Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Những yêu cầu đối với các chủ thể trong việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các trung gian thanh toán và thực tế áp dụng các quy định về thanh toán thẻ

MỤC LỤC.
Đặt vấn đề …………………………………………………………………….2
Nội dung……………………………………………………………………….3
I. Những yêu cầu đối với các chủ thể trong việc mở và sử dụng tài khoản
thanh toán tại các trung gian thanh toán ………………………………….3
1.Một số vấn đề lý luận chung ……………………………………………….3
2.Những yêu cấu đối với các chủ thể khi mở tài khoản thanh toán tại các trung
gian thanh toán ……………………………………………………… 4
2.1. Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ
trang …………………………………………………………………………….4
2.2. Đối với khách hàng là cá nhân……………………………………………5
3. Yêu cầu đối với các chủ thể khi sử dụng tài khoản qua trung gian thanh
toán………………………………… ………………………………………… 5
3.1. Với chủ tài khoản:………………………………….……………………….5
3.2. Với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán:……… ………………………. 7
II. Thanh toán thẻ và thực tế áp dụng các quy định về thanh toán thẻ.
1.Thanh toán thẻ ………………………………………………………………7
2. Thực tế áp dụng quy định về thanh toán thẻ …………………………… 9
2.1. Thành tựu …………………………………………………………………9
2.2. Hạn chế và nguyên nhân ……………………………………………… 10
3. Hoàn thiện trực tiếp các quy định điều chỉnh trực tiếp về thanh toán thẻ
………………………………………………………………………………….14
Kết thúc vấn đề.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Như chúng ta đã biết, ngày nay ở các quốc gia, các hình thức dịch vụ
thanh toán phát triển rất đa dạng. Ở Việt Nam, trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, thì thanh toán qua trung gian – thanh toán chủ yếu là thanh toán không
dùng tiền mặt nên có vai trò to lớn. Việc thanh toán không dùng tiền mặt không
những phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội mà việc thanh toán này có ảnh
hưởng trực tiếp đến sản xuất của xã hội. Mặt khác, thanh toán không dùng tiền
mặt tạo điều kiện cho các trung gian thực hiện được các dịch vụ trả tiền với khối
lượng lớn một cách nhanh chóng và chính xác.
Để thực hiện được việc thanh toán qua trung gian, các chủ thể phải mở tài
khoản tại các trung gian thanh toán. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình sử dụng
dịch vụ thanh toán qua các trung gian thanh toán bao giờ cũng gắn liền với các
rủi ro. Chính vì vậy, để tránh những rủi ro có thể xảy ra, pháp luật đã có những
quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán
qua trung gian thanh toán vừa để bảo vệ quyền lợi cho chính họ, vừa bảo đảm sự
vận hành an toàn của nền kinh tế. Vậy trong quá trình mở và sử dụng tài khoản
thanh toán tại các trung gian thanh toán thì các chủ thể cần phải đáp ứng những
yêu cầu gì? Những yêu cầu này được pháp luật quy định ra sao? Thực tế áp dụng
các quy định về thành toán thẻ hiện nay được thực hiện như thế nào? Để tìm
hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm em xin chọn đề tài : “ Những yêu cầu đối với
các chủ thể trong việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các trung gian
thanh toán và thực tế áp dụng các quy định về thanh toán thẻ”.
NỘI DUNG
2
I. Những yêu cầu đối với các chủ thể trong việc mở và sử dụng tài khoản
thanh toán tại các trung gian thanh toán.
1.Một số vấn đề lý luận chung.
- Theo từ điển từ ngữ Luật học (ĐH Luật HN): tài khoản là công cụ để ghi
chép, phản ánh vốn tiền tệ của chủ tài khoản. Tài khoản được sử dụng trong
thanh toán gọi là tài khoản thanh toán. Tài khoản thanh toán là tài khoản do
người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán để thực hiện các giao dịch thanh toán theo quy định của NHNN.
- Thanh toán qua các trung gian thanh toán là việc chi trả không tiến hành
trực tiếp giữa người chi trả với người thụ hưởng mà thông qua việc ủy nhiệm
cho các tổ chức trung gian như ngân hàng, kho bạc nhà nước thực hiện.
- Mở và sử dụng tài khoản thanh toán là một giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại. Giao dịch này được ngân hàng thương mại thực hiện thường
xuyên như một nội dung chính mang tính chức năng và đem lại nguồn doanh
thu, lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng.
- Về chủ thể, một bên tham gia giao dịch mở và sử dụng tài khoản thanh toán
bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện được phép tiến hành hoạt
động cung ứng dịch vụ thanh toán (chủ yếu là các ngân hàng thương mại);
khách hàng có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn các điều kiện do ngân hàng quy
định phù hợp với pháp luật.
Có thể nói, pháp luật chỉ cho phép một số tổ chức tín dụng có chức năng
thích hợp được cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng là nhằm bảo vệ lợi
ích chính đáng của các bên giao dịch (ngân hàng và tổ chức, các nhân mở tài
khoản) và rộng hơn là lợi ích của nền kinh tế. Bởi lẽ, mở và sử dụng tài khoản
có liên quan đến vấn đề kiểm soát nguồn gốc của tài sản tiền gửi, cũng như vấn
đề điều tiết lưu thông tiền tệ và vận hành an toàn hiệu quả của hệ thống ngân
hàng trong kinh doanh.
3
2.Những yêu cấu đối với các chủ thể khi mở tài khoản thanh toán tại các
trung gian thanh toán.
Trước hết, chủ thể tham gia giao dịch mở tài khoản thanh toán phải có năng
lực hành vi dân sự. Họ phải chứng minh năng lực pháp luật và năng lực hành vi
của mình thông qua quyết định thành lập và giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, quyết định bổ nhiệm chủ tài khoản và kế toán trưởng (đối với tổ chức)
hoặc chứng minh thư nhân dân (đối với cá nhân)…Cụ thể là:
2.1. Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị
vũ trang phải gửi cho ngân hàng nơi mở tài khoản những giấy tờ sau:
- Giấy đăng kí mở tài khoản do chủ tài khoản kí tên, đóng dấu trong đó ghi rõ
các nội dung sau:
+ Tên đơn vị;
+Họ và tên chủ tài khoản;
+Địa chỉ giao dịch của đơn vị;
+ Số, ngày, tháng, năm, nơi cấp Chứng minh nhân dân của chủ tài khoản;
+ Tên ngân hàng nơi mở tài khoản.
- Bản đăng kí mẫu dấu và chữ kí để giao dịch với ngân hàng nơi mở tài khoản
gồm:
+ Chữ kí của chủ tài khoản và những người được ủy quyền kí thay chủ tài
khoản trên các giấy tờ thanh toán giao dịch với ngân hàng ( chữ kí thứ nhất).
+ Chữ kí của kế toán trưởng và của những người được ủy quyền kí thay kế
toán trưởng (chữ kí thứ 2).
+ Mẫu dấu của đơn vị.
- Các văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của đơn vị như quyết định
thành lập đơn vị, giấy phép thành lập doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm tổng
giám đốc, giám đốc, thủ trưởng đơn vị…( nếu là bản sao phải có chứng nhận
của công chứng nhà nước).
4
2.2. Đối với khách hàng là cá nhân do người xin mở tài khoản lập và kí tên,
trong đó ghi rõ:
+ Họ và tên chủ tài khoản;
+ Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản;
+ Số, ngày, tháng, năm, nơi cấp Chứng minh nhân dân của chủ tài khoản;
+ Tên ngân hàng nơi mở tài khoản;
+ Bản đăng kí mẫu chữ kí của chủ tài khoản để giao dịch với ngân hàng nơi
mở tài khoản.
Khi nhận được giấy tờ đăng kí, xác minh các điều kiện mở tài khoản, ngân
hàng sẽ trả lời đồng ý hoặc từ chối mở tài khoản bằng văn bản. Trong trường
hợp ngân hàng đồng ý mở tài khoản, hồ sơ đăng ký mở tài khoản của khách
hàng sẽ được chuyển cho bộ phận chức năng của ngân hàng làm thủ tục mở tài
khoản và thông báo số hiệu tài khoản cũng như thời gian bắt đầu có hiệu lực của
tài khoản cho khách hàng biết để giao dịch. Kể từ thời điểm tài khoản bắt đầu có
hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh. Trên cơ sở hợp đồng tài
khoản tiền gửi thanh toán mà các bên đã giao kết, các bên có trách nhiệm thực
hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình như đã cam kết.
3. Yêu cầu đối với các chủ thể khi sử dụng tài khoản qua trung gian thanh
toán.
3.1. Với chủ tài khoản:
- Bảo đảm có đủ tiền trên tài khoản để thực hiện các lệnh thanh toán đã lập,
chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá số dư hoặc hạn mức thấu chi của tài
khoản (trừ trường hợp đã có thỏa thuận thấu chi với ngân hàng)
- Tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư trên tài khoản, đối chiếu số dư với giấy
báo có, giấy báo nợ hoặc thông báo số dư trên tài khoản do ngân hàng nơi mở tài
khoản gửi đến.
- Chịu trách nhiệm về những sai sót và hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng
dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình. Trường hợp có sai sót về
5
chứng từ thanh toán, chủ tài khoản phải có văn bản giải trình chi tiết để ngân
hàng xem xét giải quyết.
- Tuân thủ hướng dẫn của ngân hàng về quy trình nghiệp vụ và mẫu biểu
trong việc lập và thực hiện các giao dịch thanh toán qua tài khoản; sử dụn
phương tiện thanh toán; sử dụng, luân chuyển, lưu trữ chứng từ giao dịch; các
biện pháp bảo đảm an toàn trong thanh toán…
- Thông báo kịp thời với ngân hàng khi phát hiện thấy sai sót, nhầm lẫn trên
tài khoản của mình hoặc tài khoản của mình bị lợi dụng. Cung cấp thông tin
chính xác khi yêu cầu sử dụng và khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
- Không được cho thuê, cho mượn tài khoản hoặc sử dụng tài khoản của mình
trong các giao dịch thanh toán đối với những khoản tiền đã có bằng chứng về
nguồn gốc bất hợp pháp.
- Hoàn trả cho ngân hàng trong trường hợp thụ hưởng số tiền không có căn
cứ pháp luật thông qua giao dịch thanh toán do ngân hàng thực hiện.
- Chấp nhận việc ngân hàng trích tài khoản để thu các khoản nợ đến hạn, quá
hạn, các khoản lãi và các khoản chi phí hợp lệ khác phát sinh trong quá trình
quản lý tài khoản và cung ứng các dịch vụ thanh toán theo quy định.
- Chủ tài khoản có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật về sử dụng
tài khoản thanh toán.
- Đối với trường hợp nhiều người cùng là chủ tài khoản( đồng chủ tài khoản),
mọi giao dịch thanh toán chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của tất cả
những người có là đồng chủ tài khoản. Đồng chủ tài khoản được ủy quyền cho
người khác sử dụng tài khoản trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình. Việc
ủy quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật. Trong
trường hợp một đồng chủ tài khoản bị chết, bị tuyên bố mất tích hoặc mất năng
lực hành vi dân sự thì quyền sử dụng tài khoản và nghĩa vụ phát sinh từ việc sử
dụng tài khoản của người đó được thực hiện theo quy định của pháp luật.
6
3.2. Với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán:
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các lệnh thanh toán, các yêu cầu sử dụng tài
khoản của khách hàng phù hợp với quy định hoặc thỏa thuận giữa ngân hàng và
khách hàng. Điều chỉnh các khoản mục bị hạch toán sai, hạch toán không đúng
bản chất hoặc không phù hợp với nội dung của tài khoản theo quy định.
- Gửi kịp thời, đầy đủ Giấy báo Nợ, Giấy báo Có, Bản sao sổ tài khoản, Giấy
báo số dư tài khoản theo yêu cầu của người sử dụng tài khoản.
- Bảo mật các thông tin liên quan đến tài khoản và giao dịch trên tài khoản
của khách hàng theo quy định, trừ các trường hợp được pháp luật quy định.
- Chịu trách nhiệm về những thiệt hại, vi phạm, lợi dụng trên tài khoản của
khách hàng do lỗi của mình.
Khi phát sinh các nghiệp vụ giao dịch trên tài khoản, ngân hàng phải thông
báo đầy đủ cho chủ tài khoản.
- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đóng tài khoản thanh toán khi:
+ chủ tài khoản yêu cầu;
+ Cá nhân có tài khoản bị chết, bị mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
+ Tổ chức có tài khoản chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
-Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền quyết định việc đóng tài
khoản khi chủ tài khoản vi phạm pháp luật trong thanh toán hoặc vi phạm thỏa
thuận với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc khi tài khoản có số dư thấp
và không hoạt động trong một thời hạn nhất định theo quy định của tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán.
II. Thanh toán thẻ và thực tế áp dụng các quy định về thanh toán thẻ.
1. Thanh toán thẻ.
Thanh toán thẻ là hoạt động của các chủ thẻ sử dụng thẻ thanh toán trong
hoạt động chi trả các hàng hóa, dịch vụ trong quá trình tham gia vào hoạt động
mua bán, thương mại phục vụ cho những nhu cầu nhất định trong cuộc sống.
7
Hoạt động thanh toán thẻ bao gồm các chủ thể sau:
- Ngân hàng thanh toán thẻ: là ngân hàng được ngân hàng phát hành thẻ ủy
quyền thực hiện thanh toán theo hợp đồng hoặc là thành viên liên kết của một tổ
chức thẻ quốc tế thực hiện dịch vụ thanh toán theo thỏa ước ký kết với tổ chức
đó. Ngân hàng thanh toán thẻ sẽ trực tiếp kí các hợp đồng với các đơn vị chứng
nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch tại các đơn vị chấp nhận thẻ, cung
cấp các dịch vụ hỗ trợ, hướng dẫn các đơn vị chứng nhận thẻ nghiệp vụ để thực
hiện xử lý, truyền tải thông tin cần thiết trong quá trình giao dịch. Ngân hàng
thanh toán thẻ có thể đồng thời là ngân hàng phát hành thẻ.
- Đơn vị chấp nhận thẻ ( ĐVCNT): Là tổ chức, đơn vị, cá nhân chấp nhận
việc thanh toán tiền hàng hóa, phí dịch vụ bằng thẻ theo hợp đồng ký kết với
ngân hàng phát hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán thẻ.
- Trung tâm chuyển mạch: Là khối kết nối hệ thống thanh toán giữa các ngân
hàng thanh toán thẻ, các tổ chức thanh toán thẻ khác nhau để các ngân hàng
thanh toán thẻ có thể thực hiện được các giao dịch với nhau mặc dù mỗi hệ
thống có một đặc thù riêng. Trung tâm chuyển mạch được hình thành nhằm kết
nối giữa các đơn vị chứng nhận thẻ, các ngân hàng thanh toán thẻ, tổ chức thẻ
quốc tế thành một mạng lưới thanh toán rộng khắp, giúp các chủ thể có thể sử
dụng thẻ trên phạm vi rộng hơn, không bị bó hẹp trong phạm vi đơn vị chứng
nhận thẻ thuộc hệ thống thanh toán của mình. Trung tâm chuyển mạch còn góp
phần tiết kiệm chi phí đầu tư mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ do tận dụng
được đầu tư của ngân hàng khác.
Pháp luật Việt Nam nhìn chung chưa có quy định cụ thể về hoạt động thanh
toán qua thẻ ngân hàng. Chủ yếu chỉ quy định trên các phương diện cơ bản, các
quy định mang tính chất chung chung, định hướng chứ không đi vào chi tiết cụ
thể. Cụ thể về việc phát hành, sử dụng thẻ đều theo thông lệ quốc tế và các quy
định của từng tổ chức phát hành thẻ đề ra.
8
Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2007 ban hành quy
chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung ứng các dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ
ngân hàng quy định về thanh toán thẻ bao gồm:
- Điều kiện thực hiện dịch vụ thanh toán;
- Tổ chức thực hiện thanh toán;
-Từ chối thanh toán.
Vấn đề thanh toán thẻ được quy định tại chương IV cụ thể tại các Điều 14,
Điều 15, Điều 16. Điều 14 quy định về các điều kiện thanh toán thẻ. Khoản 1
quy định về điều kiện có thể thực hiện hoạt động thanh toán, khoản 2 quy định
các điều kiện về thanh toán mà tổ chức thanh toán thẻ phải chấp hành, khoản 3
quy định về việc quản lý của Ngân hàng Nhà nước, chế tài đối với các tổ chức
thanh toán thẻ không chấp hành quy định về thanh toán. Điều 15 quy định về tổ
chức thực hiện thanh toán thẻ. Điều 16 quy chế nhấn mạnh về vấn đề từ chối
thanh toán. Khoản 1 Điều 16 quy định các trường hợp từ chối thanh toán, khoản
2 quy định các trách nhiệm thông báo của tổ chức phát hành thẻ đối với các
trường hợp từ chối thanh toán cho tổ chức thanh toán thẻ, đơn vị chấp hành thẻ
vẫn cố tình thực hiện thanh toán thẻ.
2. Thực tế áp dụng quy định về thanh toán thẻ.
2.1. Thành tựu.
Trong những năm gần đây, hoạt động thanh toán thẻ ở các ngân hàng
thương mại Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả đáng kể, bước đầu đã hình
thành một thị trường thanh toán đầy đủ. Các ngân hàng Việt Nam xuất phát từ
việc chỉ làm đại lý thanh toán cho các ngân hàng nước ngoài sau một thời gian
tiếp cận công nghệ hiện đại đã tiến đến trực tiếp phát hành cho khách hàng, đặc
biệt là thẻ tín dụng quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế về mặt chất
lượng thẻ , dịch vụ cung cấp thẻ cho khách hàng đôi khi còn chưa thông suốt .
Các ngân hàng trong nước (đặc biệt là VCB và ACB) đóng vai trò chính
trong thị trường: Hiện nay các ngân hàng trong nước đã chủ động đầu tư công
9
nghệ, mạnh dạn đưa ra nhiều loại hình thanh toán thẻ trên thị trường. ACB tuy
là một ngân hàng cổ phần, có rất nhiều hạn chế về công nghệ nhưng tham gia
tích cực vào thị trường phát hành thẻ, VCB luôn đi đầu trong việc đưa ra các
giải pháp về thẻ .
Thẻ thanh toán nội địa phát triển khá mạnh về chủng loại, thủ tục đăng ký
dễ dàng: Với nhiều sản phẩm thẻ khác nhau, các ngân hàng đã khá năng động
trong việc mở rộng lựa chọn cho khách hàng. So với sản phẩm của các ngân
hàng nước ngoài, mức ký quỹ đối với thẻ tín dụng hay số dư tối thiểu khi đăng
ký một thẻ ghi nợ nội địa cũng tương đối phù hợp với thu nhập của người Việt
Nam. Việc đưa ra sản phẩm thẻ phụ cũng như thẻ công ty là rất phù hợp với thị
trường Việt Nam.
Cơ sở hệ thống kỹ thuật của một số ngân hàng thương mại đã bước đầu được
cải thiện: Cơ sở hệ thống kỹ thuật của một số ngân hang thương mại đã bước
đầu cải thiện: Trong số các ngân hàng tham gia giao dịch thẻ, các ngân hàng
thương mại quốc doanh đang tiến hành việc nâng cấp hệ thống kỹ thuật, làm nền
tảng mở đầu và phát triển hoạt động thanh toán nói chung và hoạt động thẻ nói
riêng. Bên cạnh đó một số ngân hàng còn đầu tư chương trình quản lý phát hành
và thanh toán thẻ với chuẩn quốc tế như chương trình Semacard của VCB, hay
hệ thống online mà đi đầu là VCB. Với những ưu điểm mà hệ thống này mang
lại VBC- online chắc chắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản
hơn .
2.2. Hạn chế và nguyên nhân.
2.2.1. Những hạn chế .
Đầu tiên là việc tỷ lệ thanh toán thẻ chưa cao trong tổng thanh toán của toàn
xã hội:
Theo báo cáo của ngân hàng nhà nước, tốc độ tăng trưởng của phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt trong năm 2004 có thể đạt khoảng 28%, với
tổng giá trị thanh toán khoảng hơn 900.000 tỷ đồng. Tuy nhiên theo đánh giá
10
chung của các ngân hàng, sự gia tăng sử dụng các phương tiện thanh toán không
dùng tiền mặt mới tập chung ở khu vực các tổ chức kinh tế, còn ở khu vực dân
cư diễn biến này khá chậm chạp. Trong bốn phương thức thanh toán không dùng
tiền mặt đang được dùng chủ yếu là ủy nhiệm chi, séc và thẻ thanh toán thì ủy
nhiệm chi có tốc độ phát triển nhanh nhất và được dùng nhiều nhất. Đối với thẻ,
mặc dù trong mấy năm gần đây một số ngân hàng ồ ạt phát hành các loại thẻ
tung ra thị trường gây cảm nhận thẻ thanh toán đang được đón nhận tích cực với
mật độ sử dụng cao, nhưng theo thống kê của NHNN thì giá trị thanh toán của
loại thẻ này chiếm phần trăm khá nhỏ trong tổng giá trị thanh toán .
Người tiêu dùng chưa thấy thẻ ngân hàng thực sự mang lại nhiều tiện ích cho
mình, mà phần lớn sử dụng như một tài khoản tiết kiệm.
Đứng trên quan điểm người tiêu dùng, khi nghiên cứu tiện ích của một số loại
thẻ ngân hàng ta nhận thấy các sản phẩm thẻ Việt Nam có chung một đặc điểm
hoặc là tiện ích kém, hoặc là phí cao so với thu nhập của người dân. Một số
chương trình du học trọn gói do các ngân hàng cung cấp có đưa ra hình thức cấp
thẻ tín dụng cho học sinh chi tiêu, thanh toán học phí nước ngoài. Theo đó mọi
cho phí du học sinh cần thanh toán đã được ngân hàng ứng trước, hoặc ngân
hàng phát hàng một thẻ ghi nợ, phụ huynh không phải lo chuyển tiền cho con
mà chỉ việc thanh toán số dư ngân hàng. Xét trên khía cạnh tiện lợi thì loại hình
này rất phù hợp, khách hàng chỉ phàn nàn về lệ phí. Với một khoản phí rút tiền
6% trên tổng số tiền rút nếu tiền mặt tại nước ngoài với các sản phẩm thẻ tín
dụng VBC và ACB, hoặc 75.000 đối với thẻ ghi nợ ANZ là không hề nhỏ với
sinh viên .
Bên cạnh đó , khi thanh toán thẻ tại nước ngoài, có rất nhiều phí ẩn mà chủ
thẻ phải chịu như tỷ giá thay đổi từ đồng tiền nước sở tại sang đồng đô la Mỹ và
tổ chức thẻ quốc tế sẽ tính phí chuyển đổi (thong thường là 1,1%). Khi về nước
thanh toán lại với ngân hàng phát hành thẻ trong nước , chủ thẻ lại chịu thêm
một lần quy đổi nữa, từ USD sang VND với phí chuyển đổi thường là 1%. Như
11
vậy khi mua một món hàng, chủ thẻ phải chịu một khoản tiền bằng 2 lần chênh
lệch tỷ giá và 2 lần chuyển đổi .
Đối với các loại thẻ tín dụng hay ghi nợ trong nước, tuy phí hoạt động có
giảm hơn, nhưng kháchh hàng lại gặp hạn chế về điểm rút tiền hoặc thanh toán
hàng hóa dịch vụ . Khi thanh toán tại các đại lý trong nước, theo thông lệ, các
diểm mua sắm sẽ phải trả cho ngân hàng một khoản phí chiết khấu tính trên giá
trị hàng hóa, dịch vụ thanh toán bằng thẻ. Thế nhưng, nhiều đại lý thấy tiếc vì bị
giảm bớt tiền lời khi bị trích lại phí chiết khấu nên đã nâng giá bán đối với
khách hàng dùng thẻ. Tuy bị ngân hàng khuyến cáo nhưng hiện nay tình trạng
đó vẫn xảy ra.
2.2.2. Nguyên nhân những hạn chế:
Thứ nhất, do thói quen dùng tiền mặt của người dân. Một trong những
nguyên nhân gây cản trở sự phát triển hoạt động thẻ là phải nói tới thói quen
dung tiền mặt đã bén rễ quá lâu trong tư duy tiêu dùng của người dân. Người
Việt Nam gần như vẫn coi tiền mặt là phương tiện không thể thay thế trong
thanh toán tiêu dùng và cảm nhận việc thuận tiện, yên tâm khi thanh toán và
nhận thanh toán bằng tiền mặt. Khách hàng cá nhân chưa thực sự tham gia nhiều
vào sử dụng các dịch vụ ngân hàng ngoài việc gửi tiền tiêt kiệm. Vì vậy rất khó
tạo ra một bước thay đổi lớn nào nếu người dân chưa quen với môt phương tiện
thanh toán mới cho dù nó có tiện ích đến đâu. Mặc dù vấn đề này không thể
khắc phục một sớm một chiều nhưng hoàn toàn có thể cải thiện được bằng chính
sách marketing của các ngân hàng.
Thứ hai, thu nhập bình quân thấp. Hiện nay thu nhập bình quân của người
Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực là một trở ngại cho việc phát
triển sử dụng thẻ. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân, thuế VAT cũng làm ảnh
hưởng đến thu nhập có thể sử dụng của người dân.
Thứ ba, hệ thống tài khoản cá nhân chưa phát triển. Môi trường kinh tế xã hội
của nước ta hiện nay còn chưa thuận tiện cho việc phát triển thẻ tín dụng theo
12
đúng tích chất của nó. Do thiếu thông tin và cơ sở đánh giá khách hàng, nên hầu
hết thẻ hiện nay phát hành trên cơ sở ký quỹ, thế chấp, cầm cố. Pháp luật và cơ
chế pháp lý bảo vệ ngân hàng trong dịch vụ phát hành thẻ tín chấp còn sơ sài,
kém hiệu quả làm cho nguy cơ rủi ro với ngân hàng gia tăng. Như vậy, đã gây
khó khăn cho khách hàng cũng như ngân hàng trong việc mở rộng quy mô
khách hàng .
Thứ tư, nhận thức của cơ sở chấp nhận thẻ còn hạn chế. Dịch vụ máy giao
dịch tự động chưa thuận tiện. Vấn đề mở rộng các cư sở chấp nhận thẻ còn gặp
nhiều khó khăn do họ không nhận thức hết được rằng việc chấp nhận thanh toán
thẻ là để thu hút khách hàng, tăng nguồn thu qua bán hàng. Còn thông thường
đối với dịch vụ ATM, các máy ATM cần được đặt ở các trung tâm thương mại
hoặc các địa điểm gần đường đi lại hoạt động 24/24 để tiện lợi cho người dân rút
tiền. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, do ý thức người dân chưa cao và pháp luật
chưa nghiêm nên độ an toàn của các máy ATM đặt tại các điểm công cộng là rất
thấp. Thường các máy này được đặt vào chính ngân hàng hoặc khách sạn, siêu
thị. Do đó, một số máy ATM chỉ phục vụ được theo giờ làm việc nhất định.
Thứ năm, công tác maketing tiếp thị sản phẩm còn nhiều hạn chế. Các ngân
hàng Việt Nam chưa tích cực chủ động trong việc đưa sản phẩm thẻ tới tay
người tiêu dùng. Công tác quảng cáo, quảng bá sản phẩm chưa mạnh mẽ. Vì vậy
nhiều khách hàng chưa biết vầ sản phẩm thẻ và cũng chưa có cái nhìn đúng về
chúng. Ngoài ra, các ngân hàng cũng chưa có chính sách tiếp thị và phát triển thị
trường hữu hiệu.
Thứ sáu, về góc độ quản lý còn nhiều khe hở cần được khắc phục. Ví
dụ như hiện nay khi phát hành thẻ tín dụng quốc tế là chấp nhận việc chuyển đối
tự do giữa Việt Nam đồng và USD không cần xin phép, nhất là khi sử dụng ở
nước ngoài. Điều này đã có ảnh hưởng lớn tới việc kiểm soát và khống chế
lượng ngoại tệ mang ra nước ngoài. Mặc dù vẫn còn có những sơ hở như vậy
trong khâu thanh toán, nhưng đối với khâu phát hành thì vấn đề quản lý ngoại
13
hối đôi khi còn quá chặt chẽ và thiếu linh hoạt. Đó là theo chế độ quản lí ngoại
hối, hạn mức tối đa của thẻ tín dụng quốc tế là 90 triệu VNĐ. Trong khi đó, có
những khách hàng lại có nhu cầu sử dụng lớn hơn 90 triệu VNĐ (tương ứng với
6000 USD) và khả năng tài chính của họ là hoàn toàn đáp ứng được thì lại
không được chấp nhận.
Thứ bảy, hệ thống thanh toán liên ngành ngân hàng chưa đồng bộ và thiếu sự
thống nhất.
Dịch vụ thẻ là loại hình phát triển dựa trên sự phát triển của công nghệ thông
tin hiện đại. Trong khi đó, trình độ phát triển trong lĩnh vực này của Việt Nam
còn thấp. Hệ thống công nghệ tin học của ngân hàng chưa đạt tới tình độ chuẩn
của thế giới, còn thiếu sự đồng bộ và thống nhất trong cùng hệ thống. Hệ thống
thanh toán liên ngân hàng cũng chưa phát tiển mà mới trong giai đoạn đầu đi
vào hoạt động.
3. Hoàn thiện trực tiếp các quy định điều chỉnh trực tiếp về thanh toán thẻ.
Về đối tượng điều chỉnh: pháp luật cần mở rộng đối tượng điều chỉnh không
chỉ là các loại thẻ do ngân hàng phát hành mà nên bao gồm cả các loại thẻ do
các tổ chức phi ngân hàng phát hành, các loại thẻ liên kết…hiện nay trên thực tế
tồn tại rất nhiều loại thẻ là loại thẻ liên kết, thẻ do các tổ chức tín dụng phát
hành. Nếu không quy định cụ thể với các loại thẻ này sẽ rất khó khăn trong việc
thực hiện và áp dụng pháp luật.
Vấn đề về chủ thẻ, pháp luật hiện hành chủ yếu có quy định với chủ thẻ là cá
nhân trong khi các quy định về chủ thẻ là pháp nhân mới chỉ được đề cập tới
một cách mờ nhạt. nên có các quy định riêng để đảm bảo kiểm soát đối với các
giao dịch thẻ của loại đối tượng này. Quy định về việc phát hành, giới hạn số thẻ
phát hành đối với một chủ thể là tổ chức, pháp nhân, số lượng thẻ phát hành này
nên được giới hạn để tránh việc phát hành tràn lan dẫn đến không kiểm soát
được giao dịch, gây thiệt hại cho tổ chức đó. Quy định vấn đề sử dụng thẻ đối
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét