Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Từ những năm 70 của thế kỷ 20, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bắt
đầu có những đặc điểm mới. Đó là sự ra đời của máy tính điện tử thế hệ mới
được sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế và đời sống xã hội. Sau sự ra đời đó là
một quá trình phát triển bùng nổ không ngừng của công nghệ thông tin làm thay
đổi toàn bộ cuộc sống của con người. Với hàng loạt các ứng dụng phần mềm
ngày càng đa dạng về số lượng và chất lượng, máy tính đang dần thay thế con
người trong các hoạt động lao động trí óc, thế giới đang biến chuyển đến một
nền kinh tế xã hội mới mà thông tin và tri thức được coi là nguồn lực chủ yếu.
Ngành công nghệ thông tin của Việt Nam nói chung và công nghiệp sản
xuất phần mềm nói riêng đã có những tiến bộ vượt bậc, từ việc chúng ta phải
nhập khẩu 100% sản phẩm phần mềm đến nay chúng ta đã tự sản xuất thiết kế
được rất nhiều sản phẩm chất lượng tốt. Vì vậy, ta có thể dễ dàng nhận thấy
được tiềm năng phát triển hêt sức to lớn của ngành công nghệ thông tin nói
chung và phát triến công nghệ phần mềm trong thời gian tới.
Là một công ty hiện đang hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công
nghệ thông tin với sản phẩm chủ yếu là các phần mềm ứng dụng trong đời
sống kinh tế xã hội, công ty cổ phần Sao Mai đang có một điều kiện lý tưởng
để phát triển. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh vô
cùng khắc nghiệt, công ty Sao Mai cũng gặp không ít khó khăn đòi hỏi sự cố
gắng nỗ lực không ngừng của công ty để có thể trở thành một trong những
công ty hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Sau quá trình thực tập
tại công ty, với sự giúp đỡ của công ty và sự hướng dẫn của thầy Nguyễn
Thanh Phong đã giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp phát
triển hoạt động kinh doanh sản phẩm phần mềm ở công ty cổ phần Sao Mai”
Chuyên đề gồm có ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp
kinh doanh sản phẩm phần mềm.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng kinh doanh sản phẩm phần mềm ở công ty cổ
phần Sao Mai.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh sản phẩm
phần mềm ở công ty cổ phần Sao Mai.
6
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH SẢN PHẨM
PHẦN MỀM
1.Tầm quan trọng của việc phát triển kinh doanh sản phẩm phần mềm
đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin
1.1. Khái quát về sản phẩm phần mềm và phát triển kinh doanh sản phẩm phần
mềm
1.1.1. Lịch sử phát triển của máy tính điện tử
Do nhu cầu cần tăng độ chính xác và giảm thời gian tính tóan, con
người đã quan tâm chế tạo các công cụ tính toán từ xưa: bàn tính tay của
người Trung Quốc, máy cộng cơ học của nhà toán học Pháp Blaise Pascal
(1623 – 1662), máy tính cơ học có thể cộng trừ nhân chia của nhà toán học
Đức Gootfried Willhelmvon Leibniz (1646 – 1716), máy sai phân để tính đa
thức toán học, máy phân tích điều khiển bằng phiếu đục lỗ của Charles
Babbage (1792 – 1871)
Tuy nhiên, máy tính điện tử thực sự hình thành vào thập niên 1950 và đến
nay trãi qua 5 thế hệ được phân lọai theo sự tiến bộ về công nghệ điện tử và vi
địên tử cũng như các cải tiến về nguyên lý , tính năng và loại hình của nó.
* Thế hệ 1 (1950 – 1958): Máy tính điện tử sử dụng các bóng đèn điện
tử chân không, mạch riêng rẽ, vào số liệu bằng phiếu đục lỗ, điều khiển bằng
tay. Máy có kích thước rất lớn, tiêu thụ năng lượng nhiều, tốc độ tính tóan
chậm khỏang 300 – 3.000 phép tính mỗi giây. Lọai máy tính điển hình thế hệ
1 như EDVAC( Mỹ) hay BESM (Liên Xô cũ) …
* Thế hệ 2 (1958 – 1964): Máy tính dùng bộ xử lý bằng đèn bán dẫn,
mạch in. Máy có chương dịch như Cobol, Fortral và hệ điều hành đơn giản. Kích
7
Chuyên đề tốt nghiệp
thước máy còn lớn, tốc độ tính còn khỏang 10.000 đến 100.000 phép tính mỗi
giây. Điển hình như lọai IBM – 1070 (Mỹ) hay MINSK (Liên Xô cũ), …
* Thế hệ 3 (1965 – 1974): Máy tính được gắn các bộ xử lý bằng vi
mạch điện tử cỡ nhỏ có thể có được tốc độ tính khỏang 100.000 đến 1 triệu
phép tính mỗi giây . Máy đã có các hệ điều hành đa chương trình, nhiều người
dùng đồng thời hoặc theo kiểu chia thời gian. Kết quả từ máy tính có thể xuất
ra trực tiếp ở máy in. Điển hình như lọai IBM 360 (Mỹ) hay EC (Liên Xô cũ)
…
* Thế hệ 4 (1974 đến nay): Máy tính có các đa vi mạch xử lý có tốc độ
tính đến hàng chục đến hàng tỷ phép tính mỗi giây. Giai đọan này hình thành 2
loại máy tính chính: máy tính cá nhân để bàn (Personal Computer – PC) hoặc
xách tay (Laptop hoặc Notebook computer) và các lọai máy tính chuyên nghiệp
thực hiện đa chương trình, đa xử lý,…hình thành các hệ thống máy tính
(Computer Network), Internet và các ứng dụng phong phú đa phương tiện.
* Thế hệ 5 (1990 – nay): Bắt đầu có các nghiên cứu tạo ra các máy tính
mô phỏng các họat động của não bộ và hành vi con người, có trí khôn nhân
tạo với khả năng tự suy diễn phát triển các tình huống nhận được và những hệ
quản lý kiến thức cơ sở để giải quyết các bài toán đa dạng.
1.1.2. Nguyên nhân ra đời và sự phát triển của công nghệ phần mềm
1.1.2.1 Nguyên nhân ra đời
Khi máy tính chưa xuất hiện, thì việc lập trình chưa có khó khăn gì cả.
Khi mới xuất hiện một vài chiếc máy tính chức năng kém thì việc lập trình bắt
đầu gặp một vài khó khăn nho nhỏ. Giờ đây khi chúng ta có những chiếc máy
tính khổng lồ thì những khó khăn ấy trở nên vô cùng lớn. Như vậy ngành
công nghiệp điện tử không giải quyết khó khăn nào cả mà họ chỉ tạo thêm ra
những khó khăn mới. Khó khăn mà họ tạo nên chính là việc sử dụng sản
8
Chuyên đề tốt nghiệp
phẩm của họ
Thực vậy, với sự phát triển không ngừng và vượt bậc của khoa học kỹ
thuật trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. Máy tính đã đóng một vai
trò chủ đạo và không thể thiếu trong mọi họat động sản xuất, kinh doanh,
thương mại, dịch vụ….
Để thỏa mãn và phục vụ cho các họat động này, không gì có thể thay thế
được đó chính là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin. Trong
đó, sự phát triển đòi hỏi phải có một hệ thống máy tính với các phần mềm
chuyên dụng, hữu ích và chất lượng cao phục vụ cho họat động đời sống.
Làm thế nào để hệ thống máy tính vừa có thể đảm bảo sự tương thích,
hỗ trợ lẫn nhau giữa phần mềm và phần cứng trong đó yêu cầu cần khai thác
được các yếu tố:
Phần cứng phải có khả năng lưu trữ, phản ánh tiềm năng tính tóan.
Phần mềm là cơ chế giúp chế ngự và khai thác các tiềm năng từ phần
cứng.
Do đó, để tăng sự tương thích giữa phần cứng và phần mềm, trong đó
phần cứng luôn có sự phát triển và thay đổi một cách liên tục. Ngược lại, phần
mềm trước đây chỉ được coi là nghệ thuật nhưng lại chưa có một phương
pháp hệ thống và phát triển phần mềm chưa có hệ thống quản lý. Mặt khác,
môi trường phần mềm còn mang tính chất cá nhân, thiết kế tiến trình không
tường minh và không có tài liệu.
Để khắc phục được sự việc này kỹ thuật tương tác mở ra một thế giới
cho ứng dụng và mức độ mới, tinh vi hơn cho cả phần mềm và cả phần cứng,
từ đó đã đưa ra khái niệm về hệ quản trị cơ sở dữ liệu và số lượng các hệ
thống dựa trên máy tính tăng lên.
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Vì vậy, làm cho thư viện phần mềm được mở rộng phát sinh số lượng
lớn các câu lệnh. Do đó, cần sửa chữa khi gặp lỗi và nâng cấp phần mềm khi
yêu cầu người dùng thay đổi, thích nghi với những phần cứng mới. Chính vì
những nhu cầu này mà đòi hỏi việc bảo trì phần mềm cho phù hợp với yêu
cầu của người dùng và tương thích với cấu hình của phần cứng là cần thiết.
Sự phát triển rộng khắp của hệ thống mạng máy tính với nhu cầu liên
lạc, chia sẻ dữ liệu ngày càng tăng đòi hỏi sự phát triển của phần mềm đặc
biệt các phần mềm hỗ trợ là không thể thiếu.
Kỹ nghệ (công nghệ) sự vật là cách tiếp cận mới và nhanh chóng thay
thế các tiếp cận cũ để từ đó phát triển các phần mềm truyền thống trong các
lĩnh vực ứng dụng, các phần mềm này được đưa vào xử lý thực tế theo kiểu
con người .
Tóm lại, nguyên nhân sự ra đời của công nghệ phần mềm có thể khái
quát sau:
*
Do sự tinh vi của phần cứng đã vượt quá khả năng do đó chúng ta cần
xây dựng phần mềm đạt tới tìm năng của phần cứng.
*
Khả năng xây dựng chương trình mới không thể cùng nhịp với nhu
cầu có các chương trình mới.
*
Khả năng bảo trì các chương trình mới rất khó khăn vì các thiết kế sơ
xài và tài nguyên không thích hợp.
*
Để có một phần mềm thân thiện với con người, giúp con người dễ
dàng điều khiển vận hành máy móc, các thuật tóan khó khăn trở thành mềm
dẻo hơn nhờ sự trợ giúp của máy tính.
1.1.2.2. Lịch sử của công nghệ phần mềm
• Thập niên 1940: Các chương trình cho máy tính được viết bằng
10
Chuyên đề tốt nghiệp
tay.
• Thập niên 1950: Các công cụ đầu tiên xuất hiện như là phần
mềm biên dịch Macro Assembler và phần mềm thông dịch đã
được tạo ra và sử dụng rộng rãi để nâng cao năng suất và chất
lượng. Các trình dịch được tối ưư hoá lần đầu tiên ra đời.
• Thập niên 1960: Các công cụ của thế hệ thứ hai như các trình
dịch tối ưu hoá và công việc kiểm tra mẫu đã được dùng để nâng
cao sản phẩm và chất lượng. Khái niệm công nghệ phần mềm đã
được bàn thảo rộng rãi.
• Thập niên 1970: Các công cụ phần mềm, chẳng hạn trong Unix
các vùng chứa mã, lệnh make, v.v. được kết hợp với nhau. Số
lượng doanh nghiệp nhỏ về phần mềm và số lượng máy tính cỡ
nhỏ tăng nhanh.
• Thập niên 1980: các PC và máy trạm ra đời. Cùng lúc có sự xuất
hiện của mô hình dự toán khả năng. Lượng phần mềm tiêu thụ
tăng mạnh.
• Thập niên 1990: Phương pháp lập trình hướng đối tượng ra đời.
Các quá trình nhanh như là lập trình cực hạn được chấp nhận
rộng rãi. Trong thập niên này, WWW và các thiết bị máy tính
cầm tay phổ biến rộng rãi.
• Hiện nay: Các phần mềm biên dịch và quản lý như là .NET, PHP
và JAVA làm cho việc viết phần mềm trở nên dễ dàng hơn
nhiều.
1.1.3. Đặc điểm của quá trình sản xuất và sản phẩm phần mềm
1.1.3.1. Khái niệm sản phẩm phần mềm
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Máy vi tính ra đời đã làm thay đổi cuộc sống của con người. Máy vi
tính được thiết kế trên nguyên tắc: mọi quá trình xử lý thông tin đều có thể
quy về một trình tự thực hiện liên tiếp các phép toán sơ cấp đơn giản. Cấu
trúc một máy tính bao gồm: bộ logic số học thực hiện các phép toán sơ cấp,
bộ điều khiển để chỉ huy việc thực hiện các phép toán theo trình tự quy định,
bộ nhớ để ghi các chương trình tính toán và dữ liệu, các thiết bị đưa dữ liệu
vào và đưa kết quả ra. Cấu trúc đó tạo thành phần cứng của máy tính, sẵn
sàng tổ chức thực hiện các trình tự tính toán được quy đinh bởi các chương
trình bất kỳ. Tùy theo từng bài toán người ta viết một chương trình để giải nó
trong một ngôn ngữ máy tính nào đó và chương trình được đưa vào máy để
thực hiện. Các chương trình làm thành phần mềm của máy tính. Như vậy,
phần mềm là một bộ chương trình thực hiện một nhiệm vụ tương đối độc lập
nhằm phục vụ cho một ứng dụng cụ thể như việc quản lý hoạt động của máy
tính, áp dụng máy tính trong các hoạt động kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo
dục, giải trí…
Đối tượng chính của công nghệ phần mềm là sản xuất ra các sản phẩm
phần mềm.
Sản phẩm phần mềm là các phần mềm được phân phối cho khách hàng
cùng với các tài liệu mô tả phương thức cài đặt và cách thức sử dụng chúng
Có thể nói phần mềm là linh hồn của chiếc máy vi tính, không có các
phần mềm thì không thể điều khiển được máy vi tính, do đó khi nói đến vai
trò của phần mềm cũng là nói đến vai trò của máy vi tính và ngược lại nói đến
vai trò của máy vi tính là nói đến vai trò của phần mềm.
1.1.3.2. Phân loại sản phẩm phần mềm
• Sản phẩm tổng quát: Đây là các phần mềm đứng riêng, được
sản xuất bởi một tổ chức phát triển và bán vào thị trường cho
12
Chuyên đề tốt nghiệp
bất kỳ khách hàng nào có khả năng tiêu thụ.
• Sản phẩm chuyên ngành: là phần mềm được hỗ trợ tài chính
bởi khách hàng trong chuyên ngành. Phần mềm được phát
triển một cách đặc biệt cho khách hàng qua các hợp đồng.
Cho đến những năm 80 của thế kỷ XX, hầu hết sản phẩm phần mềm
đều làm theo đơn đặt hàng riêng (đặc biệt hóa). Nhưng kể từ khi có PC tình
hình hoàn toàn thay đổi. Các phần mềm được phát triển và bán cho hàng trăm
ngàn khách hàng là chủ các PC và do đó giá bán các sản phẩm này cũng rẻ
hơn nhiều. Microsoft là nhà sản xuất phần mềm lớn nhất hiện nay.
1.1.3.3. Các đặc điểm của sản phẩm phần mềm:
- Tính khoa học: Tính khoa học của sản phẩm thể hiện qua những mặt sau:
+ Khoa học về cấu trúc: Bản thân sản phẩm được chia thành những đơn
vị cân đối, không trùng lắp nhau về mặt chức năng, có quan hệ hữu cơ với
nhau, có thể tổ hợp thành nhiều chức năng mới. Bản than thuật toán và
chương trình được thiết kế và cài đặt một cách có cấu trúc.
+ Khoa học về nội dung: Các thuật toán dựa trên những thành tựu mới
của toán học và tin học, có cơ sở chặt chẽ. Các chức năng và nhiệm vụ do sản
phẩm thực hiện có giá trị khoa học cao.
+ Khoa học về hình thức thao tác: Tên của các lệnh hợp lý, thể hiện
tính logic và phù hợp với tư duy tự nhiên của người dùng.
- Tính sáng tạo: Tính sáng tạo của sản phẩm thể hiện sản phẩm
phần mềm được thiết kế và cài đặt đầu tiên, được sản xuất
phục vụ cho những đặc thù, yêu cầu riêng như bộ xử lý văn
bản, chương trình nhận dạng…
- Tính dễ sao chép: sản phẩm phần mềm có thể dễ dàng bị đánh
13
Chuyên đề tốt nghiệp
cắp thông qua việc sao chép từ một máy tính này sang máy
khác, do đó để tránh tình trạng này, khi thiết kế người ta
thường đặt các khóa bảo vệ.
- Tính toàn vẹn: không gây nhập nhằng trong thao tác, nhất
quán về cú pháp, có cơ chế ngăn ngừa việc phát sinh ra những
đối tượng sai quy cách hoặc mâu thuẫn với các đối tượng có
sẵn. Có cơ chế khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần những đối
tượng thuộc diện quản lý của sản phẩm trong trường hợp có sự
cố hỏng máy, mất điện đột ngột.
- Tính độc lập: độc lập đối với thiết bị, sản phẩm có thể cài đặt
một cách dễ dàng trên nhiều loại máy và có thể quản lý được
nhiều loại thiết bị kèm với máy.
- Tính phổ dụng: sản phẩm phần mềm có thể áp dụng cho nhiều
lĩnh vực theo nhiều chế độ làm việc khác nhau.
- Tính dễ phát triển hoàn thiện: sản phẩm có thể mở rộng tăng
cường, nâng cấp về mặt chức năng dễ dàng.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng phần mềm: một sản phẩm phần mềm
được đánh giá có chất lượng tốt phải đảm bảo được các tiêu chí sau:
- Dễ sử dụng
- Đáp ứng được các yêu cầu về tính năng sản phẩm
- Tốc độ xử lý nhanh
- Khả năng tương thích với các chương trình khác
- Khả năng bảo trì và nâng cấp sản phẩm
1.1.3.4. Các đặc điểm của quá trình sản xuất sản phẩm phần mềm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét