Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014
Giải pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng huy động vốn tại ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương
Vốn tiên gửi này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các ngân
hàng. Vì qui mô của nó lớn hơn rất nhiều so với các nguồn vốn khác,
thông thường nó chiếm khoảng 50% tổng nguồn vốn.
Đặc điểm của nguồn vốn này là chúng được thanh toán khi khách
yêu cầu ngay kể cả khi chưa đến hạn. Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi
ngắn hạn làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng. Do sự biến động
của nó nên các ngân hàng sẽ không sử dụng hết nguồn vốn này vào kinh
doanh mà phải dự trữ bắt buộc một tỉ lệ hợp lý để đảm bảo cho việc
thanh toán.
Lãi suất, tỷ giá, thu nhập cá nhân, chu kỳ tiêu dùng có ảnh hưởng
lớn đến loại nguồn vốn này. Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các
doanh nghiệp, dân cư gửi và cho vay. Địa điểm ngân hàng, mạng lưới chi
nhánh và quầy tiết kiệm, các loại hình huy động đa dạng đều ảnh hưởng
đến tới qui mô và cấu trúc của nguồn tiền. Chu kỳ chi tiêu ảnh hưởng tới
qui mô và tính ổn định của nguồn tiền. Cuối năm lễ tết dân chúng và các
doanh nghiệp cần rất nhiều tiền mặt để chi tiêu, vì thế nguồn tiền này co
xu hướng giảm. Ở những nơi có thu nhập cao như các thành phố dân cư
đông hình thành nguồn tiền gửi lớn. Thu nhập gia tăng là điều kiên để gia
tăng qui mô và thay đổi kì hạn của nguồn tiền. Khi ngân hàng mở rộng
cho vay, tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân cũng gia tăng. Các
nguồn gửi thanh toán thường biến động mạnh ( kém ổn định ) hơn tiền
gửi tiết kiệm.
2.3 Vốn đi vay
Là số vốn mà NHTM vay của NHTW và các tổ chức tín dụng khác
trong trường hợp cần thiết cho thanh toán. Nguồn vốn này thường có thời
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
5
hạn và qui mô xác định trước, do vậy tạo được sự ổn định cho ngân hàng.
Nguồn vốn này có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền
gửi. Tuy nhiên do rủi ro lớn nên lãi suất cho vay thường lớn hơn lãi suất
tiền gửi với cùng kỳ hạn. Các NHTM vay NHTW dưới hai hình thức vay:
thanh toán và tái cấp vốn. Việc NHTW cho các NHTM vay dưới hình
thức chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá trước kia mà NHTM
đã mua trên thị trường sơ cấp. Ngoài ra NHTW còn cho các NHTM vay
theo sơ đồ tín dụng.
Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và
sự ổn định vĩ mô sau đến là các kĩ thuật nhiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo
tính thanh khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay.
Mặc dù lãi suất thường xuyên cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng
vẫn phải sử dụng phát hành giấy tờ nợ trung và dài hạn khi tiền gửi
khong đáp ứng được những yêu cầu như ổn định, qui mô đủ lớn trong
khoảng thời gian xác định.
2.4 Các nguồn vốn khác
Bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán
Nguồn uỷ thác
NHTM thực hiện các dịch vụ ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy
thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ. Các hoạt động này tạo nên
nguồn ủy thác tại ngân hàng.Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa
phương, rất nhiều tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu như ngân hàng,
có nguồn tài chính, đã sử dụng mạnh lưới ngân hàng như kênh dẫn vốn
tới các mục tiêu. Kết quả là hình thành nguồn ủy thác, làm gia tăng
nguồn vốn của ngân hàng.
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
6
Nguồn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành
nguồn thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền ký quĩ để mở L/C )
Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ
tiền gửi của ngân hàng các thành viên chuyển về để thực hiện.
II. Huy động vốn của ngân hàng thương mại
1. Khái niệm
Huy động vốn là một nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm thu hút vốn
từ bên ngoài để phục vụ cho kinh doanh của mình.
2. Các hình thức huy động vốn
Các hình thức huy động vốn có thể được phân loại theo tiêu thức phổ
biến : theo thời gian huy động, theo đối tượng huy động, theo loại động
tiền huy động và theo công cụ huy động.
Phân loại theo thời gian huy động
Cách huy động này gồm ba hình thức :
Huy động ngắn hạn
Là hình thức huy động vốn với thời gian từ 12 thánh trở xuống. Vốn
ngắn hạn luôn chiêm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn huy động của các
NHTM và được hình thành chủ yếu từ tiền gửi thanh toán của các tổ chức
kinh tế, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền thu được từ việc phát hành kỳ
phiếu ngân hàng.
Do thời gian huy động ngắn nên độ rủi ro trong hình thức huy động này
thấp hơn các hình thức huy động vốn dài hạn. Vì vậy lãi suất huy động
ngắn hạn bao giờ cũng thấp hơn lãi suất trung và dài hạn.
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
7
Huy động trung hạn
Là hình thức huy động vốn trong thời gian từ 1-5 năm. Vốn trung hạn
được hình thành chủ yếu từ tiền gửi tiết kiệm trung hạn của dân cư, vốn
uỷ thác, vốn thu được do phát hành trái phiếu trung hạn của ngân hàng.
NTHM thường sử dụng nguồn vốn này và một tỷ lệ thích hợp vốn ngắn
hạn để cho vay trung và dài hạn như cho vay các dự án sản xuất kinh
doanh, cho vay tiêu dùng.
Huy động vốn dài hạn
Là hình thức huy động vốn trong thời gian lớn hơn 5 năm. Nguồn cung
cấp cho hình thức huy động vốn này thường nhỏ hơn nhiều lần so với
hình thức huy động vốn ngắn hạn hơn và nó chủ yếu bao gồm vốn thu
được do phát hành trái phiếu ngân hàng, vốn uỷ thác. Ngoài ra, tiền gửi
tiết kiệm dài hạn thông thường, tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm cho các kế
hoạch chi tiêu trong tương lai của cư cũng như đóng góp một tỷ lệ không
nhỏ.
Ở nước ta, vốn huy động trong thời hạn dưới 1 năm được gọi là
ngắn hạn, từ 1-3 năm gọi là vốn trung hạn và từ 3 năm trở lên gọi là vốn
dài hạn
2.2 Phân loại theo đối tượng huy động
Theo cách phân loại này, huy động vốn có thể chia ra làm 4 nhóm
sau :
Dân cư
Đây là nguồn có nhiều tiềm năng nhất, cung cấp cho ngân hàng
một nguồn vốn có qui mô lớn và tính ổn định cao. Dân cư có thu nhập và
tích trữ nhưng một bộ phận lại không có khả năng hoặc điều kiện trực
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
8
tiếp đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nhu cầu sinh lợi đã khiến cho bộ
phận này tiến hành đầu tư gián tiếp thông qua việc gửi vào ngân hàng, ủy
thác vốn cho ngân hàng, nắm giữ các chứng khoán mua bảo hiểm. Lý do
khác khiến người dân gửi tiêng vào ngân hàng là do nhu cầu đảm bảo an
toàn vốn của họ hoặc giúp họ thực hiện các chương trình tiết kiệm cho
tương lai hoặc vì những tiện ích mà các sản phẩm của ngân hàng mang
lại.
Tổ chức kinh tế
Ngày nay, hầu hết các tổ chức kinh tế đều mở tài khoản tiền gửi
thanh toán tại ngân hàng để thuận tiện cho việc giao dịch của mình. Số
dư trên mỗi tài khoản này thường xuyên biến động : doanh thu các tổ
chức kinh tế nộp vào làm tăng số dư có tài khoản này, ngược lại các
khoản thanh toán hoặc rút tiền mặt sẽ làm giảm số dư này. Tuy nhiên,
xét trên tổng thể các tài khoản này đã đem lại cho ngân hàng một lượng
vốn khá ổn định, đặc biệt là đối với các NHTM có số lượng khách hàng
là các tổ chức kinh tế. Phát triển và quản lý tốt tài khoản này cho phép
ngân hàng có được một nguồn vốn đáng kể với chi phí thấp.
Các NHTM và các tổ chức tín dụng khác.
Đây là đối tượng huy động vốn khá thường xuyên của các NHTM.
NHTM huy động vốn từ các đối tượng này dưới hình thức vay ngắn trên
thị trường liên ngân hàng nhằm mục đích đảm bảo khả năng thanh toán,
bù đắp thiếu hụt tạm thời. Các NHTM và tổ chức tín dụng khi có dự trữ
vượt quá yêu cầu ( do có sự gia tăng bất ngờ về các khoản huy động hoặc
giảm cho vay ) họ sẵn sàng cho vay ngắn hạn các khoản tiền tạm thời
nhàn rỗi này để thu lợi nhuận.
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
9
Ngoài ra, việc một NHTM này mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
một NHTM khác cho phép NHTM giữ tài khoản một lượng vốn nhất
định, mặc dù nguồn vốn này có tính ổn định rất thấp.
Ngân hàng Trung ương
NHTM vay vốn của NHTW khi không còn huy động được nguồn
nào khác, và chỉ vay bù đắp thiếu hụt tạm thời hoặc đảm bảo khả năng
thanh toán.NHTW cho NHTM vay chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu
hoặc cầm cố các thương phiếu mà NHTM nắm giữ.
NHTW thực hiện những khoản cho vay trên chủ yếu nhằm mục đích
thực thi chính sách tiền tệ của mình,giữ cho hệ thống thanh toán vận hành
được trôi chảy hoặc để đảm bảo an toàn hê thống ngân hàng. NHTW do
vậy có qui định rất chặt chẽ trong việc cho vay này nhằm buộc các
NHTM phải quản lý nguồn vốn của mình một cáhc có hiệu quả, đảm bảo
cho các nhu cầu sử dụng và khả năng thanh toán của mình, đồng thời
cũng buộc các NHTM phải năng động và nỗ lực tìm kiếm các nguồn
khác trên thị trường tài chính trước khi nghĩ đến việc vay từ NHTW.
2.3 Phân loại theo loại đồng tiền huy động
Tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng của bản thân và khả năng cung cấp
của thị trường mà NHTM có thể huy động vốn bằng các loại tiền tệ khác
nhau. Huy động vốn bằng đồng ngoại tệ, các ngân hàng phải cân nhắc
đến rủi ro hối đoái, lạm phát, lãi suất tương ứng trên thị trường quốc tế để
có lãi suất, kỳ hạn, qui mô huy động cho phù hợp đảm bảo kế hoạch huy
động và hiệu quả.
Theo tiêu thức phân loại này, huy động vốn chia làm hai loại :
+ Huy động vốn bằng đồng bản tệ
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
10
+ Huy động vốn bằng đồng ngoại tệ
Ở Việt Nam hiện nay, USD và EUR là đồng ngoại tệ chủ yếu được
NHTM tổ chức huy động và nó trở thành một nguồn vốn quan trọng,
chiếm một tỉ trọng không nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của
NHTM.
2.4 Phân loại theo công cụ huy động
Huy động bằng nghiệp vụ nhận tiền gửi
NHTM thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi từ các đối tượng khác nhau
như : dân cư, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội ,các ngân hàng, chúng ta
có thể phân các món tiền gửi này theo các nhóm
Tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử
dụng để tiến hành thanh toán chi trả các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và
các chi phi phát sinh khác trong quá trình kinh doanh hoạt động một cách
thưòng xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền gửi thanh toán thường dược
bảo quản ở ngân hàng trên hai loại tài khoản : tài khoản tiền gửi thanh
toán và tiền gửi vãng lai. Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, việc rút
tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc hay
chuyển khoản. Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đich đảm bảo
thế năng và sử dụng dễ dàng thuận lợi đồng vốn của mình khi cần. Tài
khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư nợ có lúc dư có. Với tài khoản này,
khách hàng còn có thể được ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong
một khoảng thời gian nhất định.
Về phía ngân hàng, mặc dù tiền gửi thanh toán nếu xét trên từng món
là nguồn vốn không ổn định, ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán nó tại bất
kỳ thời điểm nào theo yêu cầu của chủ tài khoản. Nhưng nếu xét trên
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
11
tổng thể các khoản tiền gửi với qui mô khá ổn định. Quản lý và dự báo
tốt tình hình biện động tiền gửi thanh toán sẽ giúp ngân hàng có một
nguồn vốn không nhỏ với chi phí thấp phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của mình, đặc biệt các hoạt động vay ngắn hạn, các hoạt động nắm giữ
các tài sản sinh lời có tính lỏng cao như tín phiếu kho bạc.
Bên cạnh đó, ngân hàng còn có thu nhập từ thu phí dịch vụ thanh toán.
Tiền gửi thanh toán là một nguồn vốn quan trọng đem lại nhiều lợi ích
cho ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng luôn cố gắng huy động ngày càng
nhiều loại tiền này.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức gửi vào ngân
hàng với mục đích hưởng lãi là chính, bên cạnh mục đích an toàn hoặc để
thực hiện các chương trình tiết kiệm cho tương lai. Khách hàng không thể
trực tiếp sử dụng tiền trong tài khoản tiết kiệm để thanh toán qua ngân
hàng. Tiền gửi tiết kiệm có thể có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn. Sử dụng
hình thức gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có quyền rút tiền ra bất
cứ lúc nào họ muốn. Tuy nhiên, lãi suất cho hình thức này thấp hơn lãi
suất cho hình thức gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Sử dụng hình thức gửi tiết
kiệm có kỳ hạn, khách hàng cũng có thể rút tiền trước kỳ hạn khi họ
muốn. Trong trường hợp này thì khách hàng sẽ chỉ được nhận với lãi suất
bằng lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm, đặc biệt là loại có kỳ hạn được đánh giá là nguồn
vốn quan trọng đối với các NHTM bởi tính ổn định và khả naeng cung
ứng cực lớn của thị trường mặc dù chi phí huy động tương đối cao. Nắm
giữ nguồn vốn này trong tay, các NHTM vó thể tiến hành cjo vay trung
và dài hạn nhiều hơn với độ rủi ro thanh khoản thấp.
Các NHTM ở nước ta hiện nay đang thiếu vốn để cho vay trung và dài
hạn. Trong tình hình nhu cầu của nền kinh tế về loại vốn này không
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
12
ngừng gia tăng, tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm của dân cư đang
là nhiệm vụ trọng tâm của nhiều ngân hàng.
Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu
Để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là việc
cho vay trung và dài hạn, NHTM chủ động huy động vốn bằng việc phát
hành kỳ phiếu và trái phiếu trên thị trường tái chính.
Kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng đều là các giấy tờ nhận nợ của ngân
hàng, trong đó ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ
cả gốc và lãi cho người nắm giữ nó. Kỳ hạn huy động là điểm khác nhau
cơ bản giữa hai công cụ ghi nợ trên: kỳ phiếu ngân hàng dùng để huy
động vốn ngắn hạn ; trái phiếu ngân hàng dùng để huy động vốn trung và
dài hạn. Kỳ phiếu có thời gian ngắn hơn, tính lỏng hơn trái phiếu nên
được thị trường ưa thích hơn. Vì vậy, các NHTM phát hành kỳ phiếu
thường xuyên hơn phát hành trái phiếu. Trái phiếu thường được các ngân
hàng phát hành để chuẩn bị tài trợ cho những dự án cụ thể có vốn đầu tư
lớn, thời hạn dài.
Huy động vốn qua nghiệp vụ uỷ thác
NHTM thực hiện các nghiệp vụ ủy thác như : ủy thác cho vay. ủy thác
đầu tư, ủy thác giải ngân, ủy thác thu hộ. Theo đó ngân hàng thực hiện
các hoạt động cho vay, đầu tư giải ngân cho khách hàng của mình bằng
nguồn vốn của họ. Nhưng cũng thực hiện hoạt động thu hộ cho khách
hàng khi họ yêu cầu. Thực hiện nghiệp vụ ủy thác, bên cạnh lợi ích từ
việc thu phí dịch vụ ngân hàng còn được nắm giữ vốn ủy thác của khách
hàng và có thể sử dụng nguồn vốn không phải trả lãi này trong những
khoảng thời nhất định.
Các ngân hàng thường nhận được ủy thác cho vay, ủy thác giải ngân
của khách hàng lớn như chính phủ, các tổ chức kinh tế lớn, các tổ chức
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
13
kinh tế và chính phủ nước ngoài. Do vậy vốn ủy thác thường có qui mô
lớn.
Vốn ủy thác là một nguồn vốn chi phí thấp, qui mô lớn và việc sử
dụng nó thường nằm trong kế hoạch nên giúp ngân hàng chủ động trong
sử dụng. Do vậy các NHTM luôn cố gắng mở rộng nguồn vốn này.
III - Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của
ngân hàng thương mại.
1. Các yếu tố bên ngoài
Thực trạng nền kinh tế
Sự ảnh hưởng của nền kinh tế đến hoạt động huy động vốn của hệ
thồng NHTM dưới 2 giác độ :
Khi nền kinh tế đang trong tăng thời kỳ tăng trưởng sẽ tạo ra hàng loạt
các điều kiện thuận lợi cho công tác huy động vốn như sự tích luỹ của
nền kinh tế cao, các doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất, nhu
cầu đầu tư cao. Các dịch vụ của ngân hàng được sử dụng nhiều hơn tạo ra
các nguồn vốn cho ngân hàng.
Ngược lại khi nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái thì sản xuất
kinh doanh của mọi thành phần kinh tế đình đốn, vật tư hàng hoá ứ đọng,
công nhân thất nghiệp… dẫn đến thu nhập của các doanh nghiệp và dân
chúng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, điều đó đồng nghĩa tích luỹ trong nền
kinh tế giảm mạnh. Các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào kinh doanh
sản xuất. Và sự lạm phát luôn đi kèm với nền kinh tế suy thoái, làm giá
trị đồng tiền giảm. Tâm lý của dân chúng không muốn gửi tiền vào ngân
Phạm Tuấn Long Quản lý công – K46
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét