Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
1.2.4. Khả năng linh hoạt
Trong các tổng đài cơ điện bất kỳ sự thay đổi nào và các dịch vụ cho thuê
bao đều đòi hỏi sự thay đổi hay thêm vào các bộ phận thiết bị mới, đòi hỏi sự thay
đổi trong cách đấu nối của các mạch điện. Chính vì vậy khả năng linh hoạt trong
công tác điều hành khai thác rất bị hạn chế. Đối với các tổng đài điện tử số công
việc thay đổi các dịch vụ cho thuê bao được thực hiện dễ dàng nhờ chức năng thao
tác lệnh, một số dịch vụ mới còn có thể thực hiện được ngay tại chính máy thuê
bao (chuyển cuộc gọi, báo thức, ). Như vậy tổng đài điện tử số có khả năng linh
hoạt cao trong quá trình điều hành khai thác.
1.2.5. Công tác bảo dưỡng
Công tác bảo dưỡng trong tổng đài cơ điện phải thực hiện bằng nhân công
cho nên mất nhiều thời gian, không có các trang thiết bị tự động phân tích các sự
cố cho hệ thống. Trong các tổng đài điện tử số công việc đo thử trạng thái làm việc
của các thiết bị bên trong cũng như các tham số của đường dây thuê bao, trung kế
được tiến hành tự động và thường kỳ. Sự cố trong hệ thốnh được phát hiện tự
động. Các kết quả đo thử, cảnh báo và được đưa ra các thiết bị hiển thị, máy in
ngay tức thời cho nên rất thuận lợi cho công tác vận hành và bảo dưỡng.
1.2.6. Các dịch vụ cho thuê bao
Các tổng đài điện tử số có thể cung cấp cho thuê bao rất nhiều dịch vụ nâng
cao một cách dễ dàng như:
Chọn số bằng mã đa tần (Tone)
Thuê bao ưu tiên
Đặt cấp dịch vụ đặt ra cho thuê bao
Chuyển cuộc gọi (Recall)
Đàm thoại hội nghị
Ngăn quấy rầy
Gọi xen
Tái lập gọi
Bắt giữ
5
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
Báo thức tự động
Đường dây nóng, ấm
Cấm gọi vào
Khoá thiết bị
Tíng cước tại nhà, lập hoá đơn tức thì,
1.2.7. Xử lý sự cố
Trong các tổng đài cơ điện công tác xử lý sự cố tốn rất nhiều nhân lực và
thời gian và cũng rất hay phải ngừng làm việc cả hệ thống. Với tổng đài điện tử số
vì có cấu trúc theo khối chức năng và các phiến mạch có chân cắm. Cho nên khi có
sự cố phải thay thế thiết bị thì công việc này được thực hiện rất đơn giản và nhanh
chóng. Hơn thế nữa các khối mạch chức năng có sự cố được phát hiện tự động cho
nên ta không phải mất thời gian tìm kiếm
1.2.8. Hệ thống điều khiển
Trong các tổng đài điện cơ các mạch điện điều khiển được cấu tạo chủ yếu
từ các rơle điện tử cho nên thời gian thực hiện một thao tác là rất lớn. Còn trong
các tổng đài địên tử số các mạch điện điều khiển đều dùng các thiết bị điện tử có
tốc độ làm việc rất cao. Cho nên ngoài công việc xử lý cuộc gọi người ta có thể
dùng khả năng của các mạch điện điều khiển để thực hiện các nhiệm vụ khác như
điều hành và bảo dưỡng tổng đài,
1.3. Ưu điểm của tổng đài điện tử số
1.3.1-Điều hành
Do tổng đài có cấu trúc dạng module ở cả hệ thống điều khiển lẫn hệ thống
kết cuối thuê bao, trung kế cho nên việc phát truyển dung lượng được thực hiện dễ
dàng. Quá trình đo thử và điều khiển được tự động hoá cho nên công việc này
được thực hiện nhanh tróng, dễ dàng.
Các tổng đài điện tử số có tính linh hoạt cao về các phương tiện điều hành,
phối hợp dễ dàng với các hệ thống báo hiệu của các hệ thống tổng đài khác. Có
khả năng thực hiện các phương thức tính cước khác nhau. Ngoài ra tổng đài điện
6
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
tử số còn làm được các công việc: công việc phiên dịch hồ sơ thuê bao, lưu trữ số
địa chỉ, cung cấp nhiều dịch vụ cho thuê bao, công việc đo thử đường dây thuê bao
được thực hiện tự động, kết quả đo thử được đưa ra trên các thiết bị giao tiếp
người-máy.
Sự phát truyển của thiết bị điện tử đã có những ưu việt đáng kể và nó đã
được áp dụng vào việc tạo ra các tổng đài điện tử số. Khi công nghệ vi mạch và
mạch điều khiển phát truyển việc thiết kế tổng đài điện tử làm việc theo nguyên lý
“Điều khiển theo chương trình ghi sẵn” SPC (Stored Program Controled) đã trở
nên thực tế và trở thành nguyên lý chủ đạo cho kỹ thuật tổng đài điện tử. Từ đó nó
đã mở ra một chuyển vọng mới cho một loạt các dịch vụ nâng cao cho thuê bao
cũng như cho công tác điều hành và bảo dưỡng của tổng đài.
7
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
II. TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ SPC
Trong phương thức chuyển mạch cơ điện các chức năng của một tổng đài
nhờ sự thao tác hay phục hồi của các rơle hay các tiếp điểm chuyển mạch kiểu
từng nấc hoặc ngang dọc đưới sự khống chế của hệ thống điều khiển. Các số liệu
tổng đài như các loại nghiệp vụ cho thuê bao, phiên dịch và tạo tuyến, các loại tín
hiệu đặc trưng được tạo ra bằng các mạch tổ hợp logic kiểu rơle đã được đấu nối
cố định. Khi cần thay đổi các số liệu để đưa ra các dịch vụ mới cho thuê bao thì ta
cần thay đổi các cấu trúc phần cứng đã được cố định của tổng đài. Những sự thay
đổi này thường phức tạp, do vậy tính linh hoạt của tổng đài hầu như không có.
Tổng đài điện tử số SPC là tổng đài làm việc theo nguyên lý điều khiển theo
chương trình ghi sẵn (Stored Program Controled-SPC) người ta dùng các bộ sử lý
giống như các máy vi tính để điều khiển hoạt động của tổng đài. Tất cả các chức
năng điều khiển được đặc trưng bởi các lệnh đã ghi sẵn trong các bộ nhớ.
Ngoài ra các số liệu trực thuộc tổng đài như số liệu về thuê bao, các bảng
phiên dịch địa chỉ, các thông tin về tạo tuyến, thống kê cũng được ghi sặn trong
các bộ nhớ số liệu. Qua mỗi bước xử lý gọi sẽ nhận được một sự lựa chọn tương
ứng với loại nghiệp vụ, số liệu đã ghi sẵn để đưa tới thiết bị sử lý nghiệp vụ đó.
Nguyên lý chuyển mạch như vậy gọi là chuyển mạch điều khiển theo chương trình
ghi sẵn SPC.
Các chương trình điều khiển và số liệu ghi trong các bộ nhớ có thể thay đổi
dễ dàng, mang tính tức thời nên công việc điều hành để đáp ứng được các nhu cầu
của thuê bao trở nên dễ dàng. Công việc đưa vào dịch vụ mới hay thay đổi các
dịch vụ cũ cũng trở nên rất tiện lợi.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của một tổng đài là cung cấp một đường truyền
dẫn tạm thời để truyền dẫn tiếng nói đồng thời theo hai hướng giữa các loại đường
dây thuê bao khác nhau cho nên ta có các loại chuyển mạch khác nhau.
8
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
2.1.Phân loại tổng đài (chuyển mạch)
Kỹ thuật chuyển mạch cũng như các hệ thống tổng đài đóng vai trò lớn
trong mạng thông tin. Các hệ thống tổng đài đã và đang thâm nhập vào
nước ta cùng với các phương pháp và kỹ thuật truyển mạch. Chúng đều đã
được nghiên cứu và khai thác các khả năng ưu việt cũng như các hạn chế,
những khuyết điểm nhằm thúc đấy và cải tạo chất lượng thông tin. Phân
loại chuyển mạch là một vấn đề cần thuết và ta có thể phân loại chúng theo
nhiều kía cạnh, phương pháp khác nhau xong ta có thể phân loại bằng một
vài cách sau:
2.1.1. Phân loại theo nguyên lý hoạt động:
Theo nguyên lý hoạt động ta phân loại chúng thành hai loại riêng biệt đó là
hệ thống tổng đài nhân công và hệ thống tổng đài tự động:
a. Chuyển mạch nhân công:
Vào những năm 1880 người ta đã chế tạo ra tổng đài nhân công. Nó là tổng
đài đầu tiên trên thế giới, trong các loại tổng đài này khi một thuê bao muốn sử
dụng điện thoại thì phải quay manhêtô để cấp tín hiệu đến tổng đài, nhân viên sẽ
hỏi xem thuê bao muốn liên lạc với ai sau đó sẽ quay manhêtô để cấp tín hiệu
chuông cho thuê bao bị gọi và nhân viên sẽ cắm jắc nối giữa thuê bao bị gọi và
thuê bao bị gọi. Khi đã kết thúc cuộc gọi thì nhân viên phải rút jắc ra để khôi phục
lại trạng thái ban đầu cho hai thuê bao. Như vậy đặc điểm trung của tổng đài nhân
công là tất cả các thao tác từ thiết lập cuộc gọi đến khi giải phóng cuộc gọi đều
phải thực hiện một cách thủ công.
Ưu điểm: Đơn giản, dễ xử dụng
Nhược điểm: Tốc độ làm việc chậm, hiệu quả thấp, không đảm bảo bí mật
thông tin, cấu tạo cồng kềnh.
b. Chuyển mạch tự động
Vào những năm 1892 các nhà chế tạo tổng đài đã cho ra đời tổng đài cơ điện
và từng bước hòan thiện chúng. Tổng đài tự động từng nấc đầu tiên điều khiển trực
tiếp đã được ra đời để khắc phục các nhược điểm và hạn chế của tổng đài nhân
công. Cùng với sự phát truyển của kỹ thuật điện tử, kỹ thuật tin học các loại tổng
đài tự động hoàn toàn đã được ra đời.
9
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
Ưu điểm: nó đã khắc phục được một số nhược điểm của tổng đài nhân công.
Nhược điểm: Cấu tạo phức tạp, giá thành cao, đòi hỏi người vận hành phải có
trình độ kỹ thuật cao.
2.1.2. Phân loại theo cấu tạo:
Chuyển mạch cơ điện: Trong tổng đài cơ điện công việc nhận và phân tích
các tín hiệu báo hiệu ở các mạch điện thuê bao và trung kế, điều khiển tạo tuyến
nối, phiên dịch và chọn số đã được thực hiện bởi các mạch điện logic được cấu
tạo bằng các rơle cơ điện, quá trình chuyển mạch sử dụng các bộ nối dây ngang
dọc.
Ưu điểm: Cấu tạo đơn giản, dễ xử dụng
nhược điểm: Cồng kềnh vì có nhiều bộ phận cơ khí, ít linh hoạt, tốc độ
chuyển mạch chậm
Chuyển mạch điện tử: Tổng đài điện tử đầu tiên ra đời năm 1965 và tiếp tục
phát truyển cho tới nay. Các khối chức năng như khối ghi-phát, điều khiển đấu nối,
phiên dịch đã được thay thế bằng các bộ vi xử lý. Trường chuyển mạch cũng
được liên tục cải tiến, nó đã cung cấp nhiều loại dịch vụ cho thuê bao.
Ưu điểm: Linh hoạt trong khai thác và điều hành, bảo dưỡng thuận tiện, tốc
độ chuyển mạch cao, xử lý sự cố đơn giản, gọn nhẹ, kinh tế
Nhược điểm: Đòi hỏi phải có nguồn cung cấp ổn định, cấu tạo phức tạp, đòi
hỏi người vận hành phải có chuyên môn cao
2.1.3. Phân loại theo tín hiệu qua trường chuyển mạch
Chuyển mạch tương tự : Trong tổng đài tương tự việc tạo tuyến nối cho các
thuê bao qua trường chuyển mạch bằng các tuyến nối vật lý. Mỗi cuộc gọi sử dụng
một tuyến nối độc lập trong suốt cả thời gian tiến hành cuộc gọi. Trường chuyển
mạch có thể được cấu tạo bởi các tiếp điểm cơ điện hoặc các tiếp điểm điện tử, tín
hiệu chạy qua trường chuyển mạch là tín hiệu tương tự.
Ưu điểm: Cấu tạo đơn giản, dễ sử dụng, dễ xửa chữa.
nhược điểm: Cồng kềnh, tốc độ chuyển mạch chậm, dịch vụ ít
Chuyển mạch số: Năm 1970 tổng đài số đầu tiên của Pháp đã ra đời. Tín
hiệu truyền tải qua trường chuyển mạch ở dạng tín hiệu số, tín hiệu này có thể là
tín hiệu tiếng nói hoặc tín hiệu số liệu. Tín hiệu tương tự ở đầu vào được biến đổi
10
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
thành tín hiệu số trước khi đưa vào trường chuyển mạch. Nhiều tín hiệu của kênh
tiếng nói được ghép kênh theo thời gian vào một đường truyền dẫn chung rồi được
đưa qua trường chuyển mạch. Để đấu nối hai thuê bao với nhau cần phải trao đổi
khe thời gian của hai mẫu tín hiệu thoại, các mẫu này có thể trên cùng một tuyến
dẫn hoặc ở trên các tuyến dẫn khác nhau và đã được biến đổi từ tín hiệu tương tự
thành tín hiệu số.
Ưu điểm: Có tính linh hoạt cao trong khai thác và điều hành, bảo dưỡng
thuận tiện, tốc độ chuyển mạch cao, xử lý sự cố đơn giản, gọn nhẹ, kinh tế
Nhược điểm: Đòi hỏi nguồn cung cấp có tính ổn định cao, cấu tạo phức
tạp, đòi hỏi chuyên môn đối với người vận hành và khai thác
2.1.4. Phân loại theo nhiệm vụ của trường chuyển mạch
Chuyển mạch nội hạt: Là chuyển mạch tạo tuyến nối cho các cặp thuê bao
trong cùng một tổng đài.
Chuyển mạch gọi ra: Là chuyển mạch để tạo tuyến nối cho các đường dây
thuê bao của tổng đài với các đường trung kế dẫn tới các tổng đài khác.
Chuyển mạch gọi vào: Là chuyển mạch để tạo tuyến nối cho các đường
trung kế từ các tổng đài khác tới các đường dây thuê bao của tổng đài.
Chuyển mạch chuyển tiếp: Là chuyển mạch để tạo các tuyến nối cho các
đường trung kế từ một tổng đài tới các đường trung kế ra của một tổng đài khác.
Các nhiệm vụ trên của mỗi tổng đài được thiết bị chuyển mạch của tổng đài
thực hiện thông qua quá trình trao đổi báo hiệu với mạng ngoài.
Tổng đài nội hạt là một tổng đài thực hiện được 3 loại chuyển mạch a,b,c nêu
trên.
Tổng đài chuyển tiếp là tổng đài chỉ thực hiện chức năng chuyển mạch thứ tư.
Tổnh đài quốc tế dùng để tạo tuyến nối cho các thuê bao trong nước ra mạng
quốc tế. Ngoài ra các tổng đài trên còn có các tổng đài cơ quan (thường được gọi
là PABX). Tổng đài PABX dùng để liên lạc điện thoại trong nội bộ vơ quan và đấu
nối các thuê bao của nó ra mạng công cộng.
11
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
2.2. Nhiệm vụ chung của một tổng đài
2.2.1. Nhiệm vụ báo hiệu
Là nhiệm vụ trao đổi báo hiệu với mạng ngoài bao gồm mạng các đường
dây thuê bao và trung kế đấu nối tới các máy thuê bao hay tổng đài khác.
2.2.2. Nhiệm vụ xử lý các thông tin báo hiệu và điều khiển các thao tác
chuyển mạch
Thiết bị điều khiển chuyển mạch nhận các thông tin báo hiệu từ các đường
dây thuê bao và trung kế, xử lý các thông tin này và đưa ra và đưa ra các thông tin
điều khiển cấp các thông tin báo hiệu tới các đường dây thuê bao hay trung kế
hoặc để điều khiển hoặc để điều khiển các thiết bị chuyển mạch và các thiết bị phụ
trợ để tạo tuyến nối.
2.2.3. Tính cước
Nhiệm vụ này là tạo ra các số liệu cước phù hợp với từng loại cuộc gọi sau
khi mỗi cuộc gọi kết thúc. Số liệu cước này sẽ được sử lý thành các bản tin cước
để phục vụ công tác thanh toán cước.
Tất nhiên các nhiệm vụ nói trên được thực hiện có hiệu quả nhờ sử dụng
máy tính điều khiển tổng đài.
2.3. Phương pháp điều khiển
2.3.1. Phương pháp điều khiển tập trung
Trong một số tổng đài SPC tất cả các thiết bị điều khiển có thể thay thế bằng
một bộ vi xử lý. Vì vậy bộ vi xử lý này phải có tốc độ đủ lớn để nó có thể xử lý
hàng trăm cuộc gọi trong một giây, ngoài ra nó phải hoàn thành các công việc điều
hành và bảo dưỡng khác. Từ đó việc tập trung hoá hoàn toàn các chức năng cũng
có nhược điểm vì phần mềm của bộ xử lý trung tâm rất cồng kềnh, phức tạp và
khó có độ tin cậy cao. Hơn nữa nó không thể đảm bảo độ an toàn cho hệ thống vì
toàn bộ hệ thống sẽ bị ảnh hưởng lớn khi bộ xử lý xảy ra sự cố. Điều hạn chế có
thể được khắc phục nhờ phương thức điều khiển phân tán.
2.3.2. Phương thức điều khiển phân tán
Trong phương thức điều khiển phân tán, một số chức năng xử lý gọi như đo
thử đường dây thuê bao, phân phối báo hiệu, điều khiển đấu nối có thể giao cho
các bộ vi xử lý ngoại vi. Mỗi bộ xử lý ngoại vi có một nhiệm vụ riêng và thường
được điều khiển bởi bộ vi xử lý trung tâm. Vì các bộ xử lý ngoại vi chỉ thực hiện
12
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
một chức năng nên các chương trình của nó đơn giản và ít chịu ảnh hưởng từ các
nhân tố khác hơn khi nó nằm ở bộ vi xử lý trung tâm. Vì vậy các bộ nhớ chương
trình có ít liên quan không cần thay đổi.
Thêm vào đó, phương thức điều khiển phân tán cũng dễ dàng tạo ra hệ
thống theo kiểu cấu trúc module, cấu trúc này tạo điều kiện dễ dàng phát truyển
dung lượng hệ thống.
2.4. Nguyên lý cấu tạo tổng đài SPC
2.4.1.Cấu tạo
Tuy có khác nhau nhiều giữa các tổng đài điện tử hiện nay đang xử dụng
trên mạng, nhưng tất cả các hệ thống đều giống nhau về cơ cấu phân bố các khối
chức năng:
Thiết bị kết cuối: bao gồm các mạch điện thuê bao, mạch điện trung kế,
thiết bị tập trung và xử lý tín hiệu
Thiết bị chuyển mạch: bao gồm các tầng chuyển mạch thời gian, không
gian hoặc kết hợp.
Thiết bị ngoại vi và kênh riêng kết hợp thành thiết bị ngoại vi kết hợp.
Thông thường thiết bị báo hệu kênh chung để xử lý báo hiệu liên đài theo mạng
báo hiệu kênh chung. Còn thiết bị báo hiệu kênh riêng để xử lý thông tin báo hiệu
kênh riêng.
Thiết bị ngoại vi chuyển mạch: các thiết bị phân phối báo hiệu, thiết bị đo
thử, thiết bị điều khiển đấu nối hợp thành thiết bị ngoại vi chuyển mạch.
Thiết bị điều khiển chung tâm: bộ xử lý trung tâm cùng với các bộ nhớ của
nó.
Thiết bị trao đổi người - máy: là các loại máy tính, máy in đề trao đổi
thông tin vào, ra và ghi lại các bản tin cần thiết phục vụ công tác điều hành và bảo
dưỡng tổng đài.
13
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
2.4.2. Nhiệm vụ của các khối chức năng
1. Thiết bị kết cuối: Thiết bị kết cuối gồm các mạch điện kết cuối thuê bao,
kết cuối trung kế tương tự và trung kế số
Khối mạch kết cuối thuê bao gồm:
Mạch giao tiếp đường dây thuê bao làm chức năng điều khiển các đường thoại
thuê bao, biến đổi tương tự-số của các tín hiệu âm thanh. Các chức năng trong tổng
đài được mô tả bằng từ viết tắt “ BORSCHT”. Từ viết tắt bởi các chữ tiếng Anh
đầu tiên của các chức năng mà mạch thuê bao phải thực hiện.
B: Cung cấp nguồn một chiều cho đường dây thuê bao (Bêttry)
14
Thiết bị
phân
phối
Thiết bị đo
thử
Thiết bị
điều khiển
đấu nối
Thiết bị
báo hiệu
kênh riêng
Thiết bị
báo hiệu
kênh chung
THIẾT
BỊ
CHUYỂN
MẠCH
Đường dây
thuê bao
Trung kế
tương tự
Mạch điện
đường dây
Thiết bị kết
cuối
BUS CHUNG
Thiết bị trao đổi
người-máy
Bộ xử lý trung tâm
Các bộ nhớ
Trung kế số
Sơ đồ khối tổng đài SPC
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét