Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội

Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
Lời mở đầu
Hệ thống bán lẻ của thế giới văn minh hiện đại như ngày nay là kết quả
của những cuộc “cách mạng” thương mại diễn ra mạnh mẽ từ những năm
cuối của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở các nước phương tây sau đó lan tỏa ra
toàn thế giới. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa trên thế giới diễn ra
nhanh chóng làm tăng mức sống, tăng thu nhập của người tiêu dùng và là
động lực thúc đẩy nhưng nhu cầu mua sắm mới đối với sản phẩm và dịch vụ
cũng như cách thức để thỏa mãn những nhu cầu mua sắm mới đó. Đối với
nhà phân phối những xu hướng mới này thức sự là cơ hội cho thị trường mới
mở ra. Sự canh tranh mạnh mẽ của hệ thống phân phối truyền thống và hệ
thống phân phối hiện đại được thể hiện sinh động qua bức tranh da dạng qua
phương thương mại ngày nay. Nhưng trên hết và ngự trị là các hình thức
kinh doanh thương mại hiện đại. Hệ thống các chuỗi cửa hàng, các siêu thị,
các trung tâm thương mại và cả thương mại điện tử bán lẻ…
Phát trển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Hà Nội trong bối cảnh cả nước
đang thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và chủ động hội nhập với khu vực và thế giới là một đòi hỏi của
thực tế khách quan
Theo hệ thống phân loại của WTO, dịch vụ bao hàm những hoạt động
kinh tế rất rộng lớn, gồm 12 nghành với 155 phân nghành dịch vụ khác
nhau. Tuy nhiên, nếu xét về góc độ đóng góp vào GDP và tạo việc làm
thì nghành dịch vụ lại có vai trò quan trọng không chỉ ở nước ta mà còn ở
các nền kinh tế khác. Trong những năn gần đây, nghành dịch vụ phân
phối, đăc biệt là dịch vụ bán lẻ ở Hà Nội có sự tham gia của các nhà đầu
tư nước ngoài làm thay đổi diện mạo nghành kinh doanh bán lẻ hiện đại
của thành phố.
5
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
5
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
Chương1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI
1.1. Khái quát về tiến trình phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại
trên thế giới
Hệ thống mạng lưới thương mại bán lẻ của thế giới văn minh hiện đại như
ngày nay là kết quả của cuộc “cách mạng” thương mại bán lẻ diễn ra mạnh mẽ
từ những năm cuối của thế kỷ 19 đến những năm đầu của thế kỷ 20 ở các nước
phương tây sau đó lan ra toàn thế giới. quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
trên thế giới diễn ra nhanh chóng làm tăng mức sống , mức thu nhập của người
tiêu dùng và là động lực thúc đẩy những yêu cầu mua sắm mới đối với những
sản phẩm và dịch vụ cũng như những cách thức để thỏa mãn nhu cầu mua sắm
đó. Đối với những nhà phân phối, những xu hướng này thực sự là cơ hội thi
trường mới mở ra. Sự canh tranh mạnh mẽ của hệ thống phân phối truyền thống
và hiện đại được thể hiện sinh động qua các bức tranh đa dạng các phương thức
kinh doanh thương mại ngay nay. Vẫn còn đó những phương thức kinh doanh
thương mại truyền thống: các của hiệu của những người bán buôn nhỏ, những
khu chợ truyền thống, kể cả những người bán rong… Nhưng trên hết và ngự trị
là các hình thức kinh doanh thương mại hiện đại: hệ thống các siêu thị, các
trung tâm thương mại, hay cả thương mại điện tử bán lẻ…
1.1.1. Loại hình siêu thị
Kinh doanh siêu thị là một trong những loại hình kinh doanh hiện đại, ra
đời và phát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiêp hóa và đô thị
hóa ngày càng cao ở qui mô thế giới. Sự ra đời của loại hình kinh doanh này
vào năm 1930 ở Mỹ và với nhưng ưu thế nổi trội của mình đã lan rộng ra châu
âu và toàn thế giới làm nên cuộc “cách mạng” trong hệ thống phân phối bán lẻ
6
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
6
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
của thế giới hiện đại được coi là một cuộc “cách mạnh” hữu ích nhất đối với
ngướ tiêu dung trong lĩnh vực lưu thong phân phối bán lẻ ở thế kỷ 20.
 Tại Hoa kỳ, siêu thị được định nghĩa là “cửa hàng tự phục vụ tương
đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao khối lượng hàng hóa
bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực
phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa”
 Tại Anh người ta lại định nghĩa siêu thị là của hàng bách hóa bán thực
phẩm, đồ uống và các loại hàng hóa khác. Siêu thị thường đặt cạnh thành phố
hay đường cao tốc hoặc trong khu vực buôn bán có diện tích khoảng từ 4.000
đến 25.000 bộ vuông.
 Siêu thị tại Pháp được định nghĩa là “của hàng bán lẻ theo phương
thức tự phục vụ có diện tích từ 400m
2
đến 2500 m
2
chủ yếu bán hàng thực
phẩm và vật dụng gia đình”…
Tóm lại, có rất nhiêu cách định nghĩa khác nhau về siêu thị nhưng từ
những nghĩa khác nhau này người ta vẫn thấy nội hàm của siêu thị là: (1) dạng
cửa hàng bán lẻ, (2) áp dụng phương thức tự phục vụ, (3) hàng hóa tiêu dùng
phổ biến.
Ra đời năm1930, tự phục vụ - một đặc trưng cơ bản của siêu thị đã trở
thành công thức chung cho nghành công nghiệp phân phối ở các nước phát
triển. Tự phục vụ đông nghĩa với văn minh thương nghiệp hiện đại. Nó có nhiều
ưu điểm so với cách bán hàng truyền thống: doanh nghiệp có thể tiết kiệm được
chi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng (thường
chiếm tới 30% tổng chi phí kinh doanh). Tự phục vụ giúp người mua cảm thấy
thoải mái khi được tự do lựa chọn, ngắm nghía, so sánh hàng hóa mà không bị
cản trở từ phía người bán. Cũng chính vì áp dụng phương thức tự phục vụ mà
siêu thị phải niêm yết giá một cách rõ ràng để người mua đỡ tốn công mặc cả
tiết kiệm được thời gian, ngoài ra siêu thi còn có một không gian mua bán tốt
7
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
7
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
nhiêu khi người tiêu dung đi siêu thị không phải để mua hàng mà đơn thuần chỉ
là một cuộc dạo chơi và quyết định mua hàng đến ngay sau đó, hàng hóa đươc
bày bán trong siêu thị thường là hàng hóa phổ biến không phải cá biệt đặc hiệu.
Trưng bày hàng hóa là khoa học, nghệ thuật và cũng là các cách sắp sếp
trưng bày hàng hóa trong siêu thị. Với các kiểu trưng bày hàng hóa đẹp mắt,
hiệu quả và tạo cảm giác hưng khởi, thoải mái tiện nhi cho khach hành cũng là
một sáng tạo của siêu thị. Ngoài ra phương thức thanh toán ở các siêiu thị rất
thuận tiện… Tất cả những đặc điểm này đều thể hiện tính “siêu” của siêu thị.
Siêu thị nằm trong hệ thống phân phối bán lẻ, là cầu nối quan trọng
giữa sản suất và tiêu dùng. Hệ thống siêu thị giải quyết rất nhiều mâu thuẫn về
sản suất và tiêu dùng hàng hóa. Trong khi người tiêu dùng muốn có nhu cầu về
nhiều loại hàng hóa có khối lượng nhỏ thì người sản xuất muốn thu được lợi
nhuận tối ưu phải sản xuất hàng hóa với qui mô và số lượng lớn. Khi xã hội
ngày càng phát triển thu nhập dân cư tăng lên, thì nhu cầu tiêu dùng ngày càng
phát triển đa dạng và phong phú. Hệ thống siêu thị giúp giải quyết tốt sự khác
biệt giữa sản xuất với qui mô lớn và tiêu dùng hàng hóa khối lượng nhỏ đa dạng
bằng cách mua của nhiều nhà sản xuất khác nhau, bán cho nhiều người tiêu
dùng tại một địa điểm.
Siêu thị giam thiêu các tầng, nấc trung gian trong hệ thống phân phối, hình
thành nên một hệ thống phân phối vưng chắc. giup giảm thiểu thời gian chi phí
giao dịch, hạ giá thành đảm bảo kinh doanh hiệu quả.
Siêu thị có thể dẫn dắt người sản xuất hướng tới nhu cầu thi trường thúc
đẩy phương thưc kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường.
Tón lại, sự bùng nổ của các loại hình kinh doanh thương mại hiện đại ở thế
giới phương tây dựa trên nền tảng công thức tự phục vụ, loại hình kinh doanh
siêu thị. Có thể nói kinh doanh siêu thị đã làm nên một cuôc cách mạng trong
lĩnh vực phân phối bán lẻ.
8
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
8
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
1.1.2. Thương mại điện tử
Kể từ lần đầu tiên xuất hiện trang Web thương mại vào năm 1994, thương
mại điện tử đã nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới, trở thành phương tiện
truyền thông bán hàng và marketing, thậm chí làm thay đổi diện mạo của nhiều
lĩnh vực kinh doanh.
Khó có thể tìm một định nghĩa có ranh giới rõ rệt cho khái niệm này. Khái
niệm thị trường điện tử được biết đến lần đầu tiên qua các công trình của
Malone, Yates và Benjamin nhưng lại không được định nghĩa cụ thể. Các công
trình này nhắc đến sự tồn tại của các thị trường điện tử và các hệ thống điện tử
thông qua sử dụng công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Chiến dịch
quảng cáo của IBM trong năm 1998 dựa trên khái niệm "E-Commerce" được sử
dụng từ khoảng năm 1995, khái niệm mà ngày nay được xem là một lãnh vực
nằm trong kinh doanh điện tử (E-Business). Các quy trình kinh doanh điện tử
có thể được nhìn từ phương diện trong nội bộ của một doanh nghiệp (quản lý
dây chuyền cung ứng – Supply Chain Management, thu mua điện tử- E-
Procurement) hay từ phương diện ngoài doanh nghiệp (thị trường điện tử, E-
Commerce, ).Khái niệm cửa hàng trực tuyến (Onlineshop) được dùng để diễn
tả việc bán hàng thông qua trang Web trong Internet của một thương nhân.
Hiện nay định nghĩa thương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa
ra song chưa có một định nghĩa thống nhất về thương mại điện tử. Nhìn một
cách tổng quát, các định nghĩa thương mại điện tử được chia thành hai nhóm
tuỳ thuộc vào quan điểm:
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thương mại điện
tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử,
nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và
9
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
9
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các
sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái
Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến
hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và
thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền
điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi
hoạt động của Thương mại điện tử:
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật
Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại
[commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát
sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.
Các quan hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ
bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi
hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại,
uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công
trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo
hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp
tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng
đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện
tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động
mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện
tử.
10
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
10
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện
hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và
truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh".
Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt
động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng;
chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương
mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực
tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng
hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như
dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền
thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)
Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương
mại điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu
thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng
thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế.
Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng,
trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.
Dựa vào các chủ thể tham gia thương mại điện người ta chia ra thành các
loại hình ứng dụng của thương mại điệ tử bao gồm:
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp B2B.
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng B2C.
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước B2G.
- Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau C2C.
- Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với các cá nhân với nhau G2C.
B2B: là loại hình giao dịch thong qua các phương tiện điện tử giữa các
doanh nghiệp. Theo hội nghị lien hợp quốc tế về thương mại và phát triển
11
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
11
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
(UNCTAD), thương mại điện tử B2B chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại điện
tử (khoảng 90%). Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên hệ thống ứng
dụng thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng VAN; dây chuyền cung ứng
hang hóa, dịch vụ SCM, các sàn giao dịch thương mại điệ tử Các doanh
nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm mặt hàng, đặt hàng, kí kết hợp đồng và thanh
toán qua hệ thống này. Thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích cho doanh
nghiệp, đặc biệt là giảm các chi phí về thu thập thông tin, tìm hiểu thi trường,
quảng cáo tiếp thị đàm phán; tăng các cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp
B2C là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng qua các
phương tiện điện tử. Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán
hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng. Người tiêu dùng thông qua các
phương tiện điệ tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng.
Giao dịch B2C tuy chiếm ttyr trọng ít (khoảng 10%) trong thương mại điện tử
nhưng có khả năng ảnh hưởng rộng lớn. Đẻ thanm gia hình thức kinh doanh này
thông thường doanh nghiệp sẽ thiêt kế Websit, hình thành cở sở dữ liệu về hàng
hóa dịch vụ, tiến hành các qui trình tiếp thị quảng cáo, phân phối trực tiếp đén
người tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí bán hàng do không
cần phòng trưng bày , chi phí thuê nhân viên giới tiệu bán hàng, tiết kiệm được
chi phí quản lý. Người tiêu dùng cũng cảm thấy thuận tiện khi không phải đến
trực tiếp cửa hàng, có khả năng lựa chọn so sánh nhiều mặt hàng cùng lúc.
B2G: là loại hình giao dịch giữa doanh nghiệp và cơa quan nhà nước trong
đó cơ quan nhà nước đóng vai trò là khách hàng. Quá trình trao đổi giữa doanh
nghiệp và cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ
quan nhà nước cũng có thể thiết lập các Website riêng, tại đó đăng tải những
nhu cầu mua hàng của cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hóa,
dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên Website. Điều này một mặt giúp tiết kiệm
12
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
12
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
chí phí tìm nhà cung cấp. Mặt khác tăng cường tính minh bạch cho hoạt động
mua sắm công.
C2C: là loại hình giao dịch giữa cá nhân với nhau sự phát triển của thương
mại điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư
cách là người bán, người mua, người cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có thể thiết
kế một Website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng
một Website có sẵn để đấu giá mặt hàng mà mình có.
G2C: là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước và cá nhân. Đây chủ
yếu là giao dịch mang tính chất hành chính nhưng cũng có thể mang những yếu
tố của thương mại điện tử. Ví dụ: người dân đóng thuế qua mạng, trả phí đăng
kí hồ sơ trực tuyến.
Các điểm đặc biệt của thương mại điện tử so với các kênh phân phối
truyền thống là tính linh hoạt cao độ về mặt cung ứng và giảm thiểu lớn phí tổn
vận tải với các đối tác kinh doanh. Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện
thoại và đi lại để thu nhập khác hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được
giảm xuống. Mặc dầu vậy, tại các dịch vụ vật chất cụ thể, khoảng cách không
gian vẫn còn phải được khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp vận phù
hợp nhất định.
Ngày nay người ta hiểu khái niệm thương mại điện tử thông thường là tất
cả các phương pháp tiến hành kinh doanh và các quy trình quản trị thông qua
các kênh điện tử mà trong đó Internet hay ít nhất là các kỹ thuật và giao thức
được sử dụng trong Internet đóng một vai trò cơ bản và công nghệ thông tin
được coi là điều kiện tiên quyết. Một khía cạnh quan trọng khác là không còn
phải thay đổi phương tiện truyền thông, một đặc trưng cho việc tiến hành kinh
doanh truyền thống. Thêm vào đó là tác động của con người vào quy trình kinh
doanh được giảm xuống đến mức tối thiểu. Trong trường hợp này người ta gọi
13
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
13
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại Hà Nội
đó là Thẳng đến gia công (Straight Through Processing). Để làm được điều này
đòi hỏi phải tích hợp rộng lớn các các tính năng kinh doanh.
Nếu liên kết các hệ thống ứng dụng từ các lãnh vực có tính năng khác nhau
hay liên kết vượt qua ranh giới của doanh nghiệp cho mục đích này thì đây là
một lãnh vực ứng dụng truyền thống của tích hợp ứng dụng doanh nghiệp.
Quản lý nội dung doanh nghiệp (Enterprise Content Management – ECM) được
xem như là một trong những công nghệ cơ bản cho kinh doanh điện Tử.
Tóm lại, cuộc cách mạng công nghệ thông tin ngày nay vơi những thành
tựu vượt bậc trong lĩnh vực tin học, điện tử đã sản sinh ra loại hình kinh doanh
mới làm biến đổi thực sự hoạt động giao dịch truyền thống. đó chính là thương
mại điện tử. Với những “siêu thị điện tử ” hay “siêu thị ảo” này, người mua có
thể mua được bất cứ thứ gì cần thiết cho đời sống hằng ngày từ thưc phẩm,
quần áo, giày dép, dụng cụ thể thao, phương tiện đi lại, dịch vụ y tế, chăm sóc
sức khỏe cho đến những dịch vụ văn hóa tinh thần như âm nhạc sách báo, phim
ảnh… vào bất cứ thời gian nào họ muốn với giá cả hợp lý va dịch vụ hoàn
hảo… Tất cả những điều này khẳng định tính cách mạng tiên tiến cũng như ưu
thế vượt trội của thương mại điện tử bán lẻ ở qui mô thế giới. Tuy nhiên trên
thực tế, các cửa hàng bán lẻ vật chất vẫn thực hiện doanh số bán lẻ áp đảo và
chỉ dành 1 phần nhỏ bé cho hình thức bán lẻ tiên tiến này. Lý do rất đơn giản
thương mại điện tử bán lẻ vùa mới ra đời. Nếu nói thei lý thuyết vòng đời sản
phẩm thì thương mại điện tử bán lẻ mới đang ở giai đoạn hình thành ở các nước
công nghiệp phát triển, còn với các nước công nghiệp đang phát triển, nhất là
các nước kém phát triển hầu như không có thương mại điện tử bán lẻ do chưa
có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phát triển…
1.1.3. Hệ thống bán lẻ hiện đại của một số quốc gia trên thế giới
Hệ thống phân phối sản phẩm hay dịch vụ có thể là trực tiếp hay gián tiếp,
có thể đi qua những kênh phân phối dài hay ngắn như sau:
14
SV: Nguyễn Thu Trang lớp TMB
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét