Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tợng, đứng im chỉ thể hiện của một trạng thái vận động: vận động trong thăng
bằng, trong sự ổn định tơng đối, trạng thái đứng im cần đợc biểu hiện nh một
quá trình vận động trong phạm vi của sự vật ổn định, cha biến đổi, đứng im chỉ
là tạm thời vì nó xẩy ra trong một thời gian nhất định. Vận động riêng biệt có
xu hớng chuyển thành cân bằng nhng vận động toàn thể lại phá hoại sự cân
bằng riêng biệt làm cho các sự vật hiện tợng luôn thay đổi chuyển hoá cho
nhau.
* Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các vật chất có vị trí, có hình thức kết
cấu có độ dài, ngắn, cao, thấp. Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tác biệt
của các sự vật với nhau, biểu hiện quán tính của chúng, trật tự phân bố chung.
Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra nhanh hay
chậm kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định. Thời gian biểu hiện tốc độ, trình
tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính tách biệt các giai đoạn khác nhau
của quá trình đó, trình tự xuất hiện và mất đi các sự vật hiện tợng.
Không gian và thời gian là hình thức cơ bản của vật chất đang vận động Lê
nin đã chỉ ra không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận
động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian. Không gian và
thời gian là tồn tại khách quan. Nó không phải là hình thức chủ quan để sắp đặt
các cảm giác mà ta thu nhận một các lộn xộn nh chủ nghĩa duy tâm quan niệm,
cũng nh nó không thể đứng ngoài vật chất. Không có không gian trống rỗng,
không gian và thời gian không phải là bất biết, tuyệt đối mà trái lại, không gian
và thời gian có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động.
* Tính thống nhật vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tinh thần có trớc, quyết định vật chất, do đó
cũng cho rằng thế giới thống nhất ở tinh thần. Chủ nghĩa duy vật biện chứng lại
khẳng định rằng tính thống nhất chân chính của thế giới vật chất của nó. Triết
học Mác - Lênin khẳng định chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất
không có thế giới tinh thần, thế giới tinh thần, ma quỷ tồn tại ở đâu, ở trên, ở d-
ới, bên trong bên ngoài thế giới vật chất. Đồng thời còn khẳng định rằng các bộ
phận thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất, có liên hệ vật chất với
nhau nh liên hệ về cơ cấu tổ chức, liên hệ về lịch sử phát triển và đều tuân thủ
theo những quy luật khách quan của thế giới vật chất. Do đó, thế giới vật chất
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tồn tại vĩnh viễn, vô vàn, và vô tận, không do ai sinh ra và cũng không mất đi:
trong thế giới đó, không có cái gì khác ngoài các quá trình vật chất đang biến
đổi và chuyển hoá lẫn nhau là nguyên nhân và kết quả của nhau.
2. ý thức
2.1. Kết cấu của ý thức
Cũng nh vật chất, có rất nhiều quan niệm về ý thức theo các trờng phái
khác nhau. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng
ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới
khách quan vào bộ óc của con ngời thông qua lao động và ngôn ngữ. Mác nhấn
mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua chỉ là vật chất đợc di chuyển vào trong
bộ óc của con ngời và đợc cải biến đi trong nó.
ý thức là một tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức
tình cảm, ý trí, trong đó tri thức là quan trọng nhất là phơng thức tồn tại của ý
thức.
Tri thức là phơng thức tồn tại của ý thức vì sự hình thành và phát triển của
ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con ngời nhận thức và cải biến giới
tự nhiên. Tri thức càng đợc tích luỹ, con ngời ngày càng đi sâu vào bản chất sự
vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ý thức cũng nhờ đó mà
tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng nhất ý thức có ý
nghĩa chống quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, là niềm tin, ý trí.
Quan điểm đó chính là biểu hiện của bên chủ quan duy ý trí, của niềm tin mù
quáng, của tởng tợng chủ quan, tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng
không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoặc coi nhẹ vai trò của các nhân tố tình
cảm ý chí.
Tự ý thức cũng là một yếu tố trong ý thức. Chủ nghĩa duy tâm coi tự ý thức
là một thực thể độc lập tự nó có sẵn trong các cá nhân, điều kiện hớng về bản
thân mình tự khẳng định "Cái tôi" riêng biệt tách rời những quan hệ xã hội.
Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thức hớng về bản
thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài khi phản ánh thế giới khách
quan coi con ngời tự phân biệt mình, đối lập với thế giới đó và hành vi đạo đức
và coi vị trí trong xã hội. Mặt khác sự giao tiếp trong xã hội và hoạt động thực
tiển xã hội đòi hỏi con ngời phải nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh bản
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra. Ngoài ra văn hoá cũng
đóng vai trò là cái "gơng soi" giúp cho con ngời tự ý thức về bản thân.
Vô thức là hiện tợng tâm lý nhng có liên quan đến những hoạt động xảy ra
ở ngoài phạm vi của ý thức. Có hai loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các
hành vi cha đợc con ngời ý thức, loại thứ hai liên quan đến các hành vi trớc kia
đã đợc ý thức những do lặp lại đã trở thành thói quen, có thể diễn ra "tự động"
bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức. Vô thức ảnh hởng đến nhiều phạm vi hoạt
động của con ngời. Trong những hoàn cảnh noà đó giúp con ngời giảm bớt sự
căng thẳng trong hoạt động. Để biến những hành vi tích cựu thành thói quen coi
vai trò rất quan trọng trong đời sống của con ngời. Trong con ngời ý thức vẫn là
cái chủ đạo, cái quyết định hành vi cá nhân.
2.2. Nguồn gốc của ý thức
* Nguồn gốc tự nhiên
ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của goí tự nhiên cho tới
khi xuất hiện con ngời và bộ óc ngời. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật
chất nói chung và trái đất nói riêng đã từ tồn tại rất lâu trớc khi xuất hiện con
ngời, rằng hoạt động ý thức của con ngời diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý
thần kinh của bộ não con ngời. Không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của
bộ não vì ý thức là chức năng của bộ não, bộ não là phí quan của ý thức. Sự phụ
thuộc của ý thức vào sự hoạt động của bộ não thể hiện ở chỗ khi bộ não bị tổn
thơng thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên không thể quy một cách
đơn giản ý thức của các quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh ý
thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con ngời. Sự xuất hiện của ý thức gắn
liền với sự phát triển của đặc tính phản ánh đặc tính này phát triển cùng với sự
phát triển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con ngời và xã hội loài ngời đa
lại hình thức cao nhất của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức. Sự phản ánh ý
thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã
hội.
- Nguồn gốc xã hội:
Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ
óc ngời dới sự ảnh hởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động của con ngời là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cải
tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con ngời.
Chính nhờ lao động, con ngời và xã hội loài ngời mới hình thành và phát triển.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lao động là phơng thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con ngời, lao động đồng thời
ngay từ đầu đã liên kết những con ngời với nhau trong mối quan hệ khách quan,
tất yếu: mối quan hệ này đến lợt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh
nghiệm và tổ chức lao động, nhu cầu "cần phải nói với nhau một cái gì". Và kết
quả là ngôn ngữ ra đời. Ngôn ngữ đợc coi là cái vỏ vật chất của t duy. Với sự
xuất hiện của ngôn ngữ, t tởng của con ngời có khả năng biểu hiện thành hiện
thực trực tiếp, trở thành tín hiệu vật chất tác động tới các cơ quan con ngời và
gây cảm giác. Nhờ có ngôn ngữ con ngời có thể giao tiếp, trao đổi t tởng, tình
cảm với nhau, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau, thông qua đó mà ý thức cá
nhân trở thành ý thức xã hội và ngợc lại, ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá
nhân. Ngôn ngữ đã trở thành một phơng tiện vật chất không thể thiếu đợc của
sự trừu tợng hoá, tức là quá trình hình thành, thực hiện ý thức. Và chính nhờ sự
trừu tợng hoá và khái quát hoá mà con ngời có thể đi sâu vào bản chất của sự
vật hiện tợng, đồng thời tổng kết đợc hoạt động của mình trong toàn bộ quá
trình phát triển lịch sử.
2.3. Bản chất của ý thức.
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính
phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện thông tin về thế giới bề ngoài, là biểu thị nội
dung nhận thức đợc từ vật gây tác động và đợc truyền đi trong quá trình phản
ánh. Bản tính phản ánh quy định mặt khách quan của ý thức, từ là ý thức phải
lấy cái khách quan làm tiền đề, bị khách quan qui định và có nội dung phản ánh
là thế giới khách quan.
ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, với hoạt động sáng tạo cải
biến và thống trị tự nhiên của con ngời và trở thành mặt không thể thiếu đọc của
hoạt động đó. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ, nó không chụp lại một
cách thụ động, nguyên xi sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, quá trình thu
thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức
còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ
động tác động vào thế giới để phán ánh thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời.
Không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ
sở của sáng tạo. Ngợc lại không có sự sáng tạo thì không phải là sự phản ánh ý
thức. Đó là mối quan hệ giữa hai quá trình thu nhận xử lý thông tin , là sự thống
nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ý thức chỉ đợc nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của
con ngời. Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. Do
đó ý thức ngay từ đầu là sản phẩm của xã hội. ý thức trớc hết là tri thức của con
ngời về xã hội và hoàn cảnh, về những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan, về
mối liên hệ giữa ngời với ngời trong xã hội. Do đó, ý thức xã hội hình thành và bị
chi phối bởi tồn tại xã hội cùng các qui luật của sự tồn tại xã hội đó - và ý thức của
mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội. Bản tính xã hội của ý thức cũng
thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính
năng động chủ quan của ý thức. ở quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức
trong hoạt động cải tạo thế giới của con ngời.
3. Mối quan hệ giữa vật chất ý thức.
Lênin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa tuyệt đối
trong phạm vi hết sức nan chế, trong trờng hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận
thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trớc cái gì là cái có sau. Ngoài giới
hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lậpđó chỉ là tơng đối. Nh vậy, để
phân ranh giới chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định bản tính và sự
thống nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi
trả lời câu hỏi cái nào có trớc, cái nào quyết định. Không nh vậy sẽ lẫn lộn hai đ-
ờng lối cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ là quan
điểm duy vật. Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là tơng đối nếu nh chúng
ta chỉ xét chúng nh là những nhân tố những mặt không thể thiếu đợc trong hoạt
động của con ngời, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con ngời.
Bởi vì, ý thức tự nó không thể cải biến đợc sự vật, không có khả năng tự biến thành
hiện thực, nhng thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời, ý thức có thể cải biến
đợc tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho
hoạt động của mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh, sáng tạo
và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con ngời có ý thức mới có
khả năng cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang dã thành tự
nhiên trù phú và sinh động, tự nhiên của con ngời. Vì vậy tính tơng đối trong sự
đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện tính độc lập tơng đối tính năng động của ý
thức. Mặt khác đời sống con ngời là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống
vật chất và đời sống tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần hoá. Khẳng định
tính tơng đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định
rằng cả hai nhân tố có vai trò nh nhau trong đời sống và hoạt động của con ngời.
Trái với triết học Mác - Lênin khẳng định rằng trong hoạt động của con ngời
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại song sự tác động diễn ra trên
cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả nhân tố ý thức.
Trong hoạt động của con ngời những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ
cũng giữ vai trò quyết định chi phối và qui định mục đích hoạt động của con ngời
vì nhân tố vật chất qui định khả năng các nhân tố tính thần có thể tham gia hoạt
động của con ngời, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác
biến thành hiện thực và qua đó qui định mức đích, chủ trơng biện pháp mà con ng-
ời đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc sửa chữa, bổ sung, cụ thể hoá
mục đích chủ trơng biện pháp đó. Hoạt động nhận thức của con ngời bao giờ cũng
hớng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống, hơn nữa cuộc
sống tinh thần của con ngời xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả
mãn nhu cầu vật chất và những điều kiện vật chất hiện có. Khẳng định vai trò cơ sở
quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất triết học Mác - Lênin đồng thời cũng coi
nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần của tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có
tác dụng trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. hơn nữa trong hoạt động của
mình con ngời không thể để cho thế giới khách quan qui luật khách quan chi phối
mà chủ động hớng nó đi theo con đờng có lợi của mình. ý thức con ngời không
thể tạo ra các đối tợng vật chất cũng không thể thay đổi đợc qui luật vận động của
nó. Do đó, trong quá trình hoạt động của mình con ngời phải tuân theo qui luật
khách quan và chỉ có thể để thoả mãn mục đích chủ trơng trong phạm vi hoàn cảnh
cho phép.
Phần II - Vận dụng mối quan hệ vật chất và ý
thức trong việc xây dựng nền kinh tế ở nớc
ta hiện nay.
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện
chứng giữa kinh tế và chính trị.
Nh chúng ta đã biết vật chất và ý thức có quan hệ biện chứng với nhau.
Nhân tố vật chất giữ vai trò cơ sở quyết định, còn nhân tố ý thức có tác dụng trở
lại đối với nhân tố vật chất. Trong nhiều trờng hợp nhân tố có tác dụng quyết
định đến sự thành bại của sự hoạt động cải tạo con ngời. Điều này thể hiện rõ
trong tác động của đờng lối, chủ trơng, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng.
Song xét đến cùng tác động của ý thức chỉ có tính tơng đối, có điều kiện. Vai
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trò tích cực hay tiêu cực của ý thức chỉ đợc trong một thời gian nhất định và
điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động theo qui luật
khách quan đòi hỏi ý thức phải biến đổi phù hợp với nó, nếu là tiêu cực ý thức
sớm muộn cũng bị đào thải. Mặt khác ý thức là cái có sau, là cái phản ánh hơn
nữa vai trò cản nó còn tuỳ thuộc vào mức độ chính xác trong phản ánh hiện
thực. Do vậy xét toàn cục ý thức vấn là nhân tố thứ hai bị quyết định, cần chú ý
rằng vai trò của ý thức chỉ có đợc nếu nó thâm nhập vào quần chúng và tổ chức
xã hội. Nếu nh chúng ta đa nó voà điều kiện và hoàn cảnh cụ thể thì chúng ta có
thể thấy rằng giữa kinh tế và chính trị cũng có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
Bởi vì chúng ta thấy rằng tình hình kinh tế của một nớc là cơ bản quyết định
còn chính là là cơ bản. Nếu kinh tế của một nớc mà giàu mạnh nhng chính trị
thì luôn bất ổn đấu tranh giai cấp, tôn giáo, giữa các đảng phái khác nhau của
một quốc gia thì cũng không thể tồn tại lâu dài đợc, cuộc sống của nhân dân
sung túc, đầy đủ nhng luôn phải sống trong lo âu sợ hãi vì chiến tranh và chết
chóc. Do đó chính trị của một nớc mà ổn định tuy nhiên đảng khác nhau nhng
vẫn quy về một chính đangr thống nhất vẫn đem lại sự yên ấm cho nhân dân,
đất nớc đó giàu mạnh cuộc sống nhân dân ấm no hạnh phúc, ngợc lại nếu nh đất
nớc đó nghèo cho dù chính trị ổn định đến đâu thì cuộc sống của nhân dân cũng
trở nên khó khăn và ắt sẽ dẫn đến đảo chính sụp đổ chính quyền để thay thế một
chính quyền mới đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân hơn.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế
chính trị xã hội. Con ngời trải qua năm hình thái kinh tế xã hội. Thời kỳ nguyên
thuỷ, nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Trình đọ tổ chức
quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố qui định trình độ
hiện đại và mức sống của xã hội. Sản xuất vật chất còn nền tảng hình thành tất
cả các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần xã hội. Hiện thực lịch sử đã chỉ ra
rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm: quan hệ chính trị, Nhà nớc pháp
quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật tôn giáo đều hình thành và biến đổi và
phát triển gắn liền với cơ sở kinh tế và sản xuất nhất định. Trong xã hội đó theo
Mác quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất (quan hệ kinh tế) là
quan hệ cơ bản nhất quyết định tất cả quan hệ cơ bản khác. Một khi sản xuất
phát triển cách thức sản xuất của con ngời thay đổi, năng suất lao động tăng,
mức sống đợc nâng cao thì các mối quan hệ và mọi mặt của đời sống cũng đựơc
thay đổi theo. Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện chức năng của con ngời, thoả
mãn nhu cầu của con ngời và xã hội. Sản xuất vật chất môi trờng tự nhiên, điều
kiện xã hội - đòi hỏi thể lực trí tuệ và nhân cách của con ngời phải phát triển
thích ứng với nó. Yêu cầu khách quan của sj phát triển kinh tế, phát triển sản
xuất làm cho khoa học kỹ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát
triển và hoàn thiện. Đó chính là cơ sở quyết định sự phát triển hoàn thiện các kỹ
năng của con ngời, của chính trị của xã hội là nhân tố quan trọng hàng đầu của
lực lợng sản xuất xã hội. Sự phong phú và đa dạng của những quan hệ vật chất
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và đời sống tinh thần trong quá
trình sản xuất vật chất là cơ sở nảy sinh sự phong phú và đa dạng trong sự phát
triển thể chất năng lực và tinh thần của con ngời.
Nói cho cùng thì trong hoạt động của con ngời, những nhu cầu về vật chất
(kinh tế) bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và qui định mục đích hoạt
động bởi vì con ngời trớc hết phải ăn mặc, ở, rồi mới nghĩ đến vui chơi, giải trí.
Hoạt động nhận thức của con ngời trớc hết hớng tới mục tiêu cải biến tự nhiên
nhằm thoả mãn nhu cầu sống. Hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con ngời xét
đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và
vào những điều kiện vật chất hiện có.
Nền kinh tế của một nớc là cơ sở để nớc đó thực hiện những chủ trơng,
biện pháp trong việc quản lý, đề ra những chiến lợc phát triển kinh tế, chiến lợc
phát triển quân đội để đảm bảo an ninh và chủ quyền quốc gia. Căn cứ và thực
trạng của nền kinh tế, các t tởng và chính sách đổi mới phát triển kinh tế đợc đa
ra phù hợp và hiệu quả nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao cho xã hội, cũng đồng
thời cho nhân dân. Tác dụng ngợc trở lại, thể chế chính trị (ý thức) của một nớc
rất quan trọng trong việc xây dựng đất nớc. Chính trị ổn định là điều kiện tốt,
tạo không khí yên ấm, thoải mái và tự do để mọi ngời, nhà nhà, các công ty, các
tổ chức, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội cống hiến và phát triển hết
khả năng của mình để đem lại lợi ích cho bản thân mình và lợi ích cho xã hội.
Nguyên lý triết học Mác - Lênin là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật (ở đây là nền kinh
tế) từ thực tế khách quan, tránh chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, đồng thời phát
huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức phát huy nỗ lực hoạt động chủ quan
trong hoạt động của con ngời (nh trong hoạt động kinh tế của nớc ta, trong công
cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng đã rất chú trọng trong
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
việc đề cao yếu tố con ngời, làm cho ý thức thay đổi mới thâm nhập vào cơ sở
kinh tế, và động viên quần chúng).
2. Vận dụng mối quan hệ vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền
kinh tế mới của nớc ta hiện nay.
Nh chúng ta đã biết, sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc, nền
kinh tế miền Bắc còn nhiều nhợc điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu
kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất cha đảm bảo
nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp cha cung cấp đủ thực phẩm cho nhân
dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu. Mặt khác, nền kinh
tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá hoại bằng không quân của đến quốc Mỹ tàn
phá nặng nền. ở miền Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và
suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế
hoạch năm 1976 - 1980 quá cao và phát triển sản xuất vợt quá khả năng của nền
kinh tế, nh năm 1975, phấn đấu đạt 21 triệu tấn lơng thực, 1 triệu tấn than sạch,
2 triệu tấn xi măng Đặc biệt là đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới
về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản
cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Những chủ trơng sai lầm đó cùng với cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu đến nền kinh tế, ảnh h-
ởng không tốt tới đời sống của nhân dân Đến hết năm 1981, nhiều chỉ tiêu
kinh tế chỉ đạt khoảng 50-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trởng rất chậm chạp:
tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông
nghiệp giảm 0,15%.
Đại hội Đảng lần thứ V cũng cha tìm ra đựơc đầy đủ những nguyên nhân
đích thực của sự trì trệ trong nền kinh tế của nớc ta và cũng cha đề ra các chủ tr-
ơng chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế. Trong 5 năm 1981 -
1985 chúng ta cha kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu
kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa về quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới
nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối lu thông. Nhìn chung, chúng ta cha thực
hiện đợc mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình
hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân.
Trong cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội đã nhận định: "Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố
gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đờng lối, xác định đúng mục tiêu và phơng
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hớng xã hội chủ nghĩa. Nhng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi
phạm qui luật khách quan: Nóng vội trong cảitạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay
nền kinh tế nhiều thành phần: có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công
việc nặng: duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, có nhiều
chủ trơng sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lơng.
Tất nhiên, ngoài những khuyết điểm chủ quan nêu trên, còn có những
nguyên nhân khách quan nh hậu quả của nhiều năm chiến tranh, bối cảnh quốc
tế song chủ yếu là do chúng ta phạm sai lầm chủ quan, những sai lầm cùng
với trì trệ trong công tác tổ chức, cán bộ đã kìm hãm lực lợng sản xuất và triệt
tiêu nhiều động lực phát triển.
Nhắc lại tình hình trên để thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức (ở đây là
các chủ trơng chính sách về quản lý) đối với vật chất 9là nền kinh tế) và thấy
tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trớc khi có công cuộc đổi mới. Phép
biện chứng duy vật khẳng định rằng yếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị
đào thải.
Trớc tình hình ngày càng nghiêm trọng trong khủng hoảng kinh tế xã hội ở
nớc ta, Đảng và Nhà nớc đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình, lấy ý kiến
rộng rãi của cơ sở, của nhân dân, và đặc biệt là đổi mới t duy về kinh tế. Đại hội
lần thứ VI của Đảng đã rút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó kinh nghiệm: phải
luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan,
Đảng đã đề ra đờng lối đổi mới, mở ra bớc ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nớc ta. Tại Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình một cách nghiêm
khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội,
đề ra các định hớng lớn và xác định chủ trơng đổi mới, đặc biệt là đổi mới về
kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chơng trình kinh tế: lơng thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu: hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, thừa nhận sự tồn tại của tiểu t sản xuất hàng hoá và kinh tế t bản t
nhân, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền
tệ. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, những diễn biến quốc tế
phức tạp đã ảnh hởng xấu đến tình hình kinh tế chính trị và xã hội nớc ta nhng
Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi,
khai phá con đờng đổi mới. Và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, ta
đã đánh giá tình hình chính trị xã hội Việt Nam sau hơn bốn năm thực hiện đ-
ờng lối đổi mới: công cuộc đổi mới bớc đầu đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét