điểm tuần hoàn và chu chuyển giá trị của vốn cố định-tạo nên đặc điểm vận động của
vốn cố định:
-Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và chuyển dần từng phần
vào giá thành sản phẩm tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định
-Vốn cố định được thu hồi dần từng phần tương ứng với phần hao mòn của tài sản
cố đinh, đên khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng thì giá trị của nó được thu hồi đủ
và vvón cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Thông thường vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong
toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm luân chuyển lại theo tính quy
luật riêng vì vậy việc quản lý sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản cố định được phân chia thành nhiều loại theo các tiêu thức khác nhau. Căn cứ
hình thái vật chất thì tài sản cố định được chia thành tài sản cố định hữu hình và tài
sản cố định vô hình, Căn cứ theo quyền sở hữu thì tài sản cố định bao gồm:tài sản cố
định thuê tài chính ,tài sản cố định thuê hoạt động và tài sản cố định thuộc sở hữu của
doanh nghiệp
Vốn lưu động
“Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu động của
doanh nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp” (*). Trong quá
trình hoạt động sản xuất, khác với vốn cố định, lưu động luân thay đổi hình thái biểu
hiện. Vì vậy giá trị của nó cũng được dịch chuyển một lần vào giá trị sản phẩm sản
xuất ra và được thu hồi ngay sau khi tiêu thụ sản phẩm. Thông thường ,nó hoàn thành
một vòng tuần hoàn khi kết thúc một chu kỳ sản phẩm. Trong doanh nghiệp thương
mại, do hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, có thể nói sự vận động của vốn
lưu động trải qua hai giai đoạn theo trình tự :T-H-T’
Ở giai đoạn thứ nhất, để đảm bảo quá trình lưu chuyển hàng hoá , doanh nghiệp phải
ứng trước một số tiền nhất định để mua vật tư ,hàng hoá từ nhiều nguồn khác nhau về
5
dự trữ. Vốn lưu động ở giai đoạn này chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái hiện
vật (T-H)
Sang giai đoạn sau, khi doanh nghiệp đưa hàng hoá dự trữ đi tiêu thụ và thu tiền về
và vòng tuần hoàn của vốn được kết thúc, vốn lưu động chuyển từ hình thái hiện vật
sang hình thái tiền tệ (H-T’)
Vốn lưu động sẽ được chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân loại.
Căn cứ vào sự vận động của vốn lưu động thì vốn lưu động được chia thành vốn lưu
động trong khâu dự trữ, vốn lưu động trong khâu sản xuất và vốn lưu động trong khâu
lưu thông.
Căn cứ theo nội dung kinh tế, vốn lưu động bao gồm: vốn hàng hoá, vốn bằng tiền,
vốn công cụ lao động nhỏ,vốn bao bì, vật liệu đóng gói, vốn thuộc các khoản phải thu,
vốn đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản thế chấp ký quỹ
*)Phân loại vốn kinh doanh căn cứ theo nguồn hình thành
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu và vốn nợ
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu và sử dụng lâu dài trong suốt thời
gian hoạt động của doanh nghiệp. Nó bao gồm ba bộ phận chủ yếu là: vốn góp ban
(*):giáo trình lý thuyết tài chính-HVTC,2003
đầu, lợi nhuận không chia và phát hành cổ phiếu.
Vốn ban đầu hình thành khi thành lập doanh nghiệp các chủ doanh nghiệp bỏ vào đó
.Vốn góp ban đầu có tính chất và hình thức tạo vốn khác nhau tuỳ thuộc hình thức sở
hữu doanh nghiệp.
Vốn từ lợi nhụân không chia:Trong thời gian hoạt động ,nếu doanh nghiệp làm ăn
có lãi thì có thể sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản xuất.
Vốn từ phát hành cổ phiếu :vốn được hình thành từ sự đóng góp cúa các chủ sở hữu
doanh nghiệp (các cổ đông) .
6
Vốn nợ:Không có một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử
dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương
trường các khoản vốn này doanh nghiệp tạm thời sử dụng trong một thời gian nhất
định và hình thành nên các khoản nợ doanh nghiệp phải trả.
1.1.3)Vai trò của vốn kinh doanh
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy vốn kinh doanh đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh là tiền đề vật chất không thể
thiếu cho sự hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Muốn có được giấy phép kinh doanh để đi vào hoạt động thi ngay từ khi thành lập
doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn này doanh nghiệp dùng để
tạo lập cơ sở vật chất ban đầu cho mình. Tiếp theo đó, khi bắt đầu hoạt động kinh
doanh, doanh nghiệp cũng cần một lượng vốn nhất định để xâm nhập và có thế đứng
trên thị trường .Sau khi đứng vững trên thị trường, doanh nghiệp phải tìm cách mở
rộng thị trường, mở rộng qui mô sản xuất nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Muốn làm được
những điều này thì doanh nghiệp cũng cần phải có một lượng vốn nhất định để xây
dựng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật, mua nguyên vật liệu và cũng cần một lượng vốn
lưu động cần thiết để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn cũng như
đáp ứng những thương vụ làm ăn của doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, khi nền kinh tế ngày càng phát triển ,ngày càng có nhiều các cơ hội
kinh doanh và đầu tư vào những lĩnh vực mới, để chuyển hướng kinh doanh vào
những lĩnh vực thu được nhiều lợi nhuận.Như vậy có thể nói vốn là nguồn tài chính
cần thiết để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh
Do vốn đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp như vậy nên
bằng mọi cách doanh nghiệp phải có các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn, có các
biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.Có như vậy
doanh nghiệp mới ngày càng lớn mạnh, có uy tín và vị thế trên thương trường từ đó sẽ
có nhiều các cơ hội làm ăn và phát triển.
7
1.2)Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.1)Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Quan điểm về hiệu quả
Hiệu quả theo nghĩa chung nhất được hiểu là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh
các lợi ích kinh tế xã hội do một hoạt động nào đó đem lại. Hiệu quả được đánh giá
trên hai mặt là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.Tuỳ theo mục đích của hoạt động
mà cho ta hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội là tốt nhất(Ở đây chúng ta chỉ xem xét
đến hiệu quả về kinh tế)
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa kết
quả đạt được về mặt kinh tế với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau vì thế
để đánh giá được đầy đủ về hiệu quả người ta không chỉ đánh giá một loại hiệu quả
đon thuần mà phải đặt trong mối quan hệ với hiệu quả còn lại.
Như vậy, đối với doanh nghiệp thương mại việc nâng cao hiệu quả là một vấn đề
cần thiết và luôn đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải đưa ra các biện pháp sao cho hoạt
động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất.
Sao khi nghiên cứu về hiệu quả nói chung, ta đi nghiên cứu về một bộ phận của
hiệu quả kinh tế đó là hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả kinh tế cuối cùng thể hiện ở mức doanh lợi đạt được. Điều này phụ thuộc
vào việc tạo lập và sử dụng vốn một cách hợp lý, tiết kiệm, góp phần tăng vòng quay
của vốn từ đó làm tăng doanh thu . Vì vậy, hiện nay khi doanh nghiệp được tự chủ về
vốn thì vấn đề sử dụng vốn luôn được quan tâm, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
sẽ thấy được chất lượng quản lý sản xuất kinh doanh, vạch ra được các biện pháp
nhằm tiết kiệm và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ quá trình sử dụng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác nó là chỉ số phản ánh quan hệ giữa kết
quả đạt được với số vốn kinh doanh bỏ ra trong kỳ.
8
KQ
H
V
=
V
bq
Trong đó H
V
là hệ số hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
KQ là kết quả thu được (doanh thu,doanh thu thuần, lợi nhuận,khối lượng
sản phẩm )
V
bq
là vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Từ công thức ta thấy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tỷ lệ với kết qủa thu được và
tỷ lệ nghịch với vốn kinh doanh bỏ ra. Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh thì kết quả đạt được phải lớn và phải trên cơ sở sử dụng tiết kiệm vốn kinh
doanh.
1.2.2)Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Mục đích tối cao của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là lợi nhuận, muốn
vậy cac doanh nghiệp phải khai thác triệt để mọi nhuồn lực săn có tức là việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp. Để đạt được điều đó,
các doanh nghiệp cần có một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn bảo
dảm phản ánh và đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu
phản ánh và đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải
đảm bảo tính hệ thống và toàn diện .Các chỉ tiêu đánh giá phải có sự liên hệ so sánh
được với nhau, phải có phương pháp tính cụ thể thống nhất .Từ đó, có thể xây dựng hệ
thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp như sau:
1.2.2.1)Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Có rất nhiều chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, sau đây ta lần lượt nghiên
cứu từng chỉ tiêu hiệu quả
Vòng quay vốn kinh doanh
Hệ số này được xác định trên cơ sở so sánh tương đối giữa doanh thu thuần đạt được
trong kỳ với tổng số vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
9
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn=
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Trong đó vốn kinh doanh bình quân trong kỳ được tính theo công thức đơn giản sau:
vốn kinh doanh đầu kỳ+vốn kinh doanh cuối kỳ
vốn kinh doanh=
bình quân trong kỳ 2
1/2V
1
+V
2
+ +V
n-1
+1/2V
n
vốn kinh doanh=
bing quân trong kỳ n-1
Trong đó V
1
,V
2.
V
n
vốn kinh doanh tại các thời điểm đầu tháng hoặc đầu quý trong
kỳ phân tích
Hệ số vòng quay vốn kinh doanh phản ánh cứ mỗi đồng vốn kinh doanh sử dụng
trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hay phải ánh trong kỳ vốn kinh doanh
quay được bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được khả năng sử dụng
tài sản của doanh nghiệp,thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà
doanh nghiệp đã đầu tư.
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
Hệ số này được xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận trong kỳ với vốn kinh doanh bình
quân trong kỳ.
lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh=
vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
10
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn
kinh doanh. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh bình quân được sử dụng
trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận.
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu đo lường mức sinh lời của đống vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này phản
ánh một đồng vốn chủ sở hữu được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời vốn CSH=
Vốn chủ sở hữu
1.2.2 . 2)Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị vốn cố định được đầu tư vào sản xuât kinh doanh
đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng vốn cố định=
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao
Như nối ở trên, biêu hiện vật chất của vốn cố định là tài sản cố định.Do vậy, đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn cố định thông qua đánh giá năng lực sử dụng của tài sản cố
định. Như ta biết rằng: tài sản cố định khi sử dụng sẽ bị hao mòn .Vì vậy, khi đánh giá
tài sản cố định người ta thường đánh giá theo giá trị còn lại sẽ chính xác hơn rất nhiều
so với việc đánh giá theo nguyên giá. Sở dĩ như vậy là vì đánh giá tài sản cố định theo
giá trị còn lại sẽ loại bỏ được phần giá trị của tài sản cố định đã tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh kỳ trước nên nó phản ánh đúng giá trị của tài sản cố định tham
11
gia trong kỳ, đồng thời góp phần giúp Công ty quan tâm hơn đến việc bảo dưỡng, sửa
chữa và sử dụng triệt để các tài sản cố định hiện có.
Doanh thu thuần
Hiệu quả sử dụng vốn cố định=
Số vốn cố định bình quân
Tuy nhiên, chỉ tiêu này rất khó xác định giả trị còn lại và kho so sánh hiệu quả giữa
các loại tài sản cố định khi có chế độ khấu hao khác nhau.
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
Tỷ suất được xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trong kỳ với
số vốn cố định bình quân
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định=
Số vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản cố định
trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu,chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu
suất sử dụng tài sản cố định cao
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Ngoài ra người ta cũng thường dùng các chỉ tiêu như hàm lượng vốn TSCĐ
1.2.2.3)Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động(vòng quay vốn lưu động)
12
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được thể hiện trong chỉ tiêu này. Vốn
lưu động luuan chuyển càng nhanh thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại
Chỉ tiêu này có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển vốn và kỳ luân chuyển
vốn (số ngày của một vòng quay vốn)
Doanh thu thuần
Số lần luân chuyển VLĐ=
VLĐ bình quân trong kỳ
Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong
một thời kỳ nhất định(thường là một năm)
360
Kỳ luân chuyển VLĐ=
VLĐ bình quân trong kỳ
Kỳ luân chuyển vốn phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động
Tỷ suất sinh lời vốn lưu động
Để đánh giá toàn diện và ở mức cao hơn hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta sử
dụng chỉ tiêu hệ số sinh lời vốn lưu động. Hệ số sinh lời vốn lưu động được xác định
trên cơ sở so sánh giữa lợi nhuận đạt được với số vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ=
VLĐ bình quân trong kỳ
13
Chỉ tiêu cho biết với một đồng vốn lưu động mà doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh
sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng
vốn lưu động càng cao và ngược lại.
Ngoài ra người ta cũng dùng một số chỉ tiêu khác như:mức đảm nhiệm TSLĐ,
hàm lượng vốn lưu động,
1.2.3)Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
thì cũng là lúc các doanh nghiệp được giao quyền tự chủ về vốn. Đồng thời với quyền
đó là nghĩa vụ phải bảo toàn và phát triển số vốn đó.Muốn làm tốt điều này doanh
nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,tiết kiệm vốn. Như vậy nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng đối với doanh
nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu cần đạt được của tât cả doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Không một doanh nghiệp nào lại muốn đồng vốn
của mình bị thất bại hoặc không mang lại lợi nhuận. Mục tiêu cuối cùng của các
doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, vì thế việc tìm cách nâng cao lợi nhuận cũng
chính là việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Sử dụng vốn có hiệu quả cũng giúp
doanh nghiệp có thể kéo dài thời gian hữu dụng của các tài sản, tạo ra nhiều lợi nhuận
và hiệu quả kinh tế hơn mà chưa phải đầu tư mua sắm mới.
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế,nếu mọi doanh nghiệp đều sử dung vốn có hiêuh
quả,mọi nghành đều sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình sẽ đem lại sự tăng
trưởng ổn định, bền vững.
Trong cơ chế cũ, các doanh nghiệp hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước,
coi nguồn cấp phá từ ngân sách là giao thẳng cho mình (hay “cho không”) nên việc sử
dụng không quan tâm đến hiệu quả đồng vốn bỏ ra. Việc kinh doanh thua lỗ đã có nhà
nước bù lỗ gây ra tình trạng vốn lãng phí và thất thoát lớn trong quản lý và sử dụng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét