Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS sơ đồ địa bàn phường Vĩnh Thọ - TP.Nha Trang

GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
MỤC LỤC 5
MỞ ĐẦU 7
ĐẶT VẤN ĐỀ 7
MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU ĐỀ TÀI 8
1. Mục tiêu 8
2. Yêu cầu 8
PHẠM VI TÌM HIỂU 8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ 9
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 9
1.1 Giới thiệu 9
1.2 Thông tin địa lý 9
1.3 Hệ thống thông tin địa lý 9
1.4 Khoa học thông tin địa lý 11
1.5 Các thành phần của GIS 12
2. CHỨC NĂNG CỦA GIS 13
2.1 Thu thập dữ liệu 13
2.2 Lưu trữ dữ liệu 14
2.3 Phân tích dữ liệu 14
2.4 Hiển thị dữ liệu 15
3. ỨNG DỤNG CỦA GIS 15
4. DỮ LIỆU GIS 17
5. THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU ĐỊA LÝ 20
5.1 Thu thập dữ liệu địa lý 20
5.2 Nhập dữ liệu từ bản đồ giấy 20
5.3 Chuyển đổi cấu trúc dữ liệu 21
5.4 Tiền xử lý dữ liệu bản đồ vector 22
CHƯƠNG 2. NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH AVENUE 24
1. GIỚI THIỆU VỀ NGÔN NGỮ AVENUE 24
1.1 Giới thiệu 24
1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ Avenue 24
2. CẤU TRÚC NGÔN NGỮ AVENUE 24
2.1 Các kiểu đối tượng dữ liệu trong Avenue 24
2.2 Các toán tử trong Avenue 32
2.3 Biến và tầm vực của biến 34
2.4 Các phát biểu 34
2.5 Điều khiển giữa các Script 37
2.6 Đối tượng AV và từ khóa SELF 38
2.7 Lớp MsgBox và Dialog 40
CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN 43
1. KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG 43
1.1 Hiện trạng cơ sở hạ tầng 43
1.2 Tình hình xã hội 44
1.3 Đặc tả bài toán 45
2. THIẾT KẾ DỮ LIỆU 45
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
5
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
2.1 Dữ liệu không gian 45
2.2 Dữ liệu thuộc tính 51
2.2.1 Mô hình quan niệm dữ liệu 51
2.2.2 Mô hình tổ chức dữ liệu 52
2.2.3 Mô hình vật lý dữ liêu 52
CHƯƠNG 4. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH 62
1 KẾT NỐI DỮ LIỆU VỚI AVENUE 62
2 XÂY DỰNG GIAO DIỆN 68
3 XÂY DỰNG CHỨC NĂNG 87
CHƯƠNG 5. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG 101
5.1 CẤU HÌNH MÁY TÍNH 101
5.2 SỬ DỤNG CHỨC NĂNG VÀ CÁC CÔNG CỤ 102
5.3 SỬ DỤNG FONT CHỮ TIẾNG VIỆT TRONG ARCVIEW 104
KẾT LUẬN 107
KẾT QUẢ THỰC HIỆN 107
HƯỚNG PHÁT TRIỂN 108
PHỤC LỤC 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
6
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thế kỷ 21, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ mà đặt biệt là
lĩnh vực công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống,
nhu cầu về thông tin về lãnh thổ, quy hoạch phát triển, thông tin về văn hóa, kinh tế
xã hội, an ninh xã hội ngày càng lớn, nó đòi hỏi ngừơi quản lý phải biết nắm bắt,
phân loại và xử lý thông tin một cách khoa học. Do vậy mục tiêu là phải xây dựng
một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất, từ đó cung cấp các thông tin hỗ trợ giúp
quyết định phát triển kinh tế địa phương thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Ngày nay, đã có nhiều phần mềm ứng dụng ra đời thay thế cho các thao tác
thủ công đem lại nhiều hiệu quả cao. Trong lỉnh vực an ninh trật tự xã hội, thì khối
lượng thông tin là vô cùng lớn, nhưng yêu cầu phải quản lý và cung cấp thông tin
chính xác cho người quản lý. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý an
ninh trật tự khu vực ở nước ta chỉ là những bước đi ban đầu, khi mọi thao tác chỉ
vẫn chỉ là thủ công gây khó khăn cho việc lưu trữ, truy xuất thông tin. Đối tượng
tội phạm cần phải được theo dõi các thông tin thường xuyên, khối lượng thông tin
cần phải lưu trữ, cập nhật là rất lớn bao gồm những thông tin vị trí ở, hình dạng,
thông tin vể gia đình của các đối tượng. Nên cần đảm bảo độ chính xác cao, tìm
kiếm dễ dàng và nhanh chóng hơn. Nhất là trong xu thế hội nhập khu vực và quốc
tế thì việc ứng dụng và phát triển công nghệ tin học cho tất cả các lĩnh vực nói
chung, lĩnh vực quản lý an ninh khu vực là một tất yếu khách quan.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực,
hiệu quả nhất làm cơ sở cho lãnh đạo địa phương hoạch định chính sách, ra quyết
định một cách chính xác, nhanh chóng trên cơ sở hệ thống dữ liệu tự nhiên và kinh
tế - xã hội được lưu trữ, cập nhật. Trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường
nó là công cụ đắc lực cho phép phân tích, đánh giá đầy đủ hiện trạng và tiềm năng
các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên (nhân khẩu, đất đai, khoáng sản, nguồn nước,
môi trường ) để từ đó định hướng khai thác, quản lý hiệu quả, tiết kiệm nhất các
nguồn lực đó. ArcView Gis là một trong những phần mềm trong việc quản lý cơ sở
dữ liệu không gian và cơ sở dữ liệu thuộc tính. Cho phép người dùng nắm bắt
thông tin chính xác về địa bàn của địa phương và truy xuất dữ liệu phục vụ cho các
công tác liên quan.
Nhằm đáp ứng yêu cầu công tác quản lý tốt hộ khẩu và tình hình an ninh trật
tự, kinh tế xã hội. Ứng dụng GIS vào công tác quản lý trên địa bàn tỉnh, phường sẽ
dễ dàng kiểm soát các biến động và cập nhật các thông tin trên đối tượng đặc biệt
và hộ khẩu.
Từ những yêu cầu thực tế nêu trên, đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS sơ
đồ địa bàn phường Vĩnh Thọ - TP.Nha Trang” sẽ giải quyết phần nào những
bất cập trong công tác quản lý thông tin hiện nay của phường.
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
7
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu
 Chuyển đổi, thiết kế, xây dựng cơ sở dữ liệu không gian và thuộc tính vào
hệ thống phần mềm ArcView3.x Gis phục vụ công tác quản lý thông tin
nhân khẩu và đối tượng tội phạm của phường Vĩnh Thọ.
 Ứng dụng GIS xây dựng công cụ hổ trợ công tác quản lý thông tin nhân
khẩu.
 Góp phần hiện đại hoá việc cập nhật, các thông tin về nhân khẩu và các đối
tượng phạm tội của phường.
2. Yêu cầu
 Tìm hiểu công nghệ GIS, chủ yếu trên phần mềm ArcView, kết nối Ar-
cView với hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL.
 Khảo sát hiện trạng tại đồn công an phường Vĩnh Thọ - TP. Nha Trang
 Số hóa bản đồ sơ đồ địa bàn phường Vĩnh Thọ.
 Xây dựng các chức năng phục vụ công tác quản lý địa bàn phường và công
tác phòng chống tội phạm
 Chương trình dễ sử dụng.
PHẠM VI TÌM HIỂU
Khảo sát hiện trạng tại đồn công an phường Vĩnh Thọ. Từ đó, phân tích thiết
kế cơ sở dữ liệu và xây dựng chương trình quản lý. Chương trình hoàn thành sẽ
được chạy thử tại địa bàn của phường Vĩnh Thọ
Để xây dựng chương trình cần tìm hiểu phần mềm ArcView3.x, ngôn ngữ
lập trinh Avenue, sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 2005 để phân tich
và thiết kế cơ sở dữ liệu.
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
8
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Giới thiệu
Hệ thống thông tin địa lý (GIS: Geographics Information System) bắt đàu
thâm nhập vào Việt Nam qua các dự án hợp tác quốc tế từ những năm cuối thập
niên 80 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đến giữa thập niên 90, GIS mới có cơ hội
phát triển tại Việt Nam, đây là một lĩnh vực mới.
Hiện nay nhiều cơ quan nhà nước và doanh nghiệp đã đóng ghóp và đang
tiếp cận công nghệ thông tin địa lý (công nghệ GIS) để giải quyết những bài toán
như quản lý môi trường, tài nguyên, quản lý đô thị và khu dân cư hoặc thực hiện
các bài toán thiết kế quy hoạch sử dụng đất đai, quản lý và thiết kế công trình cơ sở
hạ tầng kỹ thuật, xây dựng chiến lược về thị trường,v.v… Sự phát triển của công
nghệ thông tin địa lý với nhiều hữu hiệu đã thu hút sự quan tâm của nhiều người và
những áp dụng ngày càng phong phú đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của khoa học thông tin địa lý (GIScience).
1.2 Thông tin địa lý
Thông tin địa lý là những thông tin về các thực thể tồn tại một vị trí xác định
trên bề mặt Trái Đất ở một thời điểm nào đó. Thông tin địa lý giúp chúng ta nhận
biết được thuộc tính của một thực thể tồn tại ở đâu và vào lúc nào.
Thi dụ: Thông tin về siêu thị, bệnh viện, trường học; thông tin về mạng
đường xe buýt; thông tin về một tai nạn giao thông; thông tin về một đám cháy;
thông tin về thòi tiết; thông tin về những vùng nông nghiệp; v.v…
1.3 Hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống tự động thu thập, lưu trữ, truy
vấn, phân tích và hiển thi dữ liệu không gian (Clarke, 1995).
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về GIS, xuất phát từ các tiếp cận khác
nhau, các nhà khoa học đã có những định nghĩa khác nhau về GIS.
 Xuất phát từ những lĩnh vực khác GIS, những nhà khoa học trong các lĩnh
địa chất, môi trường, tài nguyên, v.v…sử dụng GIS như là công cụ phục vụ
cho nghiên cứu của mình đã định nghĩa GIS:
 GIS là một hộp công cụ mạnh được dùng để lưu trữ và truy vấn tùy
ý, biến đổi và hiển thị dữ liệu không gian từ thế giới thực cho những
mục tiêu đặc biệt (Burough, 1986).
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống có chức năng xử lý các
thông tin địa lý nhằm phục vụ cho việc quy hoạch, trợ giúp quyết
định trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định (Pavlidis, 1982).
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống sử dụng cơ sở dữ liệu để trả
lời các câu hỏi về bản chất địa lý của các thực thể địa lý (Goodchild,
1985).
 Từ những chức năng cần có của một hệ thống thông tin địa lý, một số nhà
khoa học đã định nghĩa:
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
9
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống chứa hàng loạt chức năng
phức tạp dựa vào khả năng của máy tính và các toán tử xử lý thông
tin không gian (Tomlinson and Boy, 1981; Dangemond, 1983).
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống tự động thu thập và lưu trữ,
truy vấn, phân tích dữ liệu không gian (Clarke, 1995).
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu bằng
máy tính để thu thập, luu trữ, phân tích, và hiển thị dữ liệu không
gian (NCGIA = National Center for Geographic Information and
Analysis, 1988).
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống bao gồm bốn khả năng xử
lý dữ liệu địa lý sau: (1) nhập dữ liệu, (2) quản lý dữ liệu (bao gồm
lưu trữ và truy xuất), (3) gia công và phân tích dữ liệu, (4) xuất dữ
liệu (Stan Aronoff, 1993).
 Theo quan điểm hệ thống thông tin, một số nhà khoa học đã định nghĩa:
 GIS là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với dữ liệu
có tham chiếu tọa độ địa lý. Nói cách khác, GIS là hệ thống gồm hệ
cơ sở dữ liệu với những dữ liệu có không gian và một tập những
thuật toán để làm việc trên dữ liệu đó. (Star and Estes, 1990)
 Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống thông tin bao gồm một số
phụ hệ (subsystems) có khả năng biến đổi các dữ liệu địa lý thành
những thông tin có ích (Calkín và Tomlinson, 1977).
 GIS là một hệ thống thông tin đặc biệt với cơ sở dữ liệu gồm những
đối tượng, những hoạt động hay nhiều sự kiện phân bố trong không
gian được biểu diễn như những điểm, vùng trong hệ thông máy tính.
Hệ thống thông tin địa lý xử lý, truy vấn dữ liệu theo điểm, vùng
phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích đặc biệt (Dueker, 1979).
Như vây, hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống máy tính gồm phần mềm, phần
cứng và các thiết bị ngoại vi có khả năng trả lời các câu hỏi cơ bản; “Ai?”,”Cái
gì?”,”Ở đâu?”,”Khi nào?” và “Tại sao?”. Trong đó, các trả lời cho câu hỏi:
“Ai?”,”Cái gì?” xác định các đối tượng, các hoạt động, các sự kiện cần khảo sát;
câu trả lời cho câu hỏi: “Như thế nào?”,”Tại sao?” là kết quả phân tích của hệ
thống thông tin địa lý.
Trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội, để đạt được một mục đích nào đó,
con người cần phải có những quyết định hợp lý và kịp thời. Những quyết định đó
thường được thực hiện sau khi thu thập thông tin từ thế giới thực và phân tích xử lý
nó theo một quan điểm nào đó. Những quyết định này tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp trở lại thế giới thực theo khuynh hướng của người quyết định. Nếu quyết định
ấy tạo ra những kết quả có lợi hơn cho con người thì được đánh giá là tốt. Ngược
lại, nếu quyết định tác động lên thế giới thực sinh ra nhiều hậu quả có hại cho con
người thì quyết định ấy được đánh giá là xấu.
Theo quan điểm thông tin, tiến trình nói trên thể hiện một sự tuần hoàn của
dữ liệu: Dữ liệu từ thế giới thực được thu thập, lưu trữ, phân tích và ra quyết định.
Quyết định tác động trở lại thế giới thực làm thay đổi dữ liệu của thế giới thực. Rồi
dữ liệu của thế giới thực lại được thu thập, lưu trữ, phân tích và ra quyết định, vòng
tuần hoàn lại được tiếp tục. Có như thế, quyết định mới tốt và hệ thống mới có ý
nghĩa.
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
10
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
Hình .1.3: Vòng tuần hoàn của dữ liệu địa lý.
1.4 Khoa học thông tin địa lý
Trong tiến trình phát triển, GIS đã được nhiều nhà khoa học sử dụng như
công cụ, đồng thời nhiều nhà khoa học khác cũng dành thời gian nghiên cứu phát
triển những công cụ GIS. Thực tế đó đã hình thành nhóm những nhà khoa học
nghiên cứu với GIS và nhóm những nhà khoa học nghiên cứ về GIS. Khoa học
thông tin địa lý (Geographic Information Science ) ra đời nhằm thúc đẩy và định
hướng các hoạt động về GIS với các định nghĩa sau:
 Khoa học thông tin địa lý là một khoa học sử dụng cá hệ thống thông tin địa
lý như những công cụ để hiểu biết về thế giới thực bằng cách mô tả và giải
thich mối quan hệ của con người với thế giới thực.
 Khoa học thông tin địa lý là một khoa học sử dụng và nghiên cứu các
phương pháp, các công cụ để thu thập, lưu trữ, phân tích, hiển thị và khám
phá thông tin không gian.
Khoa học thông tin địa lý phát triển trên cơ sở sự phát triển của khoa học máy
tính. Khoa học thông tin địa lý sử dụng và phát triển các mô hình toán để biểu diễn,
lưu trữ, phân tích, hiển thị dữ liệu về các đối tượng, các sự kiện, các hiện tượng
trong thế giới thực. Khoa học thông tin địa lý là một khoa học liên nghành của khoa
học máy tính, khoa học toán và khoa học địa lý.
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
11
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.4. GIS là một khoa học liên nghành
1.5 Các thành phần của GIS
Một hệ thống GIS hoàn chỉnh gồm có hệ thống máy tính (phần cứng, phần
mềm, …); Cơ sở dữ liệu; Con người và phương pháp.
Hình .1.5a: Các thành phần của GIS
Phần cứng: Hệ thống máy tính, có thể là máy chủ trung tâm hay các máy trạm hoạt
động độc lập hoặc liên kết mạng.
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
12
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
Hình 1.5b: Thiết bị của GIS
Phần mềm: Hiện nay có rất nhiều phần mềm phổ biến đã được thương mại hóa
như: ArcGis, Arc/Info, ArcView, Mapinfo, Idrisi, ENVI, Microstation … Các thành
phần chính trong phần mềm:
 Công cụ nhập và thao tác trên các thông tin địa lý.
 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS).
 Công cụ hỗ trợ hỏi đáp, phân tích và hiển thị địa lý.
 Giao diện đồ họa Người – Máy để truy cập các công cụ dễ
dàng.
Cơ sở dữ liệu: Được coi là thành phần quan trọng của GIS. Các dữ liệu địa lý
và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử dụng tự tập hợp hoặc được
mua từ nhà cung cấp dữ liệu thương mại. Các nguồn dữ liệu phải cung cấp được
các thông tin mà hệ thống yêu cầu như: Tọa độ địa lý, quy mô, đặc điểm thuộc tính,
các mối quan hệ.
Con người và phương pháp: Là thành phần quan trọng của GIS. Những người
làm công tác quản lý hệ thống thông tin địa lý cần có khả năng nhận định về tính
chính xác, phạm vi suy diễn thông tin, kết nối các mảng thông tin trong hệ thống.
2. CHỨC NĂNG CỦA GIS
Hệ thống thông tin địa lý có bốn chức năng chính: thu thập, lưu trữ, phân
tích và hiển thị dữ liệu.
2.1 Thu thập dữ liệu
Dữ liệu là thành phần quan trọng và tồn tại lâu bền trong hệ thống thông tin
địa lý. Hầu hết các phần mềm GIS đều cung cấp chức năng để nhập dữ liệu vào hệ
thống
Dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý có thể được cung cấp từ bản đồ giấy,
số liệu ghi nhận trên giấy, ảnh vệ tinh hoặc ảnh máy bay, các thiết bị đo đạc kỹ
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
13
GVDH: Nguyễn Thủy Đoan Trang Đồ án tốt nghiệp
thuật số, các thiết bị định vị mặt đất, các thiết bị định vị vệ tinh (GPS: Global
Position System), hệ thống thu thập dữ liệu tự động (SCADA: Supervisory Control
And Data Acquisition),…
2.2 Lưu trữ dữ liệu
Các đối tượng không gian địa lý có thể biểu diễn theo mô hình vector hoặc
raster.
Mô hình vector: Mô hình dữ liệu vector biểu diễn các đối tượng địa lý trên
mắt đất bằng những điểm, đường, vùng trong mặt phẳng tọa độ Descartes. Mỗi
điểm được xác định bởi cặp tọa độ (x,y), mỗi đọan biểu diễn bằng một chuỗi những
cặp tọa độ (x
i,
y
i
), một vùng được xác định bởi một đường khép kín và được biểu
diễn bằng một chuỗi cặp tọa độ (x
i,
y
i
) có tọa độ điểm đầu và tọa độ điểm cuối trùng
nhau.
Mô hình raster: Mô hình dữ liệu ấn định vị trí của các đối tượng không gian
vào các ô lưới hình ô vuông ( hoặc hình chữ nhật hay tam giác nhưng rất ít được sử
dụng) có kích thước bằng nhau gọi là pixel, được xác định bằng tọa độ (x,y) là số
thứ tự của hàng cột của pixel. Trong cấu trúc raster, đường được biểu diễn bằng
những pixel có cùng giá trị thuộc tính f(x,y) kề nhau, trải rộng ra theo một phương
nào đó. Vì trong cấu trúc raster, các pixel được xếp theo hàng, cột như một ma trận
điểm nên đường ở đây không trơn, có dạng zic-zac. Vùng được xác định bằng một
mảng gồm nhiều pixel có cùng giá trị thuộc tính f(x,y) kề nhau, trải rộng theo nhiều
phương.
Dữ liệu thuộc tính có thể lưu trữ gắn kết trong mỗi bảng thuộc tính của đối
tượng không gian hoặc là các bảng dữ liệu hoàn toàn độc lập, khi cần thiết thì bảng
dữ liệu này được kết nối vào bảng thuộc tính của đối tượng không gian tạo thành
dữ liệu địa lý.
Dữ liệu trong một hệ thống thông tin địa lý được truy vấn theo hai phương
thức:
 Truy vấn từ đối tượng không gian để tìm thuộc tính: Trong cách truy vấn
này, người dùng phải xác định được vị trí của đối tượng cần quan tâm, sau
đó xem thuộc tính của chúng.
 Truy vấn theo dữ liệu thuộc tính để tìm vị trí của đối tượng trong không
gian bằng cách xây dựng các biểu thức dựa vào các điều kiện ràng buộc.
Trong trường hợp này, người sử dụng đã biết các đặc điểm của đối tượng
và muốn tìm ra vị trí của đối tượng đó.
2.3 Phân tích dữ liệu
Phân tích dữ liệu là khả năng trả lời những câu hỏi về sự tác động lẫn nhau
của những mối quan hệ không gian và thuộc tính giữa nhiều tập dữ liệu. Có nhiều
phương pháp phân tích dữ liệu trong GIS, tùy vào từng mục tiêu và nguồn dữ liệu
củ thể mà ta có thể chọn phương phân tích khác nhau:
 Thao tác phân tích trên một lớp dữ liệu (Single Layer Operations) là những
thuật toán xử lý dữ liệu trên một lớp như thuật toán buffer, truy vấn thuộc
tính từ thuộc tính, truy vấn thuộc tính từ không gian, truy vấn không gian từ
thuộc tính hoặc tạo những tập dữ liệu mới được thực hiện trên một lớp dữ
liệu.
SVTH: Nguyễn Văn Lợi – Nguyễn Thị Mong
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét