Chơng I
Chi ngân sách Nhà nớc và quản lý chi ngân sách
cho giáo dục và đạo tạo.
1.1. Khái quát về Ngân sách Nhà nớc và chi Ngân sách Nhà nớc:
Ngân sách Nhà nớc là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành
và phát triển của ngân sách nhà nớc gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh
tế hàng hoá tiền tệ trong các phơng thức sản xuất của các cộng đồng và nhà nớc của
từng cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của Nhà nớc, sự tồn tại của kinh tế hàng
hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách
nhà nớc.
Cho đến nay, các nhà nớc khác nhau đều tạo lập và sử dụng ngân sách Nhà n-
ớc, thế nhng ngời ta vẫn cha có sự nhất trí về Ngân sách Nhà nớc là gì ? có nhiều ý
kiến khác nhau về khái niệm Ngân sách Nhà nớc mà phổ biến là:
Thứ nhất: NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nớc trong một
thời gian nhất định (thờng là 1 năm) đợc Quốc hội thông qua để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nớc.
Thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nớc, là kế hoạch tài chính cơ
bản của Nhà nớc.
Thứ ba: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nớc
huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tố hợp
lý của chúng song cha đầy đủ. Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tợng nhng
NSNN là hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nớc, nó là một bộ phận quan trọng cấu
thành Tài chính Nhà nớc. Vì vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện đợc nội dung kinh
tế - xã hội của NSNN, phải đợc xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ
kinh tế chứa đựng trong NSNN.
Xét về mặt hình thức biểu hiện bên ngoài và ở những thời điểm tĩnh tại ngời
ta thấy rằng NSNN là bản dự toán tập hợp tất cả các nội dung thu chi của Nhà nớc
trong khoảng thời gian nhất định nào đó và phổ biến là trong một năm do Chính phủ
lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
5
Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ
thể và đợc định lợng. Các nguồn thu đều đợc nộp vào một quỹ tiền tệ và các khoản
chi đều đợc xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy.
Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối. Cân đối thu
chi NSNN là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trờng và đợc Nhà nớc quan tâm
đặc biệt. Vì lẽ đó có thể khảng định NSNN là một quỹ tiền tệ lớn của Nhà nớc - Quỹ
NSNN.
Tuy vậy, xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN, các khoản thu -
luồng thu nhập quỹ NSNN, các khoản chi - xuất quỹ NSNN đều phản ảnh những
quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nớc với ngời nộp, giữa Nhà nớc với cơ quan đơn
vị thụ hởng quỹ. Hoạt động thu chi NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ
NSNN làm cho vốn tiền tệ, nguồn tài chính vận động giữa một bên là Nhà nớc với
một bên là các chủ thể phân phối và ngợc lại trong quá trình phân phối các nguồn
tài chính. Hoạt động đó đa dạng, phong phú đợc tiến hành trên mọi lĩnh vực và có
tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Những quan hệ thu nộp và cấp phát qua
quỹ NSNN là những quan hệ đợc xác định trớc, đợc định lợng và Nhà nớc sử dụng
chúng để điều chỉnh vĩ mô kinh tế xã hội.
Nh vậy, NSNN, nếu nhìn nhận ở hình thức biểu hiện bên ngoài, là một bản dự
toán thu, chi bằng tiền của Nhà nớc trong một năm. Nếu xét về bản chất bên trong và
trong suốt quá trình vận động, Ngân sách nhà nớc đợc coi là một phạm trù kinh tế,
phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc với các chủ thể kinh tế-xã hội. Nó là
khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính Nhà nớc, đợc Nhà nớc sử dụng để động viên,
phân phối một bộ phận của cải xã hội dới dạng tiền tệ về tay Nhà nớc để đảm bảo
duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thờng của bộ máy Nhà nớc và thực hiện các chức
năng nhiệm vụ về kinh tế, chính trị, xã hội, mà Nhà nớc phải gánh vác
Là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động của NSNN, chi NSNN là
quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách Nhà nớc do quá trình thu tạo lập nên
nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thờng của bộ máy nhà nớc và thực hiện các
chức năng nhiệm vụ của Nhà nớc.
Chi NSNN phản ảnh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo về mặt
vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nớc, với t cách là chủ thể của NSNN trên
hai phơng diện: (1) Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thờng của bộ máy Nhà nớc,
6
(2) Thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà nớc phải gánh vác. Chi NSNN bao
gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau. Giai đoạn thứ nhất là phân phối (phân bổ) quỹ
NSNN cho các đối tợng, mục tiêu khác nhau. Quá trình phân phối đợc thực hiện trên
dự toán và trên thực tế (chấp hành Ngân sách Nhà nớc), dựa trên nhiều tiêu thức
khác nhau nh chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội
thể hiện cụ thể dới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách. Giai đoạn tiếp
theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã đợc phân phối của các đối tợng đợc h-
ởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của
NSNN. NSNN đợc sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nớc trực tiếp, gián tiếp và các
khâu tài chính khác phi Nhà nớc. Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự đợc sử
dụng cho các mục tiêu đã định.
Các khoản chi ngân sách nhà nớc rất đa dạng và phong phú nên có nhiều cách
phân loại chi NSNN khác nhau:
- Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thờng xuyên
và chi không thờng xuyên.
Chi thờng xuyên: là những khoản chi phát sinh tơng đối đều đặn cả về mặt thời
gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi đợc lặp đi lặp lại t-
ơng đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tợng nhất định.
Chi không thờng xuyên: là những khoản chi ngân sách phát sinh không đều
đặn, bất thờng nh chi đầu t phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai, địch hoạ, trong đó,
chi đầu t phát triển đợc coi là phần chủ yếu của chi không thờng xuyên.
- Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi NSNN đợc chia thành chi tích luỹ và
chi tiêu dùng.
Chi tích luỹ là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài. các
khoản chi này chủ yếu đợc sử dụng trong tơng lai nh: Chi đầu t hạ tầng kinh tế- kỹ
thuật, chi nghiên cứu khoa học công nghệ, công trình công cộng, bảo vệ môi trờng,
Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trớc
mắt và hầu nh đợc sử dụng hết sau khi đã chi nh: chi cho bộ máy Nhà nớc, an ninh,
quốc phòng, văn hoá, xã hội, Cụ thể, đó là các khoản chi lơng, các khoản có tính
chất lơng và chi hoạt động. Nhìn chung, chi tiêu dùng là những khoản chi có tính chất
thờng xuyên.
7
- Theo mục tiêu, chi NSNN đợc phân loại thành chi cho bộ máy Nhà nớc và
chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc.
Chi cho bộ máy nhà nớc: bao gồm chi đầu t, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm
các trang thiết bị cần thiết, chi trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, công chức, chi phí thờng
xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nớc (văn phòng phí, hội nghị, công
tác phí ).
Chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc: bao gồm chi cho an ninh
- quốc phòng ( những khoản chi duy trì hoạt động bình thờng của các lực lợng an
ninh, quốc phòng nh chi đầu t, chi mua sắm, chi hoạt động ), chi phát triển văn hoá, y
tế, giáo dục, đảm bảo xã hội, chi phát triển kinh tế là những khoản đầu t cơ sở hạ
tầng quan trọng cho nền kinh tế ( Giao thông, điện và chuyển tải điện, thông tin liên
lạc, thuỷ lợi và cấp thoát nớc, sự nghiệp nhà ở ) và một số nhiệm vụ khác nh : Hỗ trợ
các Đoàn thể chính trị-xã hội, đối ngoại
- Với t cách là quỹ tiền tệ để thanh toán cho các nhu cầu của nhà nớc và tài
trợ cho các đối tợng khác nhau trong xã hội ( Nhà nớc với t cách là ngời mua của thị
trờng ), chi NSNN bao gồm:
Chi thanh toán: là chi trả cho việc Nhà nớc đợc hởng những hàng hoá, dịch vụ
mà xã hội cung cấp cho nhà nớc. Chi thanh toán gắn với hai luồng đi lại: tiền và
hàng hoá, dịch vụ.
Chi chuyển giao: là những khoản chi mang tích chất một chiều từ phía nhà n-
ớc nh tài trợ, trợ cấp, cứu trợ
- Theo quan điểm của kinh tế học công cộng, Ngân sách Nhà nớc đợc xem là
công cụ cung cấp nguồn lực để Nhà nớc thực hiện việc sản xuất và cung cấp những
hàng hoá, dịch vụ cho xã hội. Theo quan điểm này, hàng hoá, dịch vụ đợc phân thành
những hàng hoá, dịch vụ cá nhân ( dùng cho những cá nhân ) và hàng hoá, dịch vụ
công cộng ( nhiều ngời cùng sử dụng một lúc, khó hoặc không thể loại trừ đợc một ng-
ời nào đó muốn sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó ).
Điểm phân biệt nổi bật của hai loại hàng hoá, dịnh vụ này thể hiện qua
vấn đề thu hồi chi phí cung cấp chúng.
8
Đối với hàng hoá, dịch vụ cá nhân thì chi phí cung cấp đợc thu hồi qua
thị trờng bằng việc mua bán thông qua giá cả. Vì vậy, t nhân sẵn sàng cung cấp
những hàng hoá, dịch vụ cá nhân.
Vấn đề thu hồi chi phí cung cấp đối với những hàng hoá dịch vụ công
cộng không đơn giản, cơ chế giá của thị trờng nhiều khi không thể áp dụng đợc vì
không thể phân bổ để thu.
Đối với những hàng hoá dịch vụ công cộng hữu hình, chúng có thể đo
đếm đợc thì có thể áp dụng cơ chế giá nhng không hoàn hảo bằng đối với hàng hoá
dịch vụ cá nhân.
Đối với những hàng hoá dịch vụ vô hình mà ngời ta có thể cảm nhận đ-
ợc bằng giác quan bình thờng ( nh phát thanh truyền hình, giáo dục, y tế ) việc phân
bổ theo khẩu phần rất khó khăn hoặc không thực hiện đợc. Lúc này cơ chế giá thị tr-
ờng hầu nh không áp dụng đợc mà phải dùng cơ chế phí ( mỗi ngời trả một số tiền
nhất định, tổng số tiền của nhiều ngời sử dụng có thể đủ trang trải chi phí cung cấp
dịch vụ đó ). T nhân không hứng thú trong việc cung cấp những dịch vụ loại này, trừ
một số dịch vụ công cộng nhóm có tính loại trừ và tính phân bổ khẩu phần tơng đối
cao nh trong giáo dục, y tế,
Đối với những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình mà ngời ta không
cảm nhận đợc bằng các giác quan bình thờng mà qua t duy mới cảm nhận đợc nh
đảm bảo quốc phòng- an ninh, môi tròng, biện pháp bảo đảm trớc thiên tai ( các
hàng hoá dịch vụ thuần tuý công cộng ) thì tính loại trừ là không thể, cơ chế phí cũng
không thực hiện đợc. Cơ chế duy nhất là Nhà nớc thực hiện cơ chế thuế ( về bản chất
là phân bổ chi phí bình quân theo đầu ngời đợc hởng, dùng nghĩa vụ để bắt buộc ).
Do t nhân không có quyền lực về chính trị - kinh tế to lớn nh Nhà nớc nên không thực
hiện cơ chế này, do đó họ không tham gia cung cấp những hàng hoa, dịch vụ loại này.
Tuy nhiên, những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình không cảm nhận đợc lại là
những hàng hoá, dịch vụ rất quan trọng nên trách nhiệm cung cấp chính là của Nhà
nớc.
Từ đây, chi ngân sách có thể khái quát lại bao gồm:
9
+ Chi đầu t để cung cấp những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình
cần thiết cho xã hội nh an ninh - quốc phòng, đảm bảo môi trờng, phòng chống thiên
tai,
+ Chi đầu t cung cấp các dịch vụ công cộng hữu hình cần thiết mà t
nhân không thể làm đợc hoặc không muốn làm (giao thông, điện và chuyển tải điện, y
tế, giáo dục, )
+ Chi đầu t để cung cấp một số hàng hoá, dịch vụ cá nhân thuộc các
ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn, huyết mạch, có ý nghĩa quyết định đối với nền
kinh tế quốc dân.
1.2 Vai trò chi NSNN cho giáo dục đào tạo
1.2.1. Giáo dục đào tạo đối với sự nghiệp đổi mới đất nớc.
Giáo dục, đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động nâng cao trí tuệ, hiểu biết và
khả năng vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con ngời. Tri
thức là nguồn lực mạnh nhất so với tài nguyên thiên nhiên, tiền bạc của cải và sức
mạnh cơ bắp trong việc tạo ra sản phẩm hàng hoá. Giáo dục -đào tạo giúp chúng ta
tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công nghệ, những nhà quản lý
giỏi, nói chung là tạo ra những con ngời lao động với hàm lợng trí tuệ ngày càng
cao.
Đội ngũ lao động đợc trang bị các kiến thức khoa học, kỹ thuật có trình độ
học vấn và chuyên môn, nghiệp vụ tốt sẽ làm tăng sức hấp dẫn đối với đầu t nớc
ngoài. Ngày nay các công ty xuyên quốc gia, các nhà t bản ở các nớc công nghiệp
phát triển khi đầu t ra nớc ngoài, họ luôn có xu hớng áp dụng những công nghệ tiên
tiến, có hàm lợng kỹ thuật công nghệ cao để nâng cao chất lợng sản phẩm hàng hóa
tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Do đó họ không chỉ hớng vào
những nớc có nguồn nhân công rẻ, mà còn ngày càng chú trọng hơn đến việc đầu t
vào những nơi có đội ngũ lao động đợc đào tạo tốt.
Trình độ học vấn, tri thức khoa học, kỹ thuật công nghệ và sự hiểu biết về xã
hội, con ngời là phơng diện hữu hiệu giúp ngời lao động khắc phục những hạn chế,
thiếu sót và các tập quán xấu, phát huy những truyền thống tốt đẹp, hình thành
những phẩm chất mới tốt đẹp trong sản xuất. Tri thức, hiểu biết có vai trò to lớn chỉ
đạo con ngời lao động.
10
Giáo dục, đào tạo cũng có tác dụng tích cực trong việc giúp cho ngời lao
động có năng lực tự giải quyết công ăn việc làm. Khả năng giải quyết việc làm phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, nhng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng nhất hình thành
năng lực tự giải quyết việc làm của ngời lao động. Thông thờng, những ngời đợc đào
tạo tốt, có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ
chuyên môn và tay nghề cao đễ tìm đợc việc làm cho mình hơn những ngời không
đợc đào tạo hay đào tạo kém thậm chí những ngời đợc đào tạo tốt còn có thể tạo ra
việc làm cho nhiều ngời khác nữa.
Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự tác động to lớn của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại chuyển từ công nghiệp hoá tập trung, chi phí
lớn sang mô hình công nghiệp tự động, tin học hoá, nhỏ, gọn, tiêu tốn ít nhiên liệu,
linh hoạt dễ đổi mới sản xuất theo nhu cầu đa dạng, phong phú của khách hàng. Thị
trờng phong phú và biến động nhanh chóng một nền kinh tế thị trờng nh vậy còn
đòi hỏi ngời lao động có trình độ khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ cao, biết ứng xử
linh hoạt, sáng tạo".
Bớc sang thế kỷ 21, cuộc cánh mạng khoa học-công nghệ sẽ có những bớc
tiến nhảy vọt, đa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông
tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến
động nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Trong quá
trình kinh tế hoá tri thức, con ngời vẫn đợc nhấn mạnh là vị trí hạt nhân, phát triển
vai trò trung tâm vô cùng quan trọng. Vì vậy, nhóm ngành văn hoá giáo dục là quần
thể tri nghiệp sản xuất truyền bá tin tức văn hoá và tri thức, đặc biệt là đào tạo nên
đội quân nhân tài, những ngời sáng tạo ra tri thức trở thành một trong những ngành
lớn nhất. "Một số các công ty lớn đều đang phát triển cơ sở xản xuất nhân tài toàn
cầu của mình. Thậm chí các nớc nh Anh, Mỹ, Ôxtralia đã phát triển cả ngành giáo
dục xuất khẩu". [ ]
Bên cạnh đó, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách
quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nớc
đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia. Sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia sẽ
ngày càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất lợng
hàng hoá và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng.
11
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động của
các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho việc rút ngắn
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nớc trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn.
Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội.
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân
lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao
ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai
sau.
Các nớc trên thế giới đều ý thức đợc rằng giáo dục đào tạo không chỉ là phúc
lợi xã hội mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội nhanh và
bền vững. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã trở thành sự nghiệp sống còn của mỗi
quốc gia. Đầu t cho giáo dục từ chỗ đợc xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu t
cho phát triển, kinh nghiệm cho thấy " Những nớc phát triển kinh tế mạnh mẽ nh
Mỹ, Nhật Bản, các nớc tây âu và các nớc công nghiệp mới (NIC) nh: Singapor, Hàn
Quốc, khu vực Đài Loan đề là những nớc có quan tâm và đầu t cao nhất cho giáo
dục và đào tạo con ngời."[ ]
Nhận thức rõ sứ mạng của giáo dục- đào tạo đối với sự phát triển kinh tế xã
hội, Thời gian qua, Đảng và Nhà nớc ta luôn quan tâm đến công tác giáo dục, đào
tạo. Hồ Chủ Tịch đã từng nói " muốn có chủ nghĩa xã hội, thì phải có những con
ngời xã hội chủ nghĩa . Bác Hồ coi giáo dục và đào tạo là công việc xây dựng con
ngời lao động mới và là một chiến lợc lâu dài " Vì hạnh phúc mời năm trồng cây, vì
hạnh phúc trăm năm trồng ngời .
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta bằng những đờng lối, chính sách đúng
đắn, phù hợp nên đã đa đất nớc vợt qua nguy cơ khủng hoảng, đạt những thành tựu
đáng kể. Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội của
Đảng đã khẳng định " Khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo phải xem là quốc
sách hàng đầu . Giờ đây, chúng ta đang bớc vào thời kỳ phát triển mới là đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đại hội IX của Đảng đã tiếp tục khẳng định
con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian
so với các nớc đi trớc, vừa có những bớc tuần tự, vừa có những bớc nhảy vọt.
Để đi tắt đón đầu từ một đất nớc kém phát triển thì vai trò của giáo dục và
khoa học công nghệ lại càng có tính quyết định. Muốn nhanh chóng hiện đại hoá
12
nền sản xuất cần phải nắm bắt đợc xu thế mới của công nghiệp hoá, hớng tới làm
chủ những ngành sản xuất mũi nhọn, những công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Hơn
lúc nào hết chúng ta cần nhanh chóng tạo đợc một đội ngũ công nhân trí thức đông
đảo. Vì vậy, việc phát triển giáo dục đào tạo nh thế nào để có đợc những con ngời
lao động với chất lợng cao, phát triển toàn diện ngày càng có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng.
Có thể nói giáo dục và đào tạo là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của
toàn Đảng, toàn dân trong thời gian qua. Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục - đào
tạo đợc coi là khâu đột phá cho những định hớng chiến lợc về mục tiêu, giải pháp
chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội cho đến năm 2010 - 2020.
Một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho ngành giáo dục đào tạo
thực hiện đợc mục tiêu phát triển đặt ra cho từng thời kỳ đó là sự đầu t tài chính cho
công tác này. Cần phải có chính sách huy động tích cực mọi nguồn vốn kể cả trong
ngân sách và ngoài ngân sách để phục vụ cho các hoạt động giáo dục đào tạo. Trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trờng nh hiện nay, các nguồn lực trong nhân dân,
trong các tổ chức, doanh nghiệp và đoàn thể có vai trò quan trọng nhng đồng thời
cũng cần phải thấy rõ vai trò trọng tâm của Nhà nớc trong việc đầu t phát triển sự
nghiệp giáo dục đào tạo ở nớc ta.
1.2.2. Vai trò chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo.
Chi ngân sách nhà nớc cho giáo dục đào tạo là quá trình phân phối sử dụng
một phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhà nớc để duy trì, phát triển sự nghiệp giáo
dục - đào tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
Vai trò của chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài
chính để duy trì, cũng cố các hoạt động giáo dục - đào tạo mà còn có tác dụng định
hớng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đờng lối chủ trơng của đảng
và Nhà nớc.
Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ vốn đầu
t cho giáo dục - đào tạo do NSNN đài thọ. Nguồn kinh phí này đã đóng vai trò quyết
định trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, góp phần phát triển nâng cao
trình độ dân trí, đào tạo ra những lớp ngời có đủ năng lực, trí tuệ đóng góp vào sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
13
Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức với quan điểm
"Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng , Đảng và Nhà nuớc ta đã có chủ trơng "
Xã hội hoá giáo dục và đào tạo . Gắn liền với chủ trơng đó, Nhà nớc thực hiện mở
rộng đa dạng hoá các nguồn vốn đầu t cho giáo dục kể cả trong nớc và nớc ngoài "
Nhà nớc u tiên đầu t và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nớc, ngời Việt nam
định c ở nớc ngoài, các tổ chức, cá nhân nớc ngoài đầu t cho giáo dục .
Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu t cho giáo dục đào tạo nh vậy
những nguồn vốn đầu t từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò chủ đạo
của chi NSNN cho giáo dục đào tạo đợc thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất: Ngân sách Nhà nớc luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để
duy trì, định hớng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đờng lối,
chủ trơng của Đảng và Nhà nớc.
Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Nhà nớc
luôn phải quan tâm và có sự đầu t thích đáng " Ngân sách Nhà nớc giữ vai trò chủ
yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục đào tạo . Chính vì vậy mà nguồn vốn đầu t
của ngân sách Nhà nớc luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu t cho giáo
dục và đào tạo.
Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng chính sách
để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu t cho giáo dục nh chính sách về đóng
góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựng trờng, đóng góp phí đào tạo từ
phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách u đãi về thuế, huy động các nguồn
tài trợ khác cho giáo dục đào tạo Tuy nhiên do việc xã hội hoá trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nớc phát triển cha mạnh
nên sự đóng góp cho giáo dục còn hạn chế. Vì vậy, cho dù đối tợng chi có giảm đi
nhng kinh phí đầu t của NSNN cho giáo dục đào tạo hàng năm không giảm mà ngày
một tăng lên, tỷ trọng chi NSNN cho giáo dục đào tạo trong tổng chi NSNN tăng từ
10,4% năm 1991 lên 14,04% năm 1999 và năm 2000 đạt 15%. Trong thời gian tới,
thực hiện chiến lợc phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 tỷ trọng này sẽ tiếp tục
đợc nâng lên ở mức ít nhất 18% năm 2005 và 20% năm 2010 [ ]
Nếu xem xét dới giác độ tổng số vốn đầu t cho giáo dục đào tạo thì vốn
NSNN cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu, theo số liệu của Bộ Tài chính giai đoạn 1996-
1999, tỷ trọng vốn NSNN thông thờng chiếm khoảng 74-80% trong tổng số vốn đầu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét