MỤC II: QUẢN LÝ, XỬ LÝ TÀI SẢN CÓ QUYẾT ĐỊNH TỊCH THU SUNG QUỸ
NHÀ NƯỚC
Điều 8: Việc xử lý đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước được thực
hiện như sau:
1. Nguyên tắc xử lý chung:
1.1. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày ra quyết định tịch thu tài sản, cơ quan ra quyết
định phải thực hiện thông báo bằng văn bản cho cơ quan tài chính.
1.2. Đối với tài sản tịch thu là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng, cơ quan ra quyết định tổ
chức bán ngay, số tiền bán được nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính cấp
huyện trở lên mở tại Kho bạc Nhà nước theo quy định hiện hành.
1.3. Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quí, kim loại quý, cơ quan ra
quyết định nộp ngay các tài sản này vào Kho bạc Nhà nước và chuyển giao những giấy
tờ, tài liệu, chứng từ có liên quan tới tài sản đó cho cơ quan Tài chính cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương để tổ chức xử lý;
1.4. Đối với tài sản đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao cho cơ quan
Nhà nước có chức năng quản lý, sử dụng thì cơ quan tài chính phối hợp với cơ quan ra
quyết định tổ chức việc chuyển giao tài sản đó theo đúng quyết định và các quy định tại
Quy chế này;
1.5. Đối với tài sản có quyết định bán sung quỹ Nhà nước, cơ quan ra quyết định bàn giao
tài sản kèm theo hồ sơ gồm: Quyết định tịch thu, biên bản tịch thu, các bản sao hồ sơ,
giấy tờ, tài liệu có liên quan đến các tài sản tịch thu đó cho cơ quan tài chính.
2. Quy định cụ thể đối với một số loại tài sản:
2.1. Đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước của cơ quan toà án đã được
cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án thông báo và chuyển
giao tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp để cơ quan tài
chính tổ chức xử lý.
2.2. Đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính về
lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản:
- Đối với gỗ, lâm sản quý hiếm hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ quý, lâm sản quý hiếm
cùng phương tiện bị tịch thu phải được bán đấu giá do Hội đồng bán đấu giá cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) tổ chức xử lý.
- Đối với gỗ, lâm sản quý hiếm hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ quý, lâm sản quý hiếm đã
được cơ quan chuyên môn xác định là kém phẩm chất thì UBND cấp tỉnh quyết định
phương thức bán.
- Đối với gỗ, lâm sản hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ không thuộc diện quý hiếm có giá trị
từ 10 triệu đồng trở lên (giá khởi điểm) đối với mỗi quyết định xử lý thì cơ quan kiểm
lâm chuyển giao cho cơ quan tài chính cùng cấp tổ chức xử lý.
- Đối với gỗ, lâm sản hoặc sản phẩm chế biến từ gỗ không thuộc diện quý hiếm có số
lượng ít, phân tán, có giá trị từ 10 triệu đồng trở xuống đối với mỗi quyết định xử lý thì
cơ quan kiểm lâm phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp bán cho các đối tượng được
phép sử dụng theo giá do UBND cấp tỉnh quy định.
- Đối với lâm sản khác (không thuộc loại kể trên) và động vật rừng còn sống, căn cứ vào
từng loại thú rừng cụ thể, cơ quan kiểm lâm phối hợp với cơ quan tài chính tổ chức thả
vào rừng hoặc bán cho cá nhân, tổ chức được phép gây nuôi phát triển, nghiên cứu khoa
học, phục vụ nhu cầu văn hoá đời sống theo giá thị trường địa phương.
- Trường hợp một Hạt kiểm lâm quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn
nhiều huyện tịch thu được lâm sản đang trên đường vận tải thì lâm sản tịch thu thuộc
huyện nào thì Hạt kiểm lâm phối hợp với Phòng tài chính huyện đó tổ chức xử lý bán nếu
gỗ, lâm sản đó không thuộc loại quý hiếm. Nếu Hạt kiểm lâm tịch thu lâm sản không
thuộc các địa phương mình quản lý thì Hạt kiểm lâm phối hợp với Phòng tài chính huyện
nơi Hạt kiểm lâm tịch thu lâm sản để xử lý bán nếu gỗ, lâm sản đó không thuộc loại quý
hiếm.
2.3. Đối với các xã ở xa trung tâm huyện, các xã giáp biên giới thường xuyên xử lý tịch
thu hàng hoá nhập lậu hoặc tài sản sung quỹ Nhà nưóc là loại hàng nông sản, thực phẩm
tươi sống khó bảo quản, hoặc hàng hoá khác có giá trị dưới 500.000 đồng trên 1 lô hàng
xử lý, thì UBND xã tổ chức bán đấu giá theo quy định.
MỤC III: QUẢN LÝ, XỬ LÝ TÀI SẢN ĐƯỢC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ
NƯỚC
Điều 9: Việc xử lý tài sản có quyết định xác lập quyền sở hữu Nhà nước được thực hiện
như sau:
1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xác lập sở hữu Nhà nước đối với các
tài sản vô chủ; tài sản bị chôn giấu, chìm đắm, trôi dạt được tìm thấy và những tài sản bị
đánh rơi bỏ quên đến thời hạn trở thành sở hữu Nhà nưóc và những di sản không có
người thừa kế theo quy định của pháp luật, cơ quan ra quyết định thực hiện thông báo cho
cơ quan tài chính.
2. Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim loại quý, cơ quan ra
quyết định nộp các tài sản này vào Kho bạc Nhà nước và chuyển giao những giấy tờ, tài
liệu chứng từ có liên quan đến tài sản cho cơ quan tài chính cấp tỉnh để tổ chức xử lý.
3. Đối với tài sản được phép bán, cơ quan ra quyết định bàn giao tài sản, giấy tờ cho cơ
quan tài chính, kèm theo tài sản gồm: Quyết định hay văn bản xác lập quyền sở hữu Nhà
nước; Biên bản thu giữ tài sản và các bản sao tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản.
4. Đối với tài sản có quyết định chuyển giao cho cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng, cơ
quan ra quyết định xác lập quyền sở hữu Nhà nước phối hợp với cơ quan Tài chính thực
hiện việc chuyển giao cho cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý, sử dụng hoặc cơ
quan tài chính để xử lý theo đúng quyết định của cấp ra quyết định chuyển giao tài sản.
5. Đối với tài sản do các tổ chức, cá nhân trong nước hiến tặng, đóng góp hoặc giao tài
sản dưới mọi hình thức cho cơ quan Nhà nước quản lý sử dụng được thực hiện như sau:
5.1. Cơ quan, tổ chức Nhà nước được giao tài sản phải báo cáo với cơ quan tài chính
cùng cấp về nguồn gốc, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng tài sản và có
trách nhiệm quản lý, sử dụng các tài sản này theo đúng các quy định của Nhà nước;
5.2. Cơ quan tài chính Nhà nước tổ chức định giá tài sản, thực hiệnviệc ghi chép tăng tài
sản và hạch toán qua ngân sách Nhà nước theo đúng chế độ hiện hành.
5.3. Tài sản được hiến tặng, đóng góp là tiền VN, ngoại tệ, vàng bạc, kim loại quý hiếm,
đá quý thì thực hiện quản lý, sử dụng theo đúng chính sách chế độ hiện hành.
MỤC IV: TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ, XỬ LÝ TÀI SẢN TỊCH THU SUNG QUỸ
NHÀ NƯỚC VÀ TÀI SẢN XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ NƯỚC CỦA CƠ
QUAN TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
Điều 10: Việc quản lý, xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước của cơ quan tài chính Nhà nước
được thực hiện như sau:
1. Nguyên tắc xử lý chung:
1.1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan ra quyết định,
cơ quan tài chính phải tổ chức tiếp nhận tài sản sung quỹ Nhà nước quy định tài Điều 1
của Quy chế này hoặc uỷ quyền cho cơ quan ra quyết định tiếp tục bảo quản tài sản đó
cho đến khi hoàn tất việc xử lý;
Giấy uỷ quyền cho cơ quan ra quyết định tiếp tục bảo quản hoặc bán tài sản sung quỹ
Nhà nước theo mẫu ban hành kèm theo quy chế này (Mẫu biểu số 2);
1.2. Đối với những tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở
hữu Nhà nước mà cơ quan tài chính đã tiếp nhận về kho của mình thì cơ quan tài chính có
trách nhiệm bảo quản và tổ chức xử lý. Đối với những tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước
và tài sản được xác lập quyển sở hữu Nhà nước mà cơ quan tài chính đã uỷ quyền cho cơ
quan ra quyết định tiếp tục bảo quản thì cơ quan tài chính có trách nhiệm theo dõi và tổ
chức xử lý theo đúng các quy định tại Quy chế này.
Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim loại quý nộp Kho bạc
Nhà nước, cơ quan tài chính có trách nhiệm theo dõi hồ sơ, tài liệu làm căn cứ đối chiếu
và xử lý sau này.
1.3. Trình cấp có thẩm quyền thành lập Hội đồng định giá và bán đấu giá; tổ chức việc
bán đấu giá các tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu
Nhà nước theo đúng các quy định về bán đấu giá tại Quy chế này và các quy định khác
của Nhà nước.
1.4. Quản lý các khoản thu, chi trong quá trình quản lý, xử lý tài sản tịch thu sung quỹ
Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo đúng các chế độ của Nhà nước.
2. Quy định cụ thể đối với một số loại tài sản:
2.1. Đối với tài sản là vàng bạc, kim loại quý, đá quý, sau khi tiếp nhận hồ sơ xác lập sở
hữu Nhà nước về tài sản và các tài liệu, chứng từ giao nộp tài sản này vào Kho bạc Nhà
nước, cơ quan tài chính trình UBND cấp tỉnh, quyết định thành lập Hội đồng định giá và
bán đấu giá tài sản bao gồm đại diện Sở Tài chính - Vật giá làm chủ tịch Hội đồng, cơ
quan ra quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước và xác lập sở hữu Nhà nước làm phó Chủ
tịch Hội đồng, thành viên hội đồng là Kho bạc Nhà nước và một số cơ quan khác có liên
quan tiến hành giám định chất lượng, định giá và tổ chức bán đấu giá đối với số tài sản
đó.
Tiền thu được từ bán vàng bạc, đá quý, kim loại quý thông qua tài khoản tạm giữ của cơ
quan tài chính để nộp vào Ngân sách Nhà nước sau khi trừ đi các chi phí về giám định
chất lượng, kiểm kê, định giá, tổ chức bán đấu giá và chi thưởng cho cơ quan ra quyết
định hoặc người có công phát hiện theo quy định hiện hành.
2.2. Đối với tài sản là ngoại tệ, thì Sở Tài chính - Vật giá và kho bạc Nhà nước cấp tỉnh
thực hiện ghi thu quỹ ngoại tệ tập trung (theo nguyên tệ) số ngoại tệ ngày, đồng thời quy
đổi ngoại tệ đó ra đồng tiền Việt Nam theo tỷ giá hạch toán do Bộ Tài chính công bố để
hạch toán thông qua Tài khoản tạm giữ của Sở Tài chính - Vật giá để xử lý và nộp vào
ngân sách Nhà nước theo quy định hiện hành.
2.3. Đối với tài sản sung quỹ Nhà nước có quyết định chuyển giao cho các cơ quan chức
năng quản lý, sử dụng:
- Đối với tài sản là bất động sản, phải tổ chức đo vẽ, lập hồ sơ nhà đất và xác định giá trị
còn lại của nhà, vật kiến trúc trên đất, thực hiện hạch toán qua Ngân sách Nhà nước bằng
hình thức ghi thu, ghi chi cho cơ quan Nhà nước được nhận tài sản đã quản lý và sử dụng
theo quy định của Nhà nước.
- Đối với tài sản là động sản, phải tổ chức giám định, xác định giá trị còn lại của động sản
và có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ và hướng dẫn đơn vị nhận tài sản làm
các thủ tục đăng ký tài sản (đối với các tài sản phải đăng ký) theo đúng quy định của Nhà
nước và hạch toán qua Ngân sách Nhà nước bằng hình thức ghi thu, ghi chi cho cơ quan
Nhà nước được nhận tài sản và quản lý, sử dụng theo quy định của Nhà nước.
2.4. Đối với tài sản là nhà đất, vật kiến trúc gắn liền với nhà đất, trong quá trình bảo quản
và lập phương án sử dụng trình cấp có thẩm quyền quyết định, cơ quan tài chính tổ chức
cho thuê để tận thu cho ngân sách và bù đắp chi phí về quản lý tài sản theo chế độ quy
định. Khi có quyết định của cơ quan Nhà nước về việc sử dụng bất động sản này, cơ quan
tài chính có trách nhiệm thu hồi tài sản cho thuê và thực hiện theo quyết định đó.
2.5. Đối với tài sản theo quy định phải tái xuất, sau khi tiếp nhận tài sản, cơ quan tài
chính trình UBND cấp tỉnh thành lập Hội đồng định giá và tổ chức xử lý theo đúng các
quy định tại Quy chế này.
Chương 3
TỔ CHỨC XỬ LÝ TÀI SẢN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC VÀ TÀI SẢN
ĐÃ ĐƯỢC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
Điều 11: Trong thời hạn không quá 30 ngày (đối với tài sản là hàng hoá tiêu dùng thông
thường), 60 ngày (đối với tài sản là ô tô, xe máy, tàu thuyền, máy móc, thiết bị chuyên
dùng ) kể từ ngày tiếp nhận các tài sản này, cơ quan tài chính phải trình UBND cấp tỉnh
ra quyết định thành lập Hội đồng định giá bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá số tài sản
đó.
1/ Thành phần Hội đồng định giá bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước (gọi chung là
Hội đồng bán đấu giá) gồm:
- Đại diện cơ quan Tài chính là Chủ tịch Hội đồng;
- Đại diện cơ quan ra quyết định (hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định)
làm Phó Chủ tịch Hội đồng.
Chủ tịch Hội đồng được quyền huy động một số thành viên thuộc cơ quan tài chính và cơ
quan ra quyết định để thành lập tổ công tác giúp việc cho Hội đồng.
2/ Trường hợp xử lý đối với cổ vật, di tích lịch sử văn hoá, hoặc tài sản vô chủ là nhà,
đất; tàu, thuyền được trục vớt có quyết định xác lập sở hữu Nhà nước, Hội đồng xử lý
tài sản gồm các thành phần sau:
a/ Đại diện cơ quan tài chính làm Chủ tịch Hội đồng.
b/ Đại diện cơ quan tiếp nhận hoặc cơ quan chức năng có văn bản đề nghị UBND tỉnh ra
quyết định xác lập sở hữu Nhà nước làm Phó Chủ tịch Hội đồng.
Hội đồng có trách nhiệm xác định giá trị tài sản, tổ chức bàn giao và ghi tăng tài sản cho
cơ quan Nhà nước tiếp nhận quản lý sử dụng tài sản.
3/ Ngoài ra, tuỳ theo tính chất, mức độ quan trọng của tài sản tịch thu, tính phức tạp và
mối quan hệ của việc bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng quyết
định mời các thành viên liên quan như Kiểm sát, Công an, Thanh tra và cơ quan chuyên
môn kỹ thuật , tham gia vào Hội đồng bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước.
4/ Hội đồng định giá và bán đấu giá được thành lập theo từng cơ quan chuyên ngành và
thời hạn hoạt động của Hội đồng được quy định cụ thể trong quyết định thành lập của
UBND cấp tỉnh. Căn cứ vào quyết định thành lập Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng mời các
thành viên cụ thể cho từng cuộc bán đấu giá.
Trong trường hợp đặc biệt Hội đồng định giá bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước và
được quyết định thành lập cho từng cuộc bán đấu giá. Sau khi tổ chức bán đấu giá và
thành lý hợp đồng mua bán bán tài sản sung quỹ Nhà nước, Hội đồng bán đấu giá chấm
dứt hoạt động.
5/ Bộ phận Quản lý công sản thuộc cơ quan tài chính các cấp, là thành viên thường trực
của các Hội đồng bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước nêu tại Khoản 1, Khoản 2 Điều
này, có nhiệm vụ duy trì các hoạt động của Hội đồng bán đấu giá, thực hiện các công tác
theo sự phân công cụ thể của Chủ tịch Hội đồng trong thời gian tổ chức bán đấu giá tài
sản sung quỹ Nhà nước.
Điều 12: Căn cứ Điều 13 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định
số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ và Điều 20 của Nghị định số
14/1998 NĐ-CP ngày 06/03/1998 của Chính phủ về Quản lý tài sản Nhà nước và các quy
định hiện hành khác của Nhà nước và tuỳ theo từng loại tài sản sung quỹ Nhà nước, Chủ
tịch Hội đồng bán đấu giá quy định cụ thể đối tượng được tham gia mua tài sản bán đấu
giá cho từng cuộc bán tài sản sung quỹ Nhà nước, cụ thể:
1/ Đối với tài sản tịch thu là hàng hoá thông thường thì các thành phần kinh tế có giấy
phép kinh doanh ngành hàng phù hợp đều được tham gia đấu giá.
2/ Đối với tài sản sung quỹ Nhà nước là vàng bạc, kim khí, đá quý hoặc thuộc loại hàng
hoá hạn chế sử dụng, hàng hoá chuyên dùng thì Hội đồng bán đấu giá có thể quy định cụ
thể đối tượng được tham gia đấu giá đối với từng cuộc bán đấu giá.
Điều 13: Việc bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp,
công khai, trung thực, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Điều 14: Trình tự, thủ tục bán đấu giá được thực hiện như sau:
1. Xác định giá khởi điểm: Chủ tịch Hội đồng định giá bán đấu giá xác định giá khởi
điểm với sự tham gia của các thành viên trong Hội đồng.
2. Hội đồng định giá bán đấu giá tổ chức niêm yết bán đấu giá; thông báo công khai việc
bán đấu giá; trưng bầy tài sản bán đấu giá và tiến hành bán đấu giá theo đúng quy định tại
Điều 11, Điều 12, Điều 15 và Điều 16 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo
Nghị định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ.
3. Chủ tịch Hội đồng định giá bán đấu giá tiến hành bán đấu giá theo đúng quy định tại
Điều 16 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19
tháng 12 năm 1996 của Chính phủ.
4. Kết thúc cuộc bán đấu giá Hội đồng định giá bán đấu giá phải lập văn bản bán đấu giá
theo đúng quy định tại Điều 17 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị
định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ và các biểu mẫu từ số 3 đến 7
ban hành kèm theo Quy chế này.
Điều 15: Hội đồng định giá bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước có các nghĩa vụ sau
đây:
1. Tổ chức bán đấu giá tài sản theo đúng nguyên tắc và thủ tục quy định tại Quy chế này.
2. Thông báo, niêm yết công khai, đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết có liên quan
đến tài sản bán đấu giá.
3. Trưng bày, cho xem và tham khảo hồ sơ tài sản bán đấu giá.
4. Thực hiện ghi chép về việc bán đấu giá vào sổ đăng ký bán đấu giá và lập văn bản bán
đấu giá tài sản.
5. Giao tài sản cho người mua theo đúng quy định Điều 25 và Điều 26 của Quy chế bán
đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của
Chính phủ.
Riêng đối với tài sản sung quỹ Nhà nước thuộc điện phải được dán tem nhập khẩu theo
quy định của Nhà nước, thì trước khi giao tài sản cho người mua, Hội đồng định giá bán
đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước đề nghị cơ quan chức năng tổ chức dán tem theo đúng
quy định của Nhà nước.
6. Cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ liên quan và hướng dẫn người mua được tài sản sung
quỹ Nhà nước bán đấu giá làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu theo đúng quy định của Nhà
nước.
Hồ sơ, giấy tờ cung cấp cho người mua được tài sản sung quỹ Nhà nước bán đấu giá
gồm:
1. Bản chính quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước hoặc văn bản xác lập quyền sở hữu
Nhà nước của cơ quan có thẩm quyền. (Đối với ô tô, xe máy, nếu nhiều xe chung một
quyết định thì phải có bản sao có công chứng Nhà nước hoặc có chứng nhận của UBND
cấp huyện nơi không có phòng công chứng Nhà nước).
2. Bản chính Biên bản bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước do Hội đồng bán đấu giá
cấp huyện trở lên lập. Trường hợp cơ quan ra quyết định được cơ quan tài chính uỷ quyền
bán tài sản sung quỹ Nhà nước thì phải có giấy uỷ quyền bán tài sản sung quỹ Nhà nước
của cơ quan tài chính kèm theo.
3. Bản chính Quyết định bán tài sản sung quỹ Nhà nước là bất động sản của Chủ tịch
UBND cấp tỉnh hoặc của Thủ tướng Chính phủ.
4. Bản chính Hợp đồng mua bán tài sản sung quỹ Nhà nước (Đối với hợp đồng mua bán
tài sản sung quỹ Nhà nước là bất động sản phải có sự chứng thực của công chứng Nhà
nước).
5. Hoá đơn bán hàng tịch thu sung quỹ Nhà nước do Bộ Tài chính phát hành.
6. Giấy phép vận chuyển hàng hoá (trong trường hợp hàng hoá vận chuyển phải có giấy
phép theo quy định của Nhà nước).
Điều 16: Hội đồng định giá bán đấu giá có quyền:
1. Định giá khởi điểm đối với tài sản bán đấu giá.
2. Yêu cầu người mua tài sản thực hiện việc thanh toán theo đúng quy định tại Điều 22,
Điều 23 và Điều 24 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định số
86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ.
3. Thu tiền đặt trước theo đúng quy định tại Điều 14 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban
hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ về lệ phí
tham gia đấu giá đối với những tổ chức cá nhân tham gia mua tài sản bán đấu giá. Mức
thu lệ phí, quản lý và sử dụng tiền lệ phí theo đúng quy định của Bộ Tài chính.
Điều 17: Đối với tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá:
1. Tổ chức, cá nhân muốn tham gia đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước đều có quyền đăng
ký mua tài sản chậm nhất là hai ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá; riêng đối với
những tổ chức, cá nhân muốn tham gia đấu giá bất động sản hoặc động sản có giá khởi
điểm từ 10 triệu đồng trở lên được thực hiện theo Điều 14 của Quy chế bán đấu giá tài
sản ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ.
2. Tổ chức, cá nhân mua được tài sản sung quỹ Nhà nước bán đấu giá có quyền yêu cầu
bên bán tài sản thực hiện đúng quy chế bán đấu giá tài sản và hợp đồng mua bán tài sản
sung quỹ Nhà nước.
3. Tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá vi phạm các quy định về đăng ký mua tài sản bán
đấu giá, rút lại giá đã trả hay từ chối mua hoặc vi phạm các quy định khác của Hội đồng
bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước thì thực hiện theo quy định tại Điều 14 (Khoản 2);
Điều 18, Điều 19 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP
ngày 19/12/1996 của Chính phủ và các quy định khác của Hội đồng bán đấu giá tài sản
sung quỹ Nhà nước.
Chương 4
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC KHOẢN THU, CHI VỀ BÁN TÀI SẢN TỊCH THU
SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC VÀ CÁC TÀI SẢN ĐƯỢC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU
NHÀ NƯỚC
Điều 18:
1. Toàn bộ số tiền thu được từ bán tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước, tài sản xác lập
quyền sở hữu Nhà nước do cơ quan tài chính từ cấp huyện trở lên tổ chức bán hoặc do cơ
quan ra quyết định được cơ quan tài chính uỷ quyền bán; tiền thu lệ phí tham gia đấu giá;
tiền thu do vi phạm quy chế bán đấu giá tài sản (nếu có), cũng như giá trị tài sản đối với
loại tài sản có quyết định điều động bàn giao cho các cơ quan Nhà nước có chức năng
quản lý sử dụng đều phải được tập trung vào Tài khoản tạm giữ của cơ quan Tài chính
cùng cấp mở tại KBNN và do cơ quan tài chính thống nhất quản lý. Trường hợp tài sản
sung quỹ Nhà nước do cơ quan TW trực tiếp tham gia xử lý và tài sản là ngoại tệ, vàng,
bạc, kim loại quý, đá quý được nộp vào tài khoản tạm giữ của Sở Tài chính - Vật giá địa
phương nơi tiến hành xử lý.
2. Toàn bộ các khoản thu từ việc xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước sau khi đã trừ đi các
chi phí và trích thưởng được để lại toàn bộ cho Ngân sách địa phương theo cấp ra quyết
định tịch thu (hoặc cấp trình cấp trên theo thẩm quyền ra quyết định tịch thu) quy định tại
khoản 1 Điều này (trừ trường hợp xử lý tài sản xác lập sở hữu Nhà nước là cổ vật, di tích
lịch sử, văn hoá và tài sản có quyết định điều động cho cơ quan Trung ương quản lý sử
dụng) và được sử dụng theo dự toán ngân sách hàng năm vào mục tiêu tăng cường cơ sở
vật chất, phương tiện chống buôn lậu và gian lận thương mại, xây dựng kho tàng, bến bãi
tập trung bảo quản hàng hoá tịch thu và góp phần xây dựng các công trình phúc lợi công
cộng ở địa phương.
Điều 19:
1. Cơ quan tài chính từ cấp huyện trở lên mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước
cùng cấp để quản lý các khoản thu, chi liên quan đến việc xử lý tài sản sung quỹ Nhà
nước, đồng thời cơ quan tài chính cấp huyện mở tiểu khoản riêng cho từng xã để theo dõi
các khoản thu, chi về xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước của xã.
Riêng đối với các xã, thị trấn giáp biên giới thường xuyên tổ chức xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chống buôn lậu thì thực hiện việc mở tài khoản tạm giữ tại kho bạc
Nhà nước huyện để quản lý các khoản thu chi về công tác chống buôn lậu do lực lượng
xã phát hiện, bắt giữ, xử lý.
2. Cơ quan tài chính từ cấp huyện trở lên ngoài việc mở tài khoản tạm giữ để tập trung
các khoản thu về xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước, còn được phép mở tài khoản về quản
lý, xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước để phục vụ cho công tác quản lý, xử lý, tổ chức bán
đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước của cơ quan tài chính.
3. Cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì tổ chức bán đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ Nhà
nước, tài sản xác lập sở hữu Nhà nước được nhận tạm ứng từ tài khoản tạm giữ với mức
tạm ứng tối đa không quá 5% trên giá trị (tính theo giá khởi điểm) của số tài sản bán
trong một cuộc bán đấu giá để có nguồn chi cho công tác tổ chức định giá và bán đấu giá
tài sản sung quỹ Nhà nước bao gồm: chi phí kiểm kê, giao nhận, chi phí tổ chức định giá,
tổ chức thông tin, quảng cáo, tổ chức trưng bày tài sản và cho xem tài sản bán đấu giá,
chi phí in ấn tài liệu hồ sơ bán đấu giá, chi cho tổ chức cuộc bán đấu giá và một số công
tác liên quan đến quản lý, xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước. Kết thúc cuộc bán đấu giá, cơ
quan đã được tạm ứng phải thanh quyết toán số tạm ứng theo chế độ.
Điều 20:
1. Cơ quan tài chính căn cứ vào tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí có liên quan
đến xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà
nước do Hội đồng bán đấu giá và cơ quan ra quyết định đề nghị để chi trả cho các khoản
sau:
a/ Chi phí điều tra, xác minh, bắt giữ, xử lý vi phạm, chi phí khai quật, trục vớt và phí bốc
dỡ, vận chuyển, bảo quản, kiểm nghiệm, giám định tài sản và bồi thường tổn thất do
nguyên nhân khách quan tài sản sung quỹ Nhà nước (nếu có) tới thời điểm chuyển giao
cho cơ quan tài chính quản lý, xử lý và tổ chức bán;
Trường hợp cơ quan ra quyết định đã được Nhà nước bố trí kho bãi, biên chế, phương
tiện vận tải kinh phí thường xuyên, thì cơ quan Tài chính không phải thanh toán các
khoản chi phí liên quan đến việc vận chuyển, bảo quản những tài sản đó.
b/ Chi phí bảo quản, lưu kho, lưu bãi, vận chuyển, bốc xếp từ khi tiếp nhận bàn giao tài
sản sung quỹ Nhà nước về cơ quan tài chính tới khi số tài sản đó được xử lý và tổ chức
bán đấu giá;
c/ Chi bổ sung kinh phí mua sắm phương tiện cần thiết phục vụ cho công tác bảo quản
hàng hoá cho cơ quan ra quyết định và cơ quan bảo quản xử lý do cấp có thẩm quyền
quyết định;
d/ Chi cho công tác tổ chức định giá và bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước bao gồm
chi phí kiểm kê, giao nhận, chi phí tổ chức định giá, tổ chức thông tin, quảng cáo, tổ chức
trưng bày tài sản và cho xem tài sản bán đấu giá, chi phí in ấn tài liệu hồ sơ bán đấu giá,
chi cho tổ chức cuộc bán đấu giá theo đúng chế độ Nhà nước quy định;
e/ Chi bồi dưỡng, chi thưởng cho các tổ chức, cá nhân tham gia và có thành tích trong
việc phát hiện, xử lý các tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo chế độ hiện
hành của Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền quyết định;
f/ Chi thuê giám định kỹ thuật, định giá tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước (nếu
cần);
g/ Chi cho sửa chữa tài sản sung quỹ Nhà nước để bán (nếu có).
2. Số tiền thu do bán tài sản thu được sau khi trừ chi phí, trích thưởng theo chế độ, số còn
lại phải chuyển toàn bộ từ tài khoản tạm giữ vào Ngân sách Nhà nước; nếu số tiền thu từ
cuộc bán tài sản không đủ để trang trải các khoản chi nói trên hoặc xử lý không có tiền
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét