Đảng trong Hồng quân” Lênin nhấn mạnh: “Bất kỳ công tác nào cũng phải có
những đặc tính riêng biệt muốn quản lý thì phải là người thành thạo về chuyên
môn” [23, tr.248].
Về con đường hình thành và phát triển năng lực của người chính ủy, chính trị
viên ở đơn vị, V.I.Lênin chỉ rõ, phải tham gia hoạt động thực tiễn đấu tranh cách
mạng “không phải sinh ra là người ta đã có nghệ thuật quản lý giỏi, mà phải trải qua
kinh nghiệm mới có được” [24, tr.216].
Theo Lênin, quá trình hình thành và phát triển năng lực của người cán bộ quân
đội nói chung, trong đó có người CTV tàu là sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục đào tạo
ở nhà trường của giai cấp vô sản và thực tế lãnh đạo, chỉ huy bộ đội trong chiến
tranh. Người viết: “Hồng quân đã bắt đầu thắng, từ trong hàng ngũ của nó, nó đã đào
tạo được hàng nghìn sĩ quan đã theo học ở các trường quân sự vô sản mới, đồng thời
cũng đã đào tạo được hàng nghìn sĩ quan qua các trường học tàn khốc của chiến
tranh” [25, tr.154 -155].
Tóm lại: Quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về vấn đề năng lực đã
tạo ra định hướng trong nghiên cứu, đó là: Sự hình thành và phát triển năng lực con
người nói chung, NLSP của người CTV tàu nói riêng được diễn ra trong hoạt động
gắn với tổng thể các điều kiện xã hội lịch sử, được quy định bởi môi trường hoạt
động, thực tiễn của chiến tranh, của công tác giáo dục đào tạo và tính tích cực hoạt
động của cá nhân.
Ý nghĩa phương pháp luận của các luận điểm trên là ở chỗ khám phá ra đặc
điểm hoạt động và xã hội của năng lực, khẳng định rõ năng lực chỉ có thể hình thành
và phát triển trong hoạt động và các điều kiện xã hội lịch sử cụ thể.
Kế thừa và phát triển tư tưởng phương Đông về đức, tài trong cấu trúc nhân
cách, Hồ Chí Minh cho rằng đây là hai mặt không thể thiếu ở một con người nói
chung và ở người cán bộ cách mạng nói riêng. Người đã lý giải một cách giản dị,
nhưng rất sắc sảo, khoa học về mối quan hệ giữa tài và đức: “có tài phải có đức. Có
tài không có đức tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt
ngồi trong chùa, không giúp gì được ai” [36, tr.184]. Về vấn đề giáo dục và truyền
đạt, Hồ Chí Minh cho rằng: “phải chú ý giáo dục chính trị tư tưởng” [39, tr.492].
Trong đội ngũ cán bộ quân đội, Người rất quan tâm tới người CTV, những người
chuyên trách công tác giáo dục cho bộ đội, Người yêu cầu: “Chính trị viên phải nắm
chắc con đường chính trị của Đảng, giác ngộ chính trị sâu sắc, nhận thức cách
mạng vững vàng, lý luận cách mạng cứng cáp, kinh nghiệm chính trị dồi dào,
chính trị viên phải có năng lực đủ mọi mặt nhúng tay vào tất cả mọi việc để do đó
mà dìu dắt người khác” [41, tr.57].
Như vậy, tuy không đưa ra khái niệm về năng lực, nhưng nghiên cứu tư tưởng
của Người ta thấy rằng Người luôn khẳng định vị trí vai trò quan trọng của năng lực
riêng (năng lực chuyên môn) và luôn nhắc nhở khi sử dụng cán bộ phải quan tâm tới
năng lực riêng của họ để giao việc cho hợp lý. Trong giáo dục và truyền đạt, Người
luôn coi trọng phương pháp nêu gương. Đặc biệt, phương pháp nêu gương của người
chính trị viên, theo Hồ Chí Minh đó là: “mô phạm nêu gương, để việc công trên việc
tư, vì việc công quên việc tư. Đấy là khẩu hiệu của chính trị viên” [41, tr.59]. Rõ ràng
với người chính trị viên, do đặc điểm, yêu cầu của công việc càng đòi hỏi ở họ những
yêu cầu rất cao về nhân cách.
5
Trong công tác giáo dục và truyền đạt, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Trước hết
phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc. Nhưng tài liệu phải biết
lựa chọn, sắp xếp vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp
với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có lợi ích gì” [42, tr.49]. Ở
đây, Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn rất thiết thực và có ý nghĩa với hoạt
động giáo dục và truyền đạt của người CTV.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách tài tình sáng tạo
những quan điểm của các nhà kinh điển Mác- Lênin vào luận giải vấn đề năng lực
của con người nói chung, năng lực của CBCT nói riêng. Đó không chỉ yêu cầu mà
còn là những chỉ dẫn sát thực, sinh động giúp cho việc nghiên cứu, nâng cao năng
lực toàn diện của đội ngũ CTV tàu hải quân trong mọi thời kỳ cách mạng.
Đảng cộng sản Việt nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, từ khi ra đời đến
nay Đảng luôn tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo bồi dưỡng, nâng cao năng
lực toàn diện cho đội ngũ cán bộ của Đảng trong quân đội.
Trong các văn kiện Đại hội Đảng đều nhấn mạnh: việc hình thành, nâng cao
năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn gắn chặt với thực tiễn cách mạng,
với phong trào cách mạng của quần chúng “phải quan tâm phát hiện và bồi dưỡng
nhân tài”, “thông qua quá trình xây dựng kinh tế - xã hội mà đào tạo rèn luyện con
người mới” [15, tr.113].
Con đường nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là phải kết hợp hài hoà giữa
trang bị kiến thức trong nhà trường với hoạt động thực tiễn. Đảng chỉ rõ: “Nhân tài
không phải là sản phẩm tự phát, mà phải được phát hiện và sử dụng đúng lúc, đúng
chỗ” [15, tr.134]. Trong mọi giai đoạn cách mạng Đảng ta đều đánh giá cao vai trò
đội ngũ cán bộ nói chung, người CTV trong quân đội nói riêng, Đảng khẳng định đó
là “khâu then chốt”, là “nhân tố quyết định” trong sự nghiệp cách mạng của Đảng,
của nước nhà. Đảng khẳng định: “Cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng
nhất mà Đảng phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng”
[15, tr.132].
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung, nâng cao năng lực
của người CTV nói riêng phải do chính bản thân người cán bộ quyết định. Do vậy,
Đảng yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải học tập, rèn luyện để có thể phát huy hết tài
năng của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Văn kiện đại hội, đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi
người đều có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển và hưởng
thụ những thành quả phát triển” [16, tr.163].
Ngày nay Đảng ta xác định giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ chi phối
mạnh mẽ tới sự phát triển năng lực toàn diện của con người. Chính vì vậy giáo dục
đào tạo được coi “là quốc sách hàng đầu”, là yếu tố cơ bản đảm bảo cho việc phát
triển nhanh và bền vững. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định:
“Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và
đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy nhanh
CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức. Thống nhất định hướng giữa phát triển khoa
học và công nghệ với chấn hưng giáo dục và đào tạo, phát huy quan hệ tương tác thúc
đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này” [17, tr.210].
6
Tóm lại : Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ
Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt nam đã vạch ra những tiền đề lý luận cơ bản,
quan trọng có giá trị đi sâu vào nghiên cứu sự hình thành và phát triển năng lực của
con người nói chung, năng lực của đội ngũ CTV các cấp trong quân đội nhân dân
Việt nam nói riêng đạt hiệu quả cao. Việc nghiên cứu năng lực của CTV tàu hải quân
phải dựa chắc vào những tiền đề lý luận trên.
1.2. Các khái niệm cơ bản
* Phát triển
Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra
trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất. Mọi sự vật và hiện
tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà trải qua một loạt các
trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong. Phạm trù Phát triển thể hiện một tính
chất chung của tất cả những biến đổi ấy. Điều đó có nghĩa là bất kì một sự vật, một
hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có
biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái
trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái
đã có, bởi vì trạng thái của bất kì sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định
không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài.
Nguồn gốc của Phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Phương
thức Phát triển là chuyển hoá những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất,
và ngược lại theo kiểu nhảy vọt. Chiều hướng Phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc.
* Năng lực
Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà TLH trong và ngoài nước đã đưa
ra những khái niệm khác nhau về năng lực.
Theo B.M.Chevlov thì: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân liên
quan đến tính kết quả trong thực hiện hoạt động này hay hoạt động khác” [(dẫn
theo) 56, tr.24].
A.N.Leonchiev cho rằng: “định nghĩa chung về năng lực là ở chỗ đó là các
thuộc tính của cá nhân mà sự kết hợp của chúng quy định tính kết quả trong thực tiễn
một hoạt động nhất định. Với tư cách là thuộc tính tâm lý phát triển trong chính hoạt
động đó và như vậy nó phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài” [26, tr.198 ]. Ở đây,
năng lực gắn bó chặt chẽ với kết quả hoạt động của con người.
GS.VS.TS khoa học Phạm Minh Hạc thì cho rằng: “Năng lực chính là một tổ
hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một
nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả
một hoạt động nào đấy” [21, tr.145]. Trong từ điển TLH do TS Vũ Dũng chủ biên,
năng lực là: “Tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là
điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất
định” [11, tr.160].
Các nhà TLH quân sự cho rằng, toàn bộ những phẩm chất tâm lý và sinh lý của
cá nhân đều góp phần tạo nên kết quả của hoạt động. Người có năng lực là người có
những phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của hoạt động và hoạt động đạt kết quả cao.
Hoạt động là điều kiện hình thành và phát triển năng lực, đồng thời hoạt động cũng là
thước đo về năng lực của từng cá nhân, chất lượng, hiệu quả hoạt động cho phép ta
đánh giá mức độ của năng lực, không có năng lực tồn tại ngoài hoạt động.
7
Trong hoạt động, con người thường huy động những phẩm chất tâm lý và sinh
lý của cá nhân đáp ứng với những yêu cầu của hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt
động ấy nhanh chóng thành thạo và đạt kết quả cao. Những phẩm chất đó chi phối tới
hoạt động của con người trong mối quan hệ tổng hoà, không đơn lẻ, tách rời nhau.
Tổng hợp các phẩm chất tâm - sinh lý của con người vừa là tiền đề, vừa là kết quả
của quá trình hoạt động đó.
Giữa năng lực và sự thành thạo trong một lĩnh vực nào đó vừa có sự khác biệt,
vừa quan hệ chặt chẽ với nhau. Năng lực thể hiện sự tài giỏi, còn sự thành thạo
nghiệp vụ nói lên trình độ hiểu biết và thực hiện thuần thục các thủ thuật, thao tác
công việc. Bất cứ người nào được đào tạo theo một quy trình khoa học đều có được
sự thành thạo. Người có năng lực tốt về lĩnh vực nào thì sẽ có những thuận lợi để đạt
tới sự thành thạo các nghiệp vụ trong lĩnh vực đó. Nhưng sự thành thạo nghiệp vụ
trong lĩnh vực nhất định chỉ có ý nghĩa bù đắp cho những hạn chế về năng lực của
con người, chứ không thể làm cho một người không có năng lực trở nên có năng lực
về lĩnh vực ấy.
Như vậy, năng lực là tổng hợp những đặc điểm tâm lý và sinh lý của cá nhân
đáp ứng với yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động ấy nhanh chóng
thành thạo và đạt kết quả cao.
* Hoạt động sư phạm và hoạt động sư phạm quân sự.
Hoạt dộng của con người là quá trình tác động qua lại tích cực, có mục đích
của con người với thế giới, đối tượng nhằm cải tạo chúng, tạo ra những giá trị vật
chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu cá nhân và xã hội.
Tùy theo lấy khía cạnh nào làm cơ sở phân tích, người ta có thể phân chia ra
nhiều hoạt động khác nhau. Nếu lấy cơ sở là hoạt động chủ đạo trong từng lứa tuổi
trưởng thành của con người thì có: Hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, hoạt động
lao động Nếu lấy đối tượng của hoạt động để xem xét thì ta có: Hoạt động lao động
sản xuất, họat động nghiên cứu lí luận chính trị - xã hội, hoạt động nghiên cứu khoa
học – kĩ thuật, hoạt động quân sự, hoạt động thể thao, hoạt động sư phạm là những
lĩnh vực chuyên biệt của hoạt động.
Hoạt động của con người bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, là quá trình
tác động qua lại biện chứng giữa chủ thể và khách thể. Chủ thể tác động vào đối
tượng, làm ra sản phẩm (quá trình sáng tạo), từ đối tượng tác động trở lại con người,
đem đến cho con người những biến đổi tâm lý nhất định (quá trình lĩnh hội). Chính
trong mối quan hệ đó mà tâm lý ý thức người được nảy sinh, hình thành và phát triển.
Từ định nghĩa về hoạt động nêu trên, chúng ta có thể hiểu hoạt động sư phạm
như sau:
Hoạt động sư phạm là hoạt động tác động qua lại giữa người dạy và người học
dưới sự tổ chức, điều khiển và kiểm tra của người dạy nhằm giúp người học lĩnh hội
nền văn hóa – xã hội – lịch sử, các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết
tạo ra sự phát triển tâm lý và góp phần hình thành các phẩm chất nhân cách cần thiết
ở người học đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo.
Khi đề cập đến vấn đề hoạt động sư phạm quân sự, với tư cách là một hiện
tượng xã hội tồn tại, vận động và phát triển là do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp
xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc việt Nam XHCN. Nghị quyết Đại hội đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định nhiệm vụ: xây dựng quân đội nhân dân
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Để thực hiện nhiệm vụ đó, một
8
trong những công tác trọng tâm hiện nay của quân đội là phải thường xuyên đào tạo
ra một đội ngũ sĩ quan và những quân nhân có phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng quân đội. Muốn vậy việc làm đó phải được
tiến hành trong một quá trình nhất định – Qúa trình hoạt động sư phạm quân sự.
Trên ý nghĩa đó, HĐSPQS là một qua trình tổng thể có mục đích, có tổ chức
thông qua hoạt động của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm đào tạo quân nhân
có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng với yêu cầu của quân đội và của xã hội.
HĐSPQS có một số đặc trưng cơ bản như sau:
- HĐSPQS trong tính tổng thể của nó là quá trình huấn luyện – giáo dục những
kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm quân sự.
- HĐSPQS là quá trình chuẩn bị con người các lĩnh vực hoạt động quân sự.
- HĐSPQS là quá trình có tổ chức chặt chẽ và chịu tải trọng cao về trí tuệ và
thể lực.
* Năng lực sư phạm của cán bộ chính trị tàu
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm năng lực đã trình bày, chúng tôi nghiên cứu
năng lực sư phạm của một chủ thể cụ thể là người CTV tàu Hải quân hiện nay.
Năng lực sư phạm của người CTV tàu Hải quân phải được tạo thành từ các
hệ thống phẩm chất: Về trí tuệ, về chính trị tinh thần, xu hướng sư phạm, niềm
tin sư phạm, tài nghệ sư phạm và các phẩm chất tâm lý kết hợp với sự vững vàng
về kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng hoạt động sư phạm phù hợp.
Như vậy, rõ ràng muốn có năng lực sư phạm, người CTV tàu Hải quân phải
có hệ thống phẩm chất nhân cách phù hợp với hoạt động công tác của mình, có tố
chất sinh vật tạo tiền đề vật chất ban đầu cho năng lực sư phạm hình thành, phát
triển tốt.
Người CTV tàu Hải quân, cũng là người CBCT trong quân đội, NLSP của họ
được cấu thành từ các nhân tố hợp thành năng lực con người nói chung, người sỹ
quan chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, do hoạt động
sư phạm ở tàu Hải quân với những đặc điểm đặc thù về tính chất nhiệm vụ, tính phức
tạp trong quản lý, lãnh đạo và môi trường hoạt động trên tàu, trên biển…. tất yếu đòi
hỏi người CTV tàu Hải quân phải có những phẩm chất tâm - sinh lý phù hợp. Cụ thể
hệ thống phẩm chất về chính trị tư tưởng, phẩm chất trí tuệ, phẩm chất về ý chí, phẩm
chất về trí nhớ, tư duy, các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng tương ứng và kinh nghiệm
thực tiễn trong hoạt động sư phạm, hoạt động quân sự trên tàu Hải quân, biết vận
dụng linh hoạt các hình thức, nội dung, phương pháp và phương tiện giáo dục, truyền
đạt phù hợp với điều kiện cụ thể của hoạt động trên biển. Tất cả các phẩm chất trên
được phát triển trên nền tố chất, phù hợp với yêu cầu của những chuyến đi biển của
một thuỷ thủ thực thụ, phù hợp với nghề nghiệp của một CTV tàu.
Từ khái niệm năng lực, sư phạm kết hợp với phân tích ở trên chúng tôi đưa ra
khái niệm về năng lực sư phạm của CTV tàu Hải quân như sau:
Năng lực sư phạm của CTV tàu Hải quân là tổng hợp những đặc điểm tâm lý
và sinh lý cá nhân của CTV tàu đáp ứng với những yêu cầu của quá trình hoạt động
sư phạm trong điều kiện tàu hoạt động trên biển, bảo đảm cho hoạt động này nhanh
chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao.
* Hệ thống, biện pháp phát triển năng lực sư phạm cho học viên đào tạo cán bộ
chính trị tàu ở Học viện Hải quân.
9
Sự hình thành, phát triển NLSP của học viên đào tạo CBCT tàu ở HVHQ là
quá trình diễn ra lâu dài với nhiều tác động sư phạm khác nhau. Theo từ điển tiếng
Việt, biện pháp là “Cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”[14,
tr.161], và hệ thống là: “Thể thống nhất được tạo lập bởi các yếu tố cùng loại, cùng
chức năng, có quan hệ chặt chẽ với nhau”[14, tr.797]. Như vậy, hệ thống là tập hợp
những yếu tố mang tính trình tự, có quan hệ lôgíc chặt chẽ giữa các yếu tố đó.
Từ cách tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề liên quan như trên, chúng ta có thể hiểu:
Hệ thống biện pháp phát triển năng lực sư phạm cho học viên đào tạo CBCT tàu là sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý, khoa học của các biện pháp giáo dục mang tính chỉnh thể,
thống nhất, đồng bộ nhằm hình thành, phát triển và củng cố vững chắc những phẩm
chất cần thiết của người CTV tàu cho học viên được đào tạo.
1.3. Một số biểu hiện năng lực sư phạm của người cán bộ chính trị tàu Hải
quân.
1.3.1. Biểu hiện thông qua văn hóa sư phạm
Một trong những thành tố của văn hóa nhân cách người cán bộ quân đội là văn
hóa sư phạm. Đó là một cấu thành phức hợp của các phẩm chất nhân cách, biểu hiện
trình độ chiếm lĩnh những kinh nghiệm sư phạm và trình độ hoàn thiện nó trong hoạt
động huấn luyện, giáo dục; biểu hiện trình độ phát triển nhân cách của người cán bộ
quân đội với tư cách là nhà giáo dục.
Văn hóa sư phạm của người CBCT được hình thành và phát triển trên cơ sở của
sự tác động tổng hợp giữa những nhóm phẩm chất của nhân cách như phẩm chất chính
tri tư tưởng, phẩm chất nghề nghiệp quân sự, phẩm chất đạo đức và những phẩm chất có
tính đặc trưng của người làm công tác chỉ huy, lãnh đạo. Do đó, khi xem xét sự biểu hiện
của văn hóa sư phạm bao giờ chúng ta cũng xem nó trong mối quan hệ chặt chẽ giữa các
nhóm phẩm chất hợp thành, thể hiện trên một số nội dung sau:
* Xu hướng sư phạm
Vừa là người chỉ huy, lãnh đạo, mỗi CBCT còn là một nhà giáo dục đối với cán
bộ, chiến sỹ trong đơn vị của mình, vì thế xu hướng sư phạm trở thành một trong những
xu hướng cơ bản trong nhân cách của người sỹ quan Quân đội. Xu hướng sư phạm bao
gồm hệ thống những động lực quy định tính tích cực của người CBCT trong hoạt động
sư phạm, quy định sự lựa chọn và thái độ của họ đối với công việc giáo dục, truyền đạt
và định hướng giá trị cho CBCS.
Xu hướng sư phạm thể hiện ở niềm tin sư phạm, tình yêu nghề nghiệp, khát vọng
tự hoàn thiện, trong đó niềm tin sư phạm giữ vai trò quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa
quyết định đến các nội dung khác của xu hướng sư phạm. Niềm tin sư phạm của người
CBCT được hình thành phát triển trên cơ sở hệ tư tưởng Mác – Lênin, những thành tựu
của khoa học tâm lý, khoa học giáo dục và kinh nghiệm sư phạm của bản thân mỗi
người CTV tàu. Niềm tin sư phạm phản ánh những quan điểm cơ bản trong huấn luyện
giáo dục, truyền đạt và định hướng giá trị của người CBCT. Nó xâm nhập vào hệ thống
các quan điểm về đạo đức, thẩm mỹ, thế giới quan và chính trị tư tưởng của từng người,
niềm tin sư phạm quy đinh sự phát triển của người CTV như những nhân cách mẫu mực.
Niềm tin sư phạm giúp cho người CBCT luôn tin tưởng vào khả năng cải tạo xã hội, tập
thể, tin ở thành tịu của khoa học giáo dục, tin ở hiệu quả của các phương thức giáo dục
và tin ở mỗi quân nhân đều có thể tự cải tạo mình…không tin vào quân nhân trong đơn
vị và khoa học giáo dục thì chắc chắn với tư cách là nhà giáo dục, người CTV tàu không
thể hoàn thành nhiệm vụ.
10
Xu hướng sư phạm của người CBCT còn thể hiện ở chí hướng, tâm trạng vui vẻ
thoải mái, say mê hứng thú, tâm thế luôn chủ động sẵn sàng, thái độ nghiêm túc trong
huấn luyện và giáo dục bộ đội. Mặt khác, xu hướng sư phạm còn có cả sự khát vọng tự
hoàn thiện vươn tới đỉnh cao về kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng, NLSP.
* Tài nghệ sư phạm
Người CBCT trong quân đội không chỉ có chỉ huy, lãnh đạo mà còn phải có tài tổ
chức huấn luyện bộ đội, bảo đảm cho họ có được các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng chiến
đấu và công tác theo chức trách; có tài nghệ giáo dục để bộ đội có những phẩm chất cần
thiết về chính trị tư tưởng, đạo đức và sức khỏe… do đó, tài nghệ sư phạm của CTV tàu
bao gồm cả tài nghệ của người dạy quân và tà nghệ của người cầm quân, của người giáo
viên và người chỉ huy, lãnh đạo.
Tài nghệ sư phạm thể hiện ở sự hiểu biết sâu sắc tâm lý con người, tầm trí thức
sâu rộng, sự thành thảo kỹ xảo, kỹ năng sư phạm, tư duy sư phạm phát triển khả năng
kết hợp hài hòa huấn luyện, giáo dục, nghiên cứu khoa học, sự tết nhị sư phạm và định
hướng giá trị… tài nghệ sư phạm là điều kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu
quả huấn luyện, giáo dục quân nhân, đồng thời là điều kiện phát triển tự hoàn thiện
chính bản thân mỗi người.
Tài nghệ sư phạm của người CBCT còn thể hiện ở khả năng lao động sư phạm
độc lập, sự tinh tế trong quan sát, trí tưởng tượng sư phạm cao, luôn biết hình thành
những tư tưởng sư phạm mới và đề xuất được các gải pháp thực hiện nó. Đây là tiền đề
sáng tạo trong lao động sư phạm của người CBCT hay nói cách khác chính là tư duy sư
phạm phát triển. Sự thể hiện của tài nghệ sư phạm sẽ làm phong phú thêm bộ mặt tinh
thần của người CBCT và quy định trình độ văn hóa sư phạm của chính họ.
* Phong cách và hành vi sư phạm
Phong cách và hành vi sư phạm là tổng hợp các phẩm chất biểu hiện sự mẫu mực
mô phạm và cái đẹp trong con người mỗi CBCT với tư cách vừa là nhà chỉ huy, nhà
lãnh đạo vừa là nhà giáo dục.
Trong hoạt động sư phạm, sự mẫu mực mô phạm về cái đẹp của tấm gương nhân
cách luôn quan hệ chặt chẽ. Chính sự trong sáng về đạo đức cũng là cái đẹp trong tâm
hồn của người CBCT. Người CTV tàu có muc đích sống cao cả và lý tưởng cộng sản
chủ nghĩa, ham lao động quân sự, say mê với công tác huấn luyện, giáo dục, sương mẫu
trong lối sống. Thống nhất lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, khiêm tốn giản dị,
trung thực, tôn trọng và thương yêu đồng chí đồng đội, làm việc có kỷ luật, trách nhiệm
và hiệu quả…đó vừa là tình cảm đạo đức trong sáng vừa là cái đẹp của lẽ sống, tác
phong trong văn hóa sư phạm của người cán bộ quân đội. Và chính phong cách và hành
vi sư phạm mẫu mực sẽ tạo ra sự tác động giáo dục to lớn, có tác dụng lôi cuốn cảm hóa
mạnh đối với mọi CBCS trong đơn vị.
1.3.2. Biểu hiện thông qua mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động truyền thụ
và hoạt động lĩnh hội
Nét đặc trưng bản chất nhất của hoạt động sư phạm quân sự là sự thống nhất biện
chứng giữa hoạt động truyền thụ và hoạt động lĩnh hội. Cơ sở khách quan của sự thống
nhất đó xuất phát từ đường lối chiến lược của Đảng ta về nhân tố con người dưới
CNXH, từ mục tiêu đào tạo quân nhân, từ vị trí vai trò của nhà lãnh đạo, nhà chỉ huy,
nhà giáo dục và đối tượng giáo dục trong hệ thống cấu trúc thành tố của NLHĐQS. Sự
tác động qua lại lẫn nhau, tạo tiền đề thúc đẩy nhau phát triển giữa hai hoạt động truyền
thụ và lĩnh hội, suy cho cùng là giữa hai nhân tố “sống” tạo nên, đó là nhà giáo dục và
11
đối tượng giáo dục. Mối liên hệ bản chất ấy quy định chất lượng và hiệu quả của sự hình
thành và phát triển trong nhân cách quân nhân.
Vì vậy, khi vận dụng vào quá trình tổ chức nhận thức và xây dựng những phẩm
chất nhân cách quân nhân, đòi hỏi nhà giáo dục và đối tượng giáo dục cần nhận thức rõ
vai trò của từng nhân tố, trong đó đối tượng giáo dục – hoạt động lĩnh hội là nhân tố
trung tâm của quá trình huấn luyện, giáo dục và định hướng giá trị.
Muốn thực hiện tốt vai trò của mình trong lĩnh vực hoạt động quân sự, cả hai
nhân tố cùng có sự thống nhất với nhau ở tất cả các mặt, các hoạt động, các khâu, các
bước, phải năng động trong việc tìm kiếm, phát hiện và giải quyết tốt các mâu thuẫn nội
tại của quá trình SPQS.
1.3.3 Biểu hiện thông qua kết quả huấn luyện, giáo dục và định hướng giá trị
Kết quả giáo dục là trình độ phát triển nhân cách quân nhân và tập thể quân nhân,
đó là sự phản ánh sức mạnh tổng hợp của hệ thống các thành tố tác động lẫn nhau trong
quá trình sư phạm quân sự, là thước đo đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trìn
huấn luyện, giáo dục quân nhân.
Kết quả nếu được kiểm tra đánh giá kịp thời, chính xác và được đối chiếu thường
xuyên với hệ thống mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục sẽ trở thành yếu tố kích thích, điều
chỉnh quá trình huấn luyện, giáo dục đúng hướng và là xuất phát điểm cho quá trình
huấn luyện mới đạt kết quả.
Như vậy việc nhận thức khoa học về cấu trúc hoàn chỉnh của NLHĐSP cho phép
các cán bộ chỉ huy, lãnh đạo các cấp trong quân đội nhìn rõ vị trí, vai trò, chức năng
cũng như mối liên hệ phổ biến giữa các thành tố cơ bản của quá trình bộ phận, quy định
xu hướng vận động phát triển của quá trình này, nhờ đó có khả năng tổ chức điều khiển
quá trình SPQS hợp quy luật, đạt hiệu suất cao hơn.
1.4. Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển năng lực sư phạm cho
học viên đào tạo cán bộ chính trị tàu ở Học viện Hải quân hiện nay.
Sự hình thành, phát triển NLSP của học viên đào tạo CBCT tàu Hải quân ở
HVHQ chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, biểu hiện cụ
thể trên những nội dung sau:
1.4.1. Sự tác động của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
Trong những năm gần đây, tình hình chính trị đất nước tiếp tục ổn định, chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng; điều đó đang tạo ra những cơ hội thuận
lợi cho công tác giáo dục thế giới quan, niềm tin cộng sản cho các đối tượng, trong đó
có học viên đào tạo CBCT tàu Hải quân. Tuy nhiên, sự chống phá của các thế lực thù
địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng đang đặt ra những thách thức cho công tác giáo
dục, xây dựng niềm tin, phẩm chất đạo đức, lối sống …cho đối tượng này.
Trước những tiến bộ nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, công nghệ; những
chuyển biến mau lẹ, có phần phức tạp của một số vấn đề xã hội đang tác động sâu sắc
đến lối sống, tâm lý của thế hệ trẻ…và đặt ra cho sự nghiệp đào tạo những thách thức
to lớn. Bằng nhiều nguồn, nhiều phương tiện thông tin ngày càng hiện đại, người học
sớm bị cuốn vào “cơn lốc” thông tin và giáo viên không còn là nguồn kiến thức độc
tôn duy nhất như xưa nữa. Trong điều kiện ấy người giáo viên càng có vai trò quan
trọng trong việc định hướng và điều chỉnh sự phát triển nhân cách của người học. Đó
là thách thức lớn đối với các trường đào tạo mà trực tiếp là các thầy giáo phải giải quyết,
12
vì vậy người giáo viên khoa lí luận, khoa CTĐ, CTCT cần phải có phẩm chất trí tuệ cao,
có chí hướng và không ngừng nâng cao nghiệp vụ sư phạm.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đã đạt
được những thành tựu to lớn, tác động tích cực đến đời sống vật chất, tinh thần của
toàn xã hội nói chung, trong đó giáo viên các nhà trường quân đội. Tuy nhiên mặt trái
của nó: sự phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội cùng với sự chi phối của xu hướng
quốc tế hóa đã và đang có những tác động tiêu cực đến tình cảm, nguyện vọng của
những người đảm nhiệm công tác giảng dạy trong Học Viện, trong đó có đội ngũ giáo
viên khoa lí luận, khoa CTĐ, CTCT. Đồng thời nó cũng ảnh hưởng không tốt tới chí
hướng phấn đấu của học viên đào tạo CBCT tàu ở HVHQ hiện nay.
Trước yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, vấn đề chất lượng giáo dục, trong đó có chất lượng giáo dục ở các NTQS ngày
càng đặt ra những yêu cầu mới. Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Muốn có chủ nghĩa xã hội
phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Đó phải là con người phát triển toàn diện, nhưng
phải có mặt nổi trội là PCNC để đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng
QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Vì vậy, nâng
cao chất lượng đào tạo giáo viên là vấn đề then chốt của các nhà trường quân sự trước
thềm thế kỷ XXI; là khâu đột phá để: cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những
tiêu cực, yếu kém trong ngành giáo dục để hoàn thành tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn
lực con người cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mục tiêu, yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các NTQS hiện nay
đòi hỏi người giáo viên những nhiệm vụ ngày càng khó khăn, nặng nề hơn. Hoạt
động sư phạm của giáo viên không chỉ dạy hiểu biết, dạy làm mà còn dạy chung
sống, không chỉ dạy kiến thức, kỹ năng, phương pháp mà còn dạy thái độ…; không
chỉ dạy chữ mà còn dạy nghề, dạy người; giáo dục học viên thành con người hiện đại,
đậm đà bản sắc dân tộc…Người giáo viên cần phải có phẩm chất trí tuệ cao, luôn thể
hiện chí hướng phấn đấu vươn lên và dành tâm sức để thực hiện được những yêu cầu
đó.
1.4.2. Sự phát triển của nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới, yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và xây dựng nhà
trường quân đội chính quy, tiên tiến, mẫu mực
Nhiệm vụ xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng
bước hiện đại trước hết đòi hỏi phải nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ trong
các nhà trường quân sự. Muốn vậy, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải phát triển đội
ngũ giáo viên đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng theo chuẩn quy định của Luật Giáo
dục và yêu cầu của Bộ Quốc phòng đã đề ra.
Hoạt động quân sự trong chiến tranh hiện đại diễn ra với cường độ lao động
cao cả về trí lực và thể lực; nhiều nhà quân sự dự báo, nếu chiến tranh trong tương lai
xảy ra thì đó là cuộc chiến tranh của trí tuệ. Do vậy trong quá trình dạy - học, giáo
viên phải dạy cho học viên biết vận dụng những kiến thức khoa học cơ bản, cơ sở để
giải quyết các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực kiến thức và năng lực hoạt động chuyên
ngành…đồng thời phải rèn luyện cho học viên phẩm chất và khả năng thích ứng với
hoạt động quân sự trong điều kiện khó khăn, gian khổ khắc nghiệt và ác liệt để người
học khi ra trường thích ứng với cuộc sống thực tế của bộ đội trong huấn luyện, công
tác và chiến đấu.
13
Phát triển NLSP cho học viên đào tạo CBCT tàu ở HVHQ là một quá trình truyền
thụ kiến thức, hướng dẫn rèn luyện, giáo dục PCNC cho học viên. Quá trình đó diễn ra
không đơn giản, vì nội dung kiến thức rất phong phú, đa dạng; yêu cầu về phẩm chất,
năng lực thực hành và khả năng vận dụng sáng tạo rất cao. Điều này khẳng định sự đòi
hỏi cao về phẩm chất trí tuệ, ý chí…của đội ngũ giáo viên, trong đó giáo viên khoa lí
luận, khoa CTĐ, CTCT giữ một vai trò quan trọng.
Chỉ thị số 40/CT - BQP ngày 22/4/2002 về “Một số biện pháp cấp bách kiện toàn
và phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội” chỉ ra nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là: kiện toàn
tổ chức biên chế nhà giáo và hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh nhà giáo; cùng với bảo
đảm đủ số lượng nhà giáo theo biên chế cần thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo; nâng
cao hiệu lực quản lý nhà giáo quân đội…
Trong quá trình dạy học, người giáo viên khoa lí luận, khoa CTĐ, CTCT giữ vai
trò chủ đạo trong tổ chức, hướng dẫn hoạt động nhận thức của học viên. Đồng thời,
bằng năng lực và nghệ thuật sư phạm của mình phải tạo cho học viên sự cảm hứng
say mê học tập, giúp họ tự trau dồi kiến thức để biến quá trình đào tạo của nhà trường
thành quá trình tự đào tạo của bản thân. Công việc đó đòi hỏi người giáo viên khoa lí
luận, khoa CTĐ, CTCT phải có niềm tin sư phạm sâu sắc, có lòng tôn trọng và yêu
mến học viên, có nghệ thuật sư phạm và tính tổ chức hoạt động sư phạm ở trình độ
cao. Khác với người giáo viên trong nhà trường dân sự, hoạt động sư phạm của người
giáo viên trong NTQS tiến hành trong sự thống nhất giữa giáo dục và đào tạo theo yêu
cầu mới, trong tổ chức quân sự có kỷ luật nghiêm, có nền nếp chính quy. Trước yêu
cầu “Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo cán bộ…và xây dựng nhà trường chính quy
nhằm mục tiêu đại học hóa trình độ học vấn của đội ngũ sĩ quan…xây dựng quân đội
nhân dân thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt
nhiệm vụ trong mọi tình huống”[19, tr.4,5]. Để thực hiện được phương hướng, nhiệm
vụ trên, nội dung giáo dục, đào tạo trong NTQS, một mặt phải bảo đảm mặt bằng kiến
thức của bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, mặt khác phải đáp ứng yêu cầu của
từng ngành, chuyên ngành trong thực tiễn hoạt động quân sự theo chức vụ đào tạo.
Trước tình hình đó, người giáo viên khoa lí luận, khoa CTĐ, CTCT phải có cả bề rộng
và chiều sâu tri thức, có tư duy sư phạm nhanh nhạy và sáng tạo, có tính kỷ luật quân
sự và khát vọng vươn lên trong sự nghiệp, có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu đặc
trưng của hoạt động sư phạm quân sự. Đây là quan điểm, phương hướng chỉ đạo cần
quán triệt và vận dụng trong quá trình phát triển NLSP cho học viên đào tạo CBCT tàu
ở HVHQ hiện nay.
1.4.3. Sự tác động của quá trình đào tạo trong nhà trường và của các lực
lượng sư phạm
Quá trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo CBCT ở HVHQ hiện nay có ảnh hưởng
rất lớn tới chí hướng sự nghiệp cho học viên được đào tạo. Quá trình tổ chức các hoạt
động giáo dục một cách có hệ thống, có mục đích và khoa học sẽ giúp học viên có
những hiểu biết ngày càng sâu sắc về ngành nghề theo đuổi và phẩm chất nhân cách
cần thiết của người CBCT tương lai. Qua những tấm gương của các thầy, cô giáo,
học viên sẽ học được ở đó lòng nhân hậu, thấy được sự cao quý, vẻ vang, tầm quan
trọng…trong lĩnh vực hoạt động sư phạm. Chính điều đó làm cho học viên không
những tự xây dựng và phát triển xu hướng sư phạm mà còn tích cực phấn đấu vươn
lên hoàn thiện PCNC của mình.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét