Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Quyết định 101/2009/QĐ-UBND ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa do Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành

2. Cơ quan thực hiên chức năng quản lý nhà nước về đất đai và cơ quan tổ chức, cá nhân có
liên quan đến việc quản lý đất đai.
Điều 3. Chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước
ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp
luật về đất đai nếu thực hiện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức
thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án đã được xét duyệt thì được ngân
sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Mức
trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
2. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước
ngoài được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất,
cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư theo phương án đã phê duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự án.
Điều 4. Tái định cư
Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo Quy định này mà không có chỗ ở nào khác
thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
1. Bồi thường bằng nhà ở;
2. Bồi thường bằng giao đất ở mới;
3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ
Bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo Quy định này như
sau:
1. Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi.
2. Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị
Nhà nước thu hồi.
3. Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở.
4. Hỗ trợ ổn định cuộc sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với
người bị thu hồi đất nông nghiệp.
5. Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn ao được công nhận đất ở.
6. Hỗ trợ khác.
Chương II.
BỒI THƯỜNG ĐẤT
Điều 6. Nguyên tắc bồi thường
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện quy định tại Điều 8 Quy định này
thì được bồi thường.
2. Người được sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm
đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp;
3. Người được sử dụng đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) theo quy định của pháp luật
nhưng tự ý sử dụng làm đất ở thì chỉ được bồi thường theo đất phi nông nghiệp (không phải là
đất ở).
Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không
có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng nhà chung cư hoặc bằng tiền. Trường hợp bồi
thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà chung cư, nếu có chênh lệch về giá trị, thì phần
chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền như sau:
- Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở chung cư
thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch;
- Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền mua nhà ở chung
cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 44
Quy định này.
4. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện
nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản
tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách
nhà nước. Nghĩa vụ tài chính bao gồm: tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do
Nhà nước cho thuê, thuế chuyển quyền sử dụng đất. thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
của người có đất bị thu hồi (nếu có), tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi
thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản
lý, sử dụng đất đai. Nghĩa vụ tài chính phải trừ trên đây được xác định cho thửa đất bị thu hồi.
Trường hợp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp nêu trên lớn hơn tiền bồi thường
đất thì số tiền được trừ tối đa bằng số tiền bồi thường đất.
Điều 7. Những trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường
1. Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 8 của Quy định này.
2. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có
thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; được Nhà
nước cho thuê đất, thu tiền thuê đất hàng năm; đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước.
3. Đất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2,3,4,5,6,7,8,9,10,11 và
12 Điều 38 Luật Đất đai, gồm:
a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có
thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê
đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn
nhu cầu sử dụng đất;
b) Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
c) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
d) Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
đ) Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:
- Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng
đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
h) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
i) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
k) Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
l) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;
m) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng
cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không
được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;
n) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong
thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với
tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.
Việc xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất đối với đất bị thu hồi quy
định tại khoản này được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 34 và Điều 35 Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
4. Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng.
5. Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
6. Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện quy định tại Điều 8 Quy định này
nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.
7. Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự
nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng
các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao và các công trình công cộng
khác không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; đất được Nhà nước
giao để trồng rừng nhưng không trồng rừng.
8. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các
hành vi vi phạm sau đây:
a) Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công
khai;
b) Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và
công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;
c) Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;
d) Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;
đ) Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất
chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng
đất vẫn cố tình vi phạm.
9. Đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2004 trở về sau.
Điều 8. Điều kiện để được bồi thường thiệt hại về đất
Người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi thường:
1. Có một trong các loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở theo quy định của
pháp luật về đất đai và nhà ở sau đây:
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh cấp hoặc do Ủy ban nhân dân
thành phố, thị xã, huyện cấp theo quy định tại Nghị định số 17/2006/NĐ-CP của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định
số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hoặc do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp theo ủy quyền của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh;
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Chủ tịch Ủy ban hành chính
tỉnh hoặc tương đương cấp;
- Giấy chứng nhận chuyển quyền sở hữu nhà ở và đăng ký nhà đất.
- Sổ chứng nhận sở hữu nhà.
2. Có một trong các loại quyết định giao đất sau đây:
- Quyết định giao đất, cấp đất của cơ quan có thẩm quyền phù hợp với quy định của pháp luật
về đất đai tại thời điểm quyết định.
- Quyết định chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng nhà ở;
- Quyết định bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân tỉnh;
- Quyết định cho sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân tỉnh, kèm theo bản vẽ
hiện trạng nhà và đất, biên bản bàn giao nhà, đất do cơ quan nhà đất xác lập;
- Quyết định bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất theo giá thị trường của Ủy ban nhân dân
tỉnh;
- Văn bản do Ủy ban nhân dân thành phố, huyện, thị xã bán theo giá thị trường căn cứ Quyết
định của Ủy ban nhân dân tỉnh; nhà đất bán đấu giá phải có văn bản đấu giá hợp lệ đúng theo
quy định của pháp luật.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) xác nhận không có tranh chấp mà có một trong
các loại giấy tờ sau đây:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan
có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
(bao gồm cả Sổ chứng nhận sở hữu do các huyện, thị cấp trước đây), hoặc đất đang sử dụng
và có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính theo quy định của nhà nước.
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy
tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất, gồm các loại:
- Giấy tờ thừa kế theo quy định của pháp luật;
- Giấy tờ tặng cho nhà đất có công chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời
điểm tặng, cho;
- Giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất của cơ quan, tổ chức giao nhà và có xác nhận
của Ủy ban nhân cấp xã.
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15
tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15
tháng 10 năm 1993, gồm các loại:
- Giấy tờ mua bán đất trước khi có Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Hội
đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất
trong cả nước, được chính quyền cấp xã xác nhận đất đó có nguồn gốc hợp pháp;
- Văn tự bán nhà có đóng dấu thu thuế trước bạ và Sở Xây dựng đóng dấu chứng nhận đã
đăng ký chuyển quyền sở hữu;
- Giấy đăng ký trước bạ;
- Giấy mua bán, sang nhượng đất, nhà ở được cơ quan công chứng hoặc chính quyền xã,
phường xác nhận tại thời điểm mua bán chuyển nhượng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993,
không quy định bắt buộc theo mẫu nào.
đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp
luật, gồm:
- Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở thuộc sở hữu nhà nước trước
ngày 05 tháng 7 năm 1994;
- Giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng
7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.
Nhà ở có giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở phải là nhà ở thuộc
sở hữu nhà nước. Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước gồm: nhà ở tiếp quản từ chế độ cũ, nhà vô
chủ, nhà vắng chủ đã được xác lập sở hữu nhà nước; nhà ở tạo lập do ngân sách nhà nước
đầu tư; nhà ở được tạo lập bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; nhà ở được tạo lập
bằng tiền theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm; các nhà ở khác thuộc sở hữu
nhà nước.
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất (Danh mục
các loại giấy tờ theo phụ lục 1 kèm theo quy định này).
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2,
3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu
hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay
được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp
sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là
người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 nhưng không có
Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này và được
Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp.
7. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân,
quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
8. Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất đã sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10
năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một
trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này và được Ủy ban
nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp.
9. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý
trong quá trình thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhưng trong thực tế Nhà nước
chưa quản lý và bố trí sử dụng, hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.
10. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ
đường, nhà thờ họ được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận là đất sử dụng
chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.
11. Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
a) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
b) Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả cho việc chuyển
nhượng không có nguồn từ ngân sách nhà nước;
c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.
12. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người đang
sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì việc bồi
thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì người đang sử dụng đất được
bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao.
b) Trường hợp sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước
ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như
sau:
- Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi
nông nghiệp không phải là đất ở; đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất quy định tại
Quyết định số 30/2005/QĐ-UBND ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh;
- Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất quy
định tại tại Quyết định số 30/2005/QĐ-UBND ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân
tỉnh nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều
8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP.
Điều 9. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại
1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi
được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm theo quy định
của Chính phủ. Không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng đất sau khi
thu hồi.
2. Trường hợp thực hiện bồi thường chậm được quy định như sau:
a) Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời
điểm bồi thường do Ủy ban nhân dân tỉnh công bố hàng năm cao hơn giá đất tại thời điểm có
quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bồi thường theo giá đất tại thời
điểm trả tiền bồi thường. Nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có
quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
b) Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp
hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bồi
thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá
đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bồi thường
theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.
3. Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế hợp lý mà người sử dụng đất đã đầu tư
vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất
còn chưa thu hồi được. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại phải có đầy đủ hồ sơ, chứng
từ, thực tế chứng minh. Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí hợp lý
tính thành tiền đầu tư vào đất trừ đi số tiền tương ứng với thời gian đã sử dụng đất. Các khoản
chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:
a) Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền
thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp tiền);
b) Các khoản chí phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được
giao, được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp
hoặc đất ở mà đã được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp hoặc đất ở thì không được bồi
thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất;
c) Các khoản chi phí khác có liên quan.
4. Trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ chứng từ làm cơ sở tính hỗ trợ thì
người bị thu hồi đất lập hồ sơ báo cáo về chi phí đã đầu tư, thời gian đầu tư, thời gian sử dụng
còn lại gửi các cơ quan chuyên môn liên quan để xem xét thẩm định. Chi phí đầu tư vào đất
còn lại được xác định bằng chất lượng còn lại của công trình nhân với chi phí xây dựng mới ở
mức thấp nhất của công trình có tính năng kỹ thuật tương đương trên địa bàn.
Điều 10. Diện tích đất để tính bồi thường
1. Diện tích đất để tính bồi thường là diện tích đất thu hồi, được xác định trên thực địa - thực tế
đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất, đủ điều kiện để được bồi thường theo quy
định tại Điều 8 Quy định này. Trường hợp đất có các loại giấy tờ theo khoản 1, 2, 3, 4 và 7 Điều
8 Quy định này nhưng trên giấy tờ đó không xác định rõ hoặc không đúng với thực tế sử dụng
đất thì tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư căn cứ hồ sơ
lưu trữ tại các cơ quan chức năng liên quan, hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã theo
Điều 11 Quy định này (trường hợp không có hồ sơ lưu trữ để xác minh) để xác định diện tích,
loại đất, thời điểm sử dụng đất được bồi thường theo quy định.
2. Trường hợp phải áp dụng hạn mức đất để xác định diện tích đất được bồi thường đất nông
nghiệp theo khoản 5 Điều 12, hoặc đất ở có vườn ao theo khoản 4 Điều 15 Quy định này thì áp
dụng hạn mức quy định theo Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc ban hành Quy định hạn mức giao đất ở, đất nông nghiệp;
hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn ao cho hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
3. Đối với đất bị thu hồi có nhà ở tuy không có các loại giấy tờ theo quy định nhưng thuộc
khoản 6, khoản 8 Điều 8 Quy định này và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất
quy định tại khoản 8 Điều 7 Quy định này thì người đang sử dụng đất được bồi thường đất ở
theo diện tích đất thực tế bị thu hồi, nhưng diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức
giao đất ở quy định tại Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Phần diện tích bị thu hồi vượt hạn mức giao đất ở và phần diện tích
vườn ao nhưng không được công nhận đất ở được bồi thường theo đất vườn ao khoản 3 theo
Điều 12 Quy định này.
4. Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về
quyền sử dụng đất thì được bồi thường theo quy định sau:
a) Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi
thường theo diện tích đo đạc thực tế.
b) Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do
việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất
không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh
chấp với những người sử dụng đất liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo
đạc thực tế.
c) Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất,
được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc
nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh
chấp thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
d) Không bồi thường về đất đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ
về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có.
Điều 11. Xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
1. Trường hợp người bị thu hồi đất không có một trong những loại giấy tờ thuộc khoản 6, khoản
8 Điều 8 của Quy định này và không có giấy tờ chứng minh thời điểm sử dụng đất theo khoản 2
Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất
thì phải làm bản kê khai theo mẫu (Phụ lục 4) và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị
thu hồi xác nhận (Phụ lục 2). Trước khi xác nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi
phải thẩm tra, xác minh và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và trụ sở khu
dân cư nơi có đất bị thu hồi để nhân dân biết và tham gia ý kiến. Sau 15 ngày kể từ ngày niêm
yết, nếu không có khiếu nại, tranh chấp hoặc ý kiến khác thì Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận
và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã xác nhận. Nội dung xác nhận phải
ghi rõ: nguồn gốc đất; tình trạng tranh chấp, lấn chiếm ranh giới, mốc giới, khuôn viên đất; thời
điểm sử dụng đất và diện tích, mục đích sử dụng đất tương ứng với từng thời điểm.
2. Thời điểm sử dụng đất được xác định căn cứ vào một trong các loại giấy tờ sau:
a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc
quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;
c) Quyết định hoặc bản án của Toà án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành
bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;
d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu
lực thi hành; biên bản hoà giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại
diện Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi
có đất;
đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan
đến việc sử dụng đất;
e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng
minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh có ghi địa chỉ của nhà ở liên quan đến thửa đất;
g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao
quản lý, sử dụng đất;
h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan (không cần có chứng nhận của cơ
quan, tổ chức);
i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai
đăng ký.
3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều
này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy
tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.
Điều 12. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Đất nông nghiệp được bồi thường, hỗ trợ theo Điều này bao gồm:
a) Đất trồng cây hàng năm, gồm: đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây
hàng năm khác;
b) Đất trồng cây lâu năm;
c) Đất lâm nghiệp, gồm: đất rừng sản xuất là rừng trồng;
d) Đất nuôi trồng thủy sản;
đ) Đất làm muối;
e) Đất nông nghiệp khác, là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà
khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây
dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho
phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, thủy sản,
xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để
chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có
cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá
đất có cùng mục đích sử dụng.
3. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là
đất ở:
3.1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu
dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng
lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông
thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ
bằng 60% giá đất ở của thửa đất đó.
Diện tích được tính hỗ trợ bằng tiền đối với đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong
khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở tại
địa phương nhưng tổng diện tích được hỗ trợ không vượt quá diện tích đất bị thu hồi; Diện tích
được tính hỗ trợ đối với đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ hoặc dọc kênh
mương và dọc tuyến đường giao thông bằng hai (02) lần hạn mức giao đất ở tại địa phương
nhưng tổng diện tích được hỗ trợ không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
3.2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong
khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới
phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn
được hỗ trợ bằng 30% - 50% giá đất ở trung bình tại khu vực có đất thu hồi theo mức giá quy
định trong Bảng giá đất của địa phương (giá đất quy định tại Điểm 1 khoản 1 Điều này). Giá đất
ở trung bình là giá đất ở bình quân của các thửa đất ở có giá cao nhất và thấp nhất của khu
vực có đất thu hồi được hỗ trợ.
Mức hỗ trợ và diện tích đất để tính hỗ trợ cụ thể tại các địa bàn như sau:
a) Mức hỗ trợ:
Loại đất
Thành phố Nha
Trang (xã,
phường)
Thị xã Cam Ranh
(xã, phường)
Các huyện còn lại
(thị trấn, xã)
Đất trồng cây lâu năm 50% giá đất ở 50% giá đất ở 50% giá đất ở
Đất trồng cây hàng năm 40% giá đất ở 40% giá đất ở 40% giá đất ở
Đất nuôi trồng thủy sản, đất làm
muối, đất rừng sản xuất và đất nông
nghiệp khác
30% giá đất ở 40% giá đất ở 40% giá đất ở
b) Trường hợp thửa đất nông nghiệp bị thu hồi gồm nhiều loại đất khác nhau thì tổng diện tích
được hỗ trợ cho các loại đất không được vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định trên (năm
lần hoặc hai lần); diện tích từng loại đất nông nghiệp để hỗ trợ được tính theo tỷ lệ tương ứng
của từng loại đất nông nghiệp bị thu hồi.
c) Trường hợp trong cùng một dự án, các thửa đất thuộc phạm vi được hỗ trợ theo quy định tại
điểm 3.2 khoản 3 Điều này, nằm giáp ranh ở hai địa bàn hành chính (giữa thị trấn với xã hoặc
giữa phường với xã, ) mà giá đất hỗ trợ xác định theo tiêu chí trên có các mức giá khác nhau
thì các thửa đất thuộc phạm vi hỗ trợ trong cùng dự án đó được áp dụng theo mức giá của
thửa đất có giá hỗ trợ cao nhất.
Hạn mức giao đất ở tại địa phương được áp dụng theo quy định tại Quyết định số 30/2005/QĐ-
UBND ngày 31 tháng 3 năm 2005, về việc ban hành Quy định hạn mức giao đất ở, đất nông
nghiệp; hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn ao cho hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và Quyết định số 76/2007/QĐ-UBND ngày 19 tháng 11
năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc bổ sung một số điều của Quy định hạn mức giao
đất ở, đất nông nghiệp, hạn mức công nhận đất ở đối với truờng hợp thửa đất có vườn ao cho
các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà ban hành kèm theo Quyết định số 30/2005/QĐ-UB
ngày 31 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà”.
Đất vườn, ao, đất nông nghiệp, Khu dân cư, thửa đất tiếp giáp ranh giới khu dân cư được giải
thích tại phụ lục 7 kèm theo quy định này.
4. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi
thường được thực hiện như sau:
a) Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ
người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
thì được bồi thường.
b) Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này
thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ)
của các nông lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất,
nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định sau:
a) Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông,
lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được
hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang
trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ
bằng 50% giá đất cộng thêm 5% giá đất cho mỗi năm còn lại theo hợp đồng giao khoán đất
nhưng không quá 100% giá đất bồi thường cho diện tích đất bị thu hồi và không vượt hạn mức
giao đất nông nghiệp theo quy định. Trường hợp do chi phí đầu tư vào đất mà làm tăng giá trị
đất và phải hỗ trợ theo giá đất mới thì tiền bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại cộng với
mức hỗ trợ trên đây không vượt quá 100% giá đất bồi thường theo mức giá mới để tính hỗ trợ.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng tại điểm a khoản này,
chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
c) Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu
hồi, không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi
phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
6. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch cho rừng sản xuất, kinh doanh và Nhà nước đã giao
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài, thì khi Nhà nước thu hồi được bồi thường
đất. Trường hợp chưa giao sử dụng ổn định, lâu dài thì khi Nhà nước thu hồi không được bồi
thường đất, được bồi thường chi phí đầu tư vào đất. Trường hợp giao đất để trồng rừng nhưng
không trồng rừng thì không được bồi thường, hỗ trợ.
Trường hợp đất lâm nghiệp đã quy hoạch cho rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất thuộc rừng
phòng hộ, rừng đặc dụng Nhà nước giao cho các nông trường, lâm trường, Ủy ban nhân dân
các cấp hoặc Ban Quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quản lý, mà các nông trường, lâm
trường, Ủy ban nhân dân các cấp hoặc Ban Quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng giao khoán
cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khoanh nuôi tái sinh rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng hoặc
trồng rừng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo hợp đồng khoán, thì khi Nhà nước thu
hồi đất, hộ gia đình, cá nhân không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường về cây
trồng trên đất. Mức bồi thường tương đương với mức phân chia sản phẩm theo quy định tại
Thông tư liên bộ số 80/2003/TTLB/BNN-BTC ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Liên bộ Bộ Tài
chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Quyết định số
178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi,
nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
7. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, mà
không có đủ điều kiện được bồi thường theo Điều 8 Quy định này, nếu trực tiếp sản xuất nông
nghiệp có nguồn sống chính là nông nghiệp thì Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã Cam Ranh
và thành phố Nha Trang (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) xem xét để giao
đất mới phù hợp điều kiện của địa phương.
8. Trường hợp thu hồi đất là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
thì không bồi thường về đất, người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được bồi thường
chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Điều 13. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) của hộ gia đình, cá
nhân
1. Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá
nhân có nguồn gốc là đất ở đã được giao sử dụng ổn định lâu dài hoặc có đủ điều kiện được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phi nông nghiệp có thời hạn do nhận chuyển nhượng,
nhận thừa kế, được tặng cho hoặc do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất được bồi thường
theo giá đất phi nông nghiệp; trường hợp sử dụng đất do Nhà nước hoặc do Ủy ban nhân dân
cấp xã cho thuê theo thẩm quyền thì khi Nhà nước thu hồi chỉ được bồi thường chi phí đầu tư
vào đất còn lại.
3. Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải đất ở) từ trước 15
tháng 10 năm 1993 nhưng không có giấy tờ theo khoản 1, 2, 3 Điều 8 và không thuộc một trong
các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 8 Điều 7 quy định này, được Ủy ban nhân dân
cấp xã xác nhận đất đó không tranh chấp thì người đang sử dụng đất được bồi thường đối với
diện tích đất thực tế đang sử dụng. Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử
dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy
định đối với đất nông nghiệp.
4. Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải đất ở) từ ngày 15
tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nhưng không có giấy tờ theo khoản
1, 2, 3 Điều 8 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 8 Điều
7 quy định này, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không tranh chấp thì người
đang sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng nhưng phải trừ
đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số
198/2004/NĐ-CP. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất sử dụng vào mục đích phi nông
nghiệp cùng loại Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích
nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất
nông nghiệp.
Điều 14. Bồi thường đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của tổ chức

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét