi suất, hoặc lạm phát được phản
ánh một cách đầy đủ. Đây là một giả định ban đầu hợp lý và có thể thay đổi được.
(8) Các thị trường vốn ở trạng thái cân bằng. Điều này có nghĩa là chúng ta bắt đầu với
tất cả các tài sản được định giá đúng với mức độ rủi ro của chúng.

1.2.1.2. Mô hình CAPM với nhân tố phần bù rủi ro thị trƣờng
Mô hình này phát biểu rằng lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận
không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống
của chứng khoán đó. Rủi ro không mang tính hệ thống không được xem xét trong mô hình
này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ loại rủi ro này.
Trong mô hình CAPM, mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro được diễn tả bởi công thức
sau:
iMfMfi
RRERRE

])([)( 

Trong đó:
 E(R
i
) là suất sinh lợi kỳ vọng của một danh mục tài sản i bất kỳ
 R
f
là lợi nhuận không rủi ro
 E(R
m
) là lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường

iM

là hệ số beta thị trường của danh mục tài sản i.
Về mặt hình học, mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng chứng khoán và hệ số rủi ro beta
được biểu diễn bằng đường thẳng có tên gọi là đường thị trường chứng khoán SML (security
market line).
Hình 1.2.1.2: Mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và β

14

Nhìn vào hình vẽ ta thấy rằng: Khi hệ số beta càng cao thì suất sinh lời của chứng khoán
càng cao và vì vậy, cũng mang nhiều rủi ro hơn. Beta bằng 0: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng
khoán có beta bằng 0 chính là lợi nhuận không rủi ro, R
f
. Beta bằng 1: Lợi nhuận kỳ vọng
của chứng khoán có beta bằng 1 chính là lợi nhuận thị trường, E(R
m
). Quan hệ giữa lợi nhuận
và hệ số rủi ro beta của chứng khoán là quan hệ tuyến tính được diễn tả bởi đường thẳng
SML có hệ số góc là E(R
m
) - R
f
.

1.2.1.3. Mở rộng các giả định của CAPM
 Sự khác biệt giữa lại suất đi vay và lại suất cho vay
Một nhà đầu tư có thể cho vay số tiền không giới hạn ở lãi suất phi rủi ro, nhưng cũng có
người nghi ngờ khả năng đi vay một số tiền không giới hạn ở lãi suất phi rủi ro vì hầu hết các
nhà đầu tư phải trả một phần bù liên quan tới lãi suất cơ bản khi vay tiền.
 Nhà đầu tư có thể cho vay với lãi suất phi rủi ro r
f
và đầu tư số tiền này vào danh
mục F trên đường hiệu quả. Nhưng không thể mở rộng đường này về phía phải
nếu chúng ta không thể đi vay với lãi suất phi rủi ro để đầu tư thêm vào danh mục
rủi ro F.
 Nhà đầu tư có thể đi vay với lãi suất R
b
, lúc đó điểm tiếp xúc của đường thẳng
xuất phát từ đường hiệu quả xảy ra tại điểm K. điểm này cho ta thấy có thể vay
với lãi suất R
b
và dùng tiền này đầu tư vào danh mục K để mở rộng đường CML.
Từ đây ta có thể biết được rằng, chúng ta có thể đi vay hay cho vay nhưng danh mục đầu
tư khi chúng ta đi vay không có lợi nhuận nhiều như khi giả định là chúng ta có thể vay với
lãi suất phi rủi ro r
f,
trong trường hợp này ta phải trả lãi vay ở tỷ lệ cao hõn r
f
nên thu nhập
thuần của chúng ta sẽ ít hơn trường hợp chúng ta chỉ phải trả lãi vay là r
f.

 CAPM với trƣờng hợp có chi phí giao dịch
Một giả định cơ sở là không có chi phí giao dịch, do vậy cá nhà đầu tư sẽ mua và bán các
chứng khoán bị định giá sai cho đến khi nào họ đạt đến các điểm nằm trên đường SML.
Với sự hiện diện của chi phí giao dịch, các nhà đầu tư sẽ không điều chỉnh tất cả các sai
lệch giá cả này vì trong một số trường hợp chi phí mua và bán các chứng khoán bị định giá
sai sẽ bù trừ tất cả tỷ suất sinh lợi vượt trội tiềm năng.
Như vậy các chứng khoán sẽ nằm rất gần với đường SML nhưng không phải nằm đúng
trên đó, và đường SML là một dải tập hợp các chứng khoán hơn là một đường thẳng đơn
nhất.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét