Chuyên đề tốt nghiệp
việc, cơ cấu lao động, tổ chức. Ngày nay, khi có sự tác động mạnh mẽ của
khoa học công nghệ thì việc ứng dụng thành công hay không những thành tựu
đó trong dây chuyền sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào nhân tố con người và
công tác tổ chức lao động của doanh nghiệp đó.
Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ,
để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành
sản phẩm nhằm tăng năng lực cạnh tranh. Muốn làm được điều đó, một trong
những yếu tố quan trọng nhất là công nghệ sản xuất. Việc áp dụng các công
nghệ mới vào sản xuất buộc các doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị về con
người, hay nói cách khác doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác tổ chức lao
động để đạt được hiệu quả một cách cao nhất.
Trong quá trình vận động và phát triển doanh nghiệp có thể có những
thay đổi về nhân lực do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó công tác hoạch
định nguồn nhân lực theo định kỳ để có kế hoạch tuyển chọn là hết sức cần
thiết. Công tác này đảm bảo cho doanh nghiệp có được nguồn nhân lực một
cách kịp thời đáp ứng được yêu cầu cần thiết của hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Hơn thế nữa, thực hiện tốt công tác QTNL sẽ mang lại những thành tựu
to lớn như:
+ Giảm bớt chi phí do dư thừa lao động, tiết kiệm được chi phí trong
kinh doanh.
+ Hạn chế được rủi ro trong kinh doanh do công ty dự báo trước được
nhu cầu lao động của công ty trong sản xuất kinh doanh có sự thay đổi.
+ Đáp ứng được tiến độ sản xuất một cách kịp thời mang lại hiệu quả
sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Như vậy, QTNL có vai trò to lớn trong doanh nghiệp, nó quyết định
đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó.
3. Nội dung tổ chức lao động
3.1. Tuyển dụng nhân lực
9
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuyển dụng nhân lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với một doanh
nghiệp vì nó quyết định số lượng, chất lượng cán bộ công nhân viên có hợp lý
hay không. Nếu quá trình tuyển dụng được thực hiện tốt sẽ giúp công ty tìm
được những lao động phù hợp với yêu cầu của công việc. Những nhân viên
không đủ năng lực cần thiết để thực hiện công việc sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng và hiệu quả công việc, có khi còn là nguồn gốc của sự mất
đoàn kết, chia rẽ nội bộ doanh nghiệp. Mặt khác, do chi phí tuyển dụng lớn
nên khi công tác tuyển dụng không đạt được yêu cầu sẽ làm lãng phí cho công
tác cả về thời gian lẫn chi phí.
* Yêu cầu của việc tuyển chọn nhân viên vào làm việc cho doanh
nghiệp phải đảm bảo:
- Tuyển chọn những người có chuyên môn cần thiết, có thể làm việc đạt
tới năng suất lao động cao, hiệu suất công tác tốt.
- Tuyển dụng được những người có kỷ luật, trung thực, gắn bó công
việc với doanh nghiệp.
- Tuyển được những người có sức khoẻ, làm việc lâu dài trong doanh
nghiệp.
Nếu tuyển chọn không kỹ, tuyển chọn sai, tuyển theo cảm tính hoặc
theo một sức ép nào đó, sẽ dẫn đến hậu quả lớn trong việc sử dụng nguồn
nhân lực đã được tuyển chọn.
* Nguồn tuyển chọn bao gồm 2 nguồn là nguồn nội bộ và nguồn bên
ngoài.
- Nguồn nội bộ: Nguồn này được tạo lập bằng cách đề bạt, thuyên
chuyển, cân nhắc từ bộ phận này sang bộ phận khác, từ cấp này sang cấp
khác.
+ Ưu điểm:
• Tạo ra sự thi đua cạnh tranh tích cực trong nhân viên, kích thích họ
làm việc nhiệt tình, sáng tạo, năng suất, chất lượng và hiệu quả hơn.
11
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
• Họ là người đã quen thuộc, nắm vững được điều lệ, phong cách hoạt
động, mục tiêu chiến lược công ty, cho nên khi tiếp nhận công việc mới họ dễ
dàng thích nghi hơn.
• Các nhân viên này đã được thử thách lòng trung thành, thái độ và ý
thức làm việc cũng như các mối quan hệ, kinh nghiệm làm việc trong công ty.
+ Nhược điểm:
• Nhân viên đã quá quen thuộc với lối làm việc cũ nên rất khó có thể có
khả năng sáng tạo, chủ động trong công việc.
• Nhân viên mới sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện quyền lực lãnh
đạo và quyết định của mình và họ muốn giữ sự bình đẳng trước đó.
- Nguồn từ bên ngoài: Bao gồm những người không thuộc về lực lượng
lao động hiện tại của công ty. Có thể chia thành một số nguồn chính sau:
Người thân của các cán bộ, nhân viên trong công ty giới thiệu các nhân
viên cũ của công ty.
Sinh viên mới tốt nghiệp của các trường đại học, cao đẳng, nhân viên
của các hãng khác.
Các ứng cử viên tự nộp đơn xin việc.
+ Ưu điểm: Là việc đưa nhân lực mới vào tổ chức sẽ mang lại nguồn
sinh khí mới cho tổ chức.
+ Nhược điểm: Mất thời gian tuyển dụng, huấn luyện, đào tạo và thử
việc do đó sẽ phải tiêu tốn một khoản chi phí cao.
3.2. Cải tiến việc tổ chức và phục vụ nơi làm việc
Nơi làm việc là một phần diện tích và không gian sản xuất được trang
bị thiết bị các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ
sản xuất đã xác định.
Trong điều kiện sản xuất hiện đại, giữa các nơi làm việc trong doanh
nghiệp có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Nhịp độ sản xuất của từng bộ
phận của phân xưởng hoặc toàn doanh nghiệp là do nhịp độ sản xuất của từng
nơi làm việc quyết định. Vì vậy, muốn nâng cao năng suất lao động, muốn
13
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
tiến hành sản xuất với hiệu quả cao và đào tạo lớp người lao động mới thì
phải tổ chức và phục vụ nơi làm việc. Trình độ tổ chức và phục vụ nơi làm
việc cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và hứng thú của người lao động.
Nhiệm vụ của tổ chức và phục vụ nơi làm việc là:
- Tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết để tiến hành các
nhiệm vụ sản xuất với năng suất cao .
- Bảo đảm cho quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và nhịp nhàng
.
- Bảo đảm những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình lao
động và tạo sự hứng thú tích cực cho người lao động .
- Bảo đảm khả năng thực hiện các động tác lao động trong tư thế thoải
mái, cho phép áp dụng các phương pháp và thao tác lao động tiên tiến .
3.2.1. Tổ chức nơi làm việc
Tổ chức nơi làm việc là một hệ thống các biện pháp nhằm thiết kế nơi
làm việc, trang bị cho nơi làm việc những công cụ thiết bị cần thiết và sắp xếp
bố trí chúng theo một trật tự nhất định.
Tổ chức nơi làm việc gồm có ba nội dung chủ yếu:
- Thiết kế nơi làm việc: Là việc xây dựng các thiết kế mẫu cho các nơi
làm việc nhằm nâng cao hiệu quả lao động của công nhân.
- Trang bị nơi làm việc: Là đảm bảo đầy đủ các loại máy móc, thiết bị,
dụng cụ… cần thiết cho nơi làm việc theo yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất và
chức năng lao động . Nơi làm việc thường được trang bị các thiết bị chính
(thiết bị công nghệ) và thiết bị phụ.
- Bố trí nơi làm việc: Là việc sắp xếp một cách hợp lý trong không gian
tất cả các phương tiện vật chất của sản xuất tại nơi làm việc.
- Chỉ tiêu đánh giá trình độ tổ chức nơi làm việc .
Hệ số trình độ tổ chức nơi làm việc :
K
NLV
nhóm
=
Nlv : Tổng số nơi làm việc của nhóm , ( bộ phận ).
15
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
Nlv
K
: Tổng số nơi làm việc không đạt yêu cầu .
Hệ số trình độ tỏ chức nơi làm việc của đơn vị :
K
NLV
= (n : số nhóm hay bộ phận của đơn vị ).
17
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2.2. Tổ chức phục vụ nơi làm việc
Tổ chức phục vụ nơi làm việc là cung cấp cho nơi làm việc các loại
phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết và tạo các điều kiện thuận lợi để tiến
hành quá trình lao động. Nói khác đi, tổ chức phục vụ nơi làm việc là tổ chức
đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cho các nơi làm việc để quá trình lao động diễn
ra một cách liên tục và có hiệu quả.
Nếu việc tổ chức phục vụ nơi làm việc mà không tốt thì sẽ dẫn đến lãng
phí thời gian lao động rất lớn. Vì vậy, tổ chức phục vụ nơi làm việc là điều
kiện không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản xuất nào.
Để phục vụ nơi làm việc một cách đồng bộ và có hiệu quả thì việc tổ
chức phục vụ nơi làm việc trong doanh nghiệp cần phải tuân theo các nguyên
tắc sau đây:
- Phục vụ theo chức năng nghĩa là việc xây dựng hệ thống phục vụ
nơi làm việc phải theo các chức năng phục vụ riêng biệt, phải căn cứ vào nhu
cầu của sản xuất về số lượng, chất lượng và tính quy luật của từng chức năng
để tổ chức phục vụ được đầy đủ và chu đáo.
- Phục vụ theo kế hoạch nghĩa là phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất để
xây dựng kế hoạch phục vụ sao cho việc phục vụ phù hợp với tình hình sản
xuất, sử dụng một cách có hiệu quả lao động và thiết bị, giảm bớt thời gian
lãng phí do chờ đợi phục vụ.
- Phục vụ phải mang tính dự phòng, nghĩa là hệ thống phục vụ phải
chủ động đề phòng những hỏng hóc thiết bị để đảm bảo sản xuất được liên tục
trong mọi tình huống.
- Phục vụ phải mang tính đồng bộ, nghĩa là cần phải cần có sự phối hợp
giữa các chức năng phục vụ khác nhau trên quy mô toàn doanh nghiệp để đáp
ứng mọi nhu cầu phục vụ, không để thiếu một nhu cầu nào.
- Phục vụ phải mang tính linh hoạt, nghĩa là hệ thống phục vụ phải
nhanh chóng loại trừ các hỏng hóc, thiếu sót không để sản xuất chính bị
ngừng trệ.
19
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Đảm bảo chất lượng và độ tin cậy cao.
- Phục vụ phải mang tính kinh tế, nghĩa là phục vụ tốt cho sản xuất với
chi phí về lao động và tiền vốn ít nhất.
Trong một doanh nghiệp thường áp dụng một trong các hình thức phục
vụ là: phục vụ tập trung, phục vụ phân tán hoặc phục vụ hỗn hợp.
Để đánh giá khả năng phục vụ người ta dùng hệ số phục vụ nơi làm
việc
K
PV
=
3.3. Hoàn thiện các hình thức phân công và hiệp tác lao động.
Phân công và hiệp tác lao động là nội dung cơ bản nhất của tổ chức lao
động. Do phân công lao động mà tất cả các cơ cấu về lao động trong doanh
nghiệp được hình thành, tạo nên một bộ máy với tất cả các bộ phận, chức
năng cần thiết, với những tỉ lệ tương ứng theo yêu cầu của sản xuất. Hiệp tác
lao động là sự vận hành của cơ cấu ấy trong không gian và thời gian. Hai nội
dung này liên hệ với nhau một cách mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau,
củng cố và thúc đẩy nhau một cách biện chứng. Phân công lao động càng sâu
thì hiệp tác lao động càng rộng.
3.3.1. Phân công lao động
Phân công lao động trong doanh nghiệp là sự chia nhỏ toàn bộ các công
việc của doanh nghiệp để giao cho từng người hoặc nhóm người lao động
thực hiện. Đó chính là quá trình gắn từng người lao động với những nhiệm vụ
phù hợp với khả năng của họ. Theo C.Mác thì phân công lao động: “là sự tách
rẽ các hoạt động lao động hoặc là lao động song song, tức là tồn tại các dạng
lao động khác nhau “.
Trong nội bộ doanh nghiệp, phân công lao động bao gồm các nội dung sau:
- Xác định những yêu cầu kỹ thuật của công việc và con người phải đáp
ứng.
21
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Xây dựng danh mục những nghề nghiệp của xí nghiệp, thực hiện việc
tuyên truyền, hướng nghiệp và tuyển chọn cán bộ, công nhân một cách khách
quan theo những yêu cầu của sản xuất
- Thực hiện sự bố trí cán bộ, công nhân theo đúng những yêu cầu của
công việc, áp dụng những phương pháp huấn luyện có hiệu quả. Sử dụng hợp
lý những người đã được đào tạo, bồi dưỡng tiếp những người có khả năng
phát triển, chuyển và đào tạo lại những người không phù hợp với công việc.
Phân công lao động hợp lý chính là điều kiện để nâng cao năng suất lao
động và hiệu quả của sản xuất. Do phân công lao động mà có thể chuyên môn
hoá được công nhân, chuyên môn hoá được công cụ lao động, cho phép tạo ra
được những công cụ chuyên dụng có năng suất lao động cao, người công
nhân có thể làm một loạt bước công việc, không mất thời gian vào việc điều
chỉnh lại thiết bị, thay dụng cụ để làm các thiết bị khác nhau.
Phân công lao động trong doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo phù hợp giữa nội dung và hình thức của phân công lao động
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Để đảm bảo sự phù hợp giữa những khả năng sản xuất và phẩm chất
của con người, phải lấy yêu cầu công việc làm tiêu chuẩn để lựa chọn người
lao động.
- Đảm bảo sự phù hợp giữa công việc phân công với đặc điểm và khả
năng của lao động, phát huy được tính sáng tạo của họ.
Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp bao gồm:
- Phân công lao động theo chức năng: Là hình thức phân công lao động
trong đó tách riêng các công việc khác nhau thành những chức năng lao động
nhất định.
- Phân công lao động theo công nghệ: Là hình thức phân công lao động
trong trong đó tách riêng các loại công việc khác nhau theo tính chất, quy
trình công nghệ thực hiện chúng.
23
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc: Là hình
thức phân công lao động trong trong đó tách riêng các công việc khác nhau
tuỳ theo tính chất phức tạp của nó.
Hệ số phân công lao động :
K
PC
=
Trong đó : ∑t
K
: Tổng thời gian thực hiện công việc không được quy định
trong nhiệm vụ của công nhân trong ca , giờ làm làm việc .
T
C
a
: Thời gian ca , giờ làm việc
n : Số công nhân của nhóm được phân tích .
3.3.2. Hiệp tác lao động.
C. Mác đã định nghĩa hiệp tác lao động như sau: “hình thức làm việc
mà trong đó nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và
trong sự tác động qua lại lẫn nhau trong một quá trình sản xuất nào đó, hoặc
là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau gọi là
hiệp tác lao động”.
Cũng có thể hiểu hiệp tác lao động là sự chuyển từ lao động cá nhân
sang dạng lao động kết hợp của nhiều người trong cùng một quá trình hoặc
trong những quá trình lao động khác nhau.
Hiệu quả mà hiệp tác lao động mang lại là những thay đổi có tính chất
cách mạng điều kiện vật chất của quá trình lao động, nó mang lại những kết
quả lao động cao hơn hẳn so với lao động riêng lẻ, đặc biệt là với những lao
động phức tạp. Nó cũng làm tăng khả năng làm việc cá nhân của từng người
lao động do sự xuất hiện tự phát tinh thần thi đua giữa những người cùng
tham gia quá trình sản xuất .
Trong các doanh nghiệp thường sử dụng các hình thức hiệp tác lao động sau:
- Hiệp tác về mặt không gian : Gồm các hình thức hiệp tác giữa các
phân xưởng chuyên môn hoá, hiệp tác giữa các ngành, các bộ phận chuyên
môn trong cùng một doanh nghiệp, giữa các lao động trong một tổ sản xuất.
25
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Hiệp tác về mặt thời gian: Là việc tổ chức các ca làm việc trong ngày
và đêm. Do yêu cầu của sản xuất và tận dụng năng lực của thiết bị máy móc
nên phải bố trí các ca làm việc một cách hợp lý, đảm bảo sức khoẻ cho người
lao động.
Hiệp tác lao động chặt chẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động.
kích thích tinh thần thi đua trong sản xuất, tiết kiệm được lao động sống và
lao động vật hoá.
Hệ số hiệp tác lao động giữa công nhân chính và công nhân phục vụ :
K
ht
= 1 -
Trong đó : T
LP
: Tổng thời gian lãng phí trong một thời kỳ nhất định
do phục vụ không tốt các nơi làm việc được phân tích .
4. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
4.1. Nội dung và tác dụng
4.1.1. Nội dung
Đào tạo để phát triển nguồn nhân lực là một "loại hoạt động có tổ chức,
được điều khiển trong một thời gian xác định và nhằm đem đến sự thay đổi
nhân cách". Có ba loại hoạt động khác nhau theo định nghĩa này: đào tạo,
giáo dục và phát triển liên quan đến công việc, cá nhân con người và tổ chức.
Đào tạo: là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện
chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Giáo dục: là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, có
thể cho người đó chuyển tới công việc mới trong một thời gian thích hợp.
Phát triển: là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân những công
việc mới dựa trên định hướng tương lai của tổ chức.
Ba bộ phận hợp thành của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực là cần
thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng con người. Vì
vậy phát triển và đào tạo nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào tạo, giáo dục
và phát triển đã được thực hiện bên trong một tổ chức mà còn bao gồm một
27
Đinh Thị Hồng Cường - Lớp QTNL - K6
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét