Bản chất phạm trù cái đẹp trong mỹ học của Immanuel Kant
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trong q trình hội nhập với thế giới, điều này làm cho tiến
trình quốc tế hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ, kéo theo đó là sự giao lưu, xâm nhập
của các nền văn hóa. Ngồi những mặt tích cực còn có mặt tiêu cực của nó là có
thể dẫn tới sự đồng hóa văn hóa, sự phai nhạt, biến mất của văn hóa dân tộc.
Chính vì vậy chúng ta cần phải có những nhận thức đúng đắn về mọi lĩnh vực
kinh tế - chính trị, văn hóa nghệ thuật… Trong đó văn hóa nghệ thuật mà cụ thể
là thẩm mĩ học đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống tri thức về thẩm mỹ một
cách tồn diện để có thể xem xét, đánh giá một cách khoa học, tồn diện về cái
đẹp, giá trị đẹp…
Nằm trong hệ thống tri thức mỹ học, mỹ học của Immanuel Kant là một
bộ phận khơng thể tách rời của mỹ học. Đặc biệt với những quan điểm mỹ học,
nhất là quan điểm về cái đẹp trong mỹ học. Kant đã được suy tơn là ơng tổ của
chủ nghĩa lãng mạn. Thậm chí đánh giá về mỹ học của Immanuel Kan, Otfied
Hoffe đã đưa ra nhận xét như sau: “Kant đã đặt cơ sở mới mẻ thật sự có ý nghĩa
vạch thời đại cho mỹ học, vì đã thiết lập được tính độc lập và tính quy luật riêng
của nó trong quan hệ với nhận thức khoa học và thực hành ln lý, chính trị…”
Như vậy việc nghiên cứu về mỹ học của Immanuel Kant nói chung và quan
điểm về phạm trù cái đẹp của Kant nói riêng là hết sức cần thiết.
Mặt khác trong q trình học tập bộ mơn triết học, em thực sự thấy hứng
thú với học phần triết học cổ điền Đức mà cụ thể là triết học của I.Kant, trong đó
có thẩm mỹ học của I.Kant. Do đó em đã lựa chọn đề tài về phạm trù cái đẹp
trong tư tưởng mỹ học của I.Kant cho niên luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cái đẹp và bản chất của cái đẹp là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong
khoa học và nghệ thuật. Chính vì thế đã có nhiều người nghiên cứu về cái đẹp và
bản chất của nó. Song những nghiên cứu về hệ thống mỹ học nói chung và phạm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
trù cái đẹp nói riêng của I.Kant chủ yếu đều ở góc độ chúng là một bộ phận
trong tồn bộ hệ thống triết học của I.Kant. Những nghiên cứu đó chỉ dừng lại
ở mức độ khái qt trong các giáo trình triết học lịch sử, lịch sử mỹ học nói
chung và trong các tập bài giảng dùng cho sinh viên chun ngành mỹ học.
3. Mục đích, nhiệm vụ của niên luận
Mục đích của niên luận này là: Niên luận muốn đi sâu vào cái đẹp với tư
cách là phạm trù chủ chốt của mỹ học I.Kant và nhằm nêu lên một cách khái
qt nhất về bản chất của phạm trù cái đẹp trong mỹ học của I.Kant.
Để thực hiện được mục đích đó thì nhiệm vụ đầu tiên và cũng là duy nhất
của niên luận đó là :Làm sáng tỏ quan điểm của I. Kant về cái đẹp, thơng qua
việc trình bày một cách hệ thống những quan điểm của ơng về cái đẹp.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận của đề tài này chính là những quan điểm về cái đẹp của I.
Kant trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đốn”, cùng các đánh giá, luận
giải về các quan điểm đó của các nhà nghiên cứu về triết học I. Kant và mỹ học
của ơng.
Bài viết dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác về lịch sử và phương
pháp nghiên cứu biện chứng. Trên cơ sở đó bài viết sử dụng phương pháp
nghiên cứu phân tích và tổng hợp.
5. Đóng góp của niên luận
Đóng góp của niên luận này là góp phần làm sáng tỏ bản chất của phạm
trù cái đẹp trong mỹ học của I. Kant.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Về mặt lí luận, niên luận đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm về
cái đẹp của I. Kant.
Về mặt thực tiễn, niên luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh
viên có hứng thú với vấn đề cái đẹp trong mỹ học của I. Kant.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: IMMANUEL KANT VÀ THỜI ĐẠI
1.1. Thời đại
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và
phát triển ở hầu hết các nước tư bản Tây Âu, và thành quả cuộc cách mạng cơng
nghiệp đã tạo ra những bước nhảy vọt trong sự phát triển của lực lượng sản xuất,
khẳng định tính ưu việt của nó. Trong khi đó nước Đức vẫn tồn tại chế độ phong
kiến bảo thủ, trì trệ kìm hãm sự phát triển của xã hội. Khắp nước Đức lúc này
lúc này bao trùm một khơng khí của sự bất bình nhất là ở giai cấp tư sản Đức.
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX cũng được đánh dấu bởi sự phát triển
của các thành tựu khoa học kĩ thuật với các thành tựu khoa học kĩ thuật với các
thành tựu như: việc phát hiện và chứng minh được định luật bảo tồn năng
lượng, học thuyết tế bào, tìm ra ơxi và bản chất của sự cháy… Những thành tựu
mới của khoa học kỹ thuật đã chứng minh rằng phương pháp tư duy siêu hình đã
khơng còn phù hợp, hệ thống lí luận siêu hình của các triết gia thời cận đại như
Descartes, Leibniz, Spinoza… đã khơng thể lí giải được những vấn đề mới của
thế giới hiện thực sinh động đang tồn tại, và đặt ra u cầu phải có một hệ thống
lí luận mới có thể hệ thống và giải thích những hiện tượng của giới tự nhiên, xã
hội một cách chính xác, tồn điện và biện chứng.
Cùng với sự thiết lập và phát triển của chủ nghĩa tư bản thay thế cho chế
độ phong kiến đã lỗi thời, thì trong triết học cũng diễn ra một q trình biến đổi
sâu sắc. Đó là, lúc này, triết học đã trút bỏ chiếc áo chồng mang màu sắc tơn
giáo, thần học để hướng tới một nền triết học duy vật, duy lí khám phá và luận
giải cho khả năng khám phá, nhận thức thế giới, những nhu cầu trên đã thúc đẩy
I. Kant đưa ra hệ thống triết học phê phán mở đầu triết học cổ điển Đức.
1.2. Tiểu sử của Immanuel Kant
I. Kant sinh năm 1724, mất năm 1804 tại thành phố Konigberg nay là
Kaleiningrat Đức, trong một gia đình thợ thủ cơng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
Năm 1740, I. Kant vào học khoa triết học tại Đại Học Konigrgerg và tốt
nghiệp loại xuất sắc vào năm 1745.
I. Kant đã giảng dạy siêu hình học, logic học, triết học đạo đức… tại
Konigssberg.
I. Kant đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp triết học. Ba tác phẩm thể
hiện tồn bộ hệ thống triết học của Kan là “phê phán lí tính thuần túy” (1781),
“phê phán lí tính thực tiễn” (1788) và “phê phán năng lực phán đốn” (1790).
Trong đó tác phẩm thứ ba “phê phán năng lực phán đốn” là tác phẩm thể hiện
những quan điểm của Kant về mỹ học.
Phê phán năn lực phán đốn được đánh giá là tác phẩm hồn thiện hệ
thống triết học Kant, là “viên đã đỉnh vòm” của tòa nhà triết học Kant [ 3, VII]
1.3. Hai giai đoạn sáng tạo triết học Kant
Triết học Kant là sự kế thừa thành tựu khắc phục những khuyết điểm của
nền triết học siêu hình thời cận đại. Chính vì vậy triết học của I. Kant được chia
làm 2 giai đoạn là tiền phền phán và phê phán.
Giai đoạn tiền phê phán (1746 - 1770), là giai đoạn I. Kant chịu ảnh
hưởng sâu sắc của những quan niệm duy vật siêu hình của Descartes. Newton.
Trong giai đoạn này I. Kant đặc biệt đề cao nhận thức lí tính, lí tính được coi
như một cơng cụ vạn năng trong hoạt động nhận thức của con người, ơng đã đưa
ra luận điểm nổi tiếng khẳng định tính chất duy vật và duy lí trong thế giới quan
và phương pháp luận của mình là: “Hãy cho tơi vật chất, tơi sẽ xây dựng thế giới
từ nó, nghĩa là hãy cho tơi vật chất, tơi sẽ chỉ cho các bạn thấy thế giới được sinh
ra từ nó như thế nào”. Một trong số những thành tựu nổi bật của triết học tiền
phê phán của I. Kant chính là thuyết tinh vân giải thích sự hình thành của vũ trụ.
Giai đoạn phê phán (1770-1804), là giai đoạn I. Kant hướng triết học của
mình vào việc giải quyết những vấn đề con người. Ơng đã đặt ra ba câu hỏi:
“Tơi có thể biết được cái ?”, “Tơi cần phải làm gì?” và “tơi có thể hy vọng vào
cái gì?”. Và trả lời ba câu hỏi này ơng đã viết bộ ba tác phẩm phê phán. Trong
đó tác phẩm thứ ba “phê phán năng lực phán đốn”, trả lời cho câu hỏi thứ ba
“Tơi có thể hy vọng vào cái gì?”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
Trong cuốn “phê phán năng lực phán đốn”, I. Kant đặt ra vấn đề “khơng
có khoa học về cái đẹp, chỉ có sự phán đốn về cái đẹp”. Như vậy I. Kant đã phê
phán việc sử dụng tư duy lí tính để tìm ra quy luật của cái đẹp và cho rằng cái
đẹp có tính chủ quan.
“Phê phán năng lực phán đốn” là tác phẩm hồn thiện hệ thống triết học
phê phán của I. Kant, nói một cách khác thì thẩm mỹ học của I. Kant chính là
chiếc cầu nối giữa hoạt động lý luận hay triết học lí luận với hoạt động thực tiễn
hay triết học thực tiễn. Chính vì vậy mà nó có cơ sở triết học của mình chính là
tư tưởng về ngun lí tính hệ thống và ngun lí vơ cùng tận của đối tượng nhận
thức trong triết học phê phán của I. Kant. Biểu hiện của hai ngun lí này chính
là khái niệm về “vật tự nó”.
Khái niệm “vật tự nó” của I. Kant về phương diện nhận thức luận là bản
chất của sự vật khách quan. Nó tồn tại tự nó khơng phụ thuộc vào những hình
thức nhận thức và logic của con người. Con người khơng bao giờ nhận thức
được “vật tự nó”. Về mặt đạo đức, thì “vật tự nó” chính là những chuẩn mực
đạo đức lí tưởng có tính chất hồn thiện tuyệt đối mà con người ln cố gắng
vươn tới nhưng khơng bao giờ đạt được.
Q trình nhận thức của con người chính là q trình nhận thức về “vật tự
nó”. Con người khơng thể nhận thức được vật tự nó” mà chỉ có thể nhận thức
được những sự vật, hiện tượng do giới hạn của lí tính, giới hạn của năng lực
nhận thức con người. Đây chính là hạn chế của nhận thức lý tính.
Để khắc phục hạn chế này I. Kant đưa ra một cách nhận thức mới là nhận
thức ngồi khái niệm. Tức là sử dụng các hình ảnh, biểu tượng và năng lực cảm
nhận về đối tượng thơng qua sự chiêm nghiệm về đối tượng để đưa ra phán đốn
về nó. Đây chính là phương pháp của mỹ học và phán đốn đưa ra là phán đốn
thẩm mỹ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT CỦA CÁI ĐẸP TRONG THẨM MỸ HỌC CỦA
IMMANUEL KANT
2.1. Các năng lực thẩm mỹ của con người
Để có thể đưa ra được một phán đốn thẩm mỹ con người cần phải có các
năng lực như: năng lực nhận thức thẩm mỹ, năng lực đánh giá thẩm mỹ và năng
lực thỏa mãn thẩm mỹ.
- Năng lực nhận thức thẩm mỹ
Năng lực nhận thức thẩm mỹ hay còn gọi là năng lực cảm thụ thẩm mỹ
chính là cảm nhận thẩm mỹ của con người. Theo I. Kant năng lực này chính là
một cảm nhận phán tỉnh, một loại trực giác của con người. Loại trực giác mang
cảm xúc của con người khi con người khát vọng đạt được sự tự do tuyệt đối
trong tính hài hòa, hồn hảo đầy thẩm mỹ. Từ khát vọng ấy con người ln
muốn vươn cao hơn trong những sản phẩm, tác phẩm do mình sáng tạo ra.
- Năng lực đánh giá thẩm mỹ
Năng lực đánh giá thẩm mỹ chính là khả năng khám phá, nhận định về
cái đẹp và nó được thể hiện qua thị hiếu thẩm mỹ.
Thị hiếu thẩm mỹ là năng lực tổng hợp những suy tư, cảm nhận… là sự
nhạy bén của chủ thể thẩm mỹ khi chiêm nghiệm về một đối tượng thẩm mỹ tạo
thành một trình độ và có thể đưa ra một lựa chọn tức thời trong sự cảm nhận về
đối tượng thẩm mỹ. Nói một cách khác thị hiếu thẩm mỹ chính là một năng lực
“tiên nghiệm” của chủ thể thẩm mỹ.
- Năng lực thỏa mãn thẩm mỹ
Năng lực này chính là sự đáp ứng mục đích, đánh giá về đối tượng thẩm
mỹ đang được chiêm ngưỡng thậm chí là chính bản thân mình của chủ thể thẩm
mỹ. Đây chính là năng lực thưởng ngoạn trong sự khám phá cái đẹp thẩm mỹ
tuyệt đối, để cảm nhận sự tự do tuyệt đối mà con người ln muốn vươn tới.
2.2. Phán đốn thẩm mỹ
Khi đã có các năng lực về nhận thức, đánh giá và thỏa mãn thẩm mỹ, chủ
thể thẩm mỹ có thể đưa ra phán đốn thẩm mỹ về đối tượng thẩm mỹ đang được
chiêm ngưỡng. Vậy phán đốn thẩm mỹ là gì?
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Theo I. Kant “phán đốn sở thích là một phán đốn thẩm mỹ” [3, 104].
Phán đốn thẩm mỹ hồn tồn mang tính chủ quan cá nhân và kết quả nó mang
lại cho chúng ta là sự thỏa mãn, sự vui sướng hay khơng thỏa mãn, khơng vui
sướng. Nó hồn tồn khác với phán đốn tri thức vì nó khơng xuất phá từ một
khái niệm nào cả mà chỉ là một hành vi mang tính chủ quan của chủ thể thẩm
mỹ có được từ một năng lực tiên nghiệm “phán đốn dựa trên cơ sở chủ
quan/khơng có hhái niệm nào có thể là cơ sở quy định cho nó được; do đó, cũng
khơng có hhái niệm về một mục đích nhất định” [3; 104].
Vì xuất phát từ chủ quan cho nên phán đốn thẩm mỹ được đưa ra hồn
tồn khơng dựa trên cơ sở của nhận thức lí tính mà nó chỉ “đơn thuần có tính
tĩnh quan chiêm nghiệm” [3; 66].
Nói cách khác cơ sở để cho chủ thể thẩm mỹ đưa ra một phán đốn thẩm
mỹ là dựa trên mối quan hệ về tình cảm vui sướng hay khơng vui sướng giữa
chủ thể và đối tượng “Để phân biệt cái gì đấy đẹp hay khơng, ta khơng dùng
giác tính để liên hệ biểu tượng về nó với đối tượng nhằm có được nhận thức,
trái lại liên hệ với chủ thể tình cảm vui sướng hay khơgn vui sướng của chủ thể
ấy thơng qua trí tưởng tượng, (có lẽ nối kết với giác tính khi hoạt động). Như
thế, phán đốn sở thích khơng phải là một phán đốn nhận thức, do đó khơng có
tính lơgic, mà có tính thẩm mỹ, được hiểu là một phán đốn mà cơ sở quy định
của nó khơng thể là cái gì khác hơn là chủ quan”[3; 57].
Một mặt I. Kant khẳng định tính chủ quan, phi lơgic của phán đốn thẩm
mỹ, song một mặt I. Kant cũng cho rằng phán đốn thẩm mỹ còn có tính khách
quan, phổ biến. Vì nếu khơng có tính khách quan phổ biến thì tại sao đứng trước
một đối tượng thẩm mỹ mỗi người khác nhau đều có chung một đánh giá đối
tượng đẹp hay khơng? Nói về tính khách quan này I. Kant cho rằng phán đốn
thẩm mỹ cũng có tính độc lập với cảm giác chủ quan. Điều này thể hiện ở quan
điểm “mọi sự quan tâm đều làm hỏng phán đốn sở thích và tước đi tính vơ tư
của nó” [3; 97].
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Như vậy, phán đốn thẩm mỹ là phán đốn mang tính chủ quan và vơ tư
của chủ thể thẩm mỹ khi chiêm ngưỡng đối tượng thẩm mỹ, là sự thống nhất
giữa lí trí và tình cảm, chủ quan và khách quan.
Phán đốn thẩm mỹ cũng có hai dạng giống như phán đốn tri thức, là
phán đốn thơng thường và phán đốn thẩm mỹ. Phán đốn thơng thường mang
tính vị kỉ và chỉ đúng cho một cá nhân, một trường hợp cụ thể. Ngược lại phán
đốn thẩm mỹ mang tính phổ biến và đúng cho mọi cá nhân, mọi trường hợp.
2.3. Bản chất của phạm trù cái đẹp trong mỹ học của Immanuel Kant
Với luận điểm được gán cho là “cái đẹp khơng nằm trên đơi má hồng của
cơ thiếu nữ mà nằm trong đơi mắt của kẻ si tình” đã cho thấy tính chủ quan
trong quan điểm về cái đẹp trong thẩm mỹ học của I. Kant. Tuy nhiên như
chúng ta đã biết mỹ học của I. Kant chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai khuynh
hướng mỹ học là mỹ học duy lí của Baumgerten và mỹ học duy dảm của Burke,
thậm chí I. Kant còn muốn dung hòa hai khuynh hướng thẩm mỹ này nữa. Chính
vì thế, tư tưởng về cái đẹp của I. Kant khơng thể chỉ dừng lại ở tính chủ quan.
Trước tiên nói về cái đẹp I. Kant có đưa ra quan điểm “cái đẹp là cái gì
đơn thuần làm cho ta hài lòng” [3; 57]. Với tư tưởng này thì cái đẹp chính là cái
thỏa mãn những tình cảm của chủ thể, là một cảm năng vì người ta “khơng thể
tranh luận về sở thích của mỗi người”. cái đẹp ở đây hồn tồn mang tính chủ
quan, riêng biệt.
Tuy nhiên trong thực tế ta thấy vẫn có những cái đẹp được mọi người
thừa nhận, như vậy có nghĩa là có tồn tại một cái đẹp chung, phổ qt. Theo I.
Kant sở dĩ có một cái đẹp như vậy tồn tại là vì cái đẹp trong thẩm mỹ học là cái
đẹp hình thức, đánh giá về cái đẹp là đánh giá hình thức của nó.
Xuất phát từ quan điểm nêu trên về cái đẹp I. Kant đã đưa ra bốn phương
diện để xem xét cái đẹp.
2.3.1. Cái đẹp ở phương diện chất
Ở phương diện chất I. Kant đã đưa ra định nghĩa về cái đẹp như sau: “Sở
thích là quan năng phán đốn về một đối tượng hay về một phương cách biểu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
tượng bằng một sự hài lòng hay khơng hài lòng mà khơng có bất kì sự quan tâm
nào. Đối tượng của một sự như vậy gọi là đẹp” [3; 68].
Theo như định nghĩa trên của I. Kant, thì việc ta đưa ra phán đốn thẩm
mỹ về đối tượng thẩm mỹ đang được chiêm ngưỡng đưa ra đánh giá thẩm mỹ về
cái đẹp là hồn tồn mang tính chủ quan, cơ sở của nó “khơng thể là gì khác hơn
là chủ quan”.
Tuy nhiên I. Kant lại tuyệt đối tính chủ quan, tính chủ quan được tuyệt đối
hóa ở đây là tính vơ tư chủ quan trong phán đốn thẩm mỹ Kant cho rằng “phán
đốn sở thích là đơn thuần có tính tĩnh quan (chiêm nghiệm), nghĩa là, một phán
đốn dửng dưng với sự hiện hữu của đối tượng”. Tức là phán đốn này khơng
hề liên quan đến sự “hiện hữu”, khách quan của đối tượng, và vì thế nó khơng
chứa đựng trong mình một lợi ích nào cả.
Phán đốn thẩm mỹ khơng liên quan đến sự hiện hữu thực tồn của đối
tượng cho nên cái đẹp cũng khơng có bất kì sự liên quan nào với sự hiện hữu
của đối tượng. Nói cách khác cái đẹp khơng phải là thuộc tính vốn có của đối
tượng mà thộc về biểu tượng của đối tượng.
Như vậy bản chất của cái đẹp nằm ở trong biểu tượng của đối tượng mà
chủ thể thẩm mỹ tạo ra khi chiêm ngưỡng đối tượng.
2.3.2. Cái đẹp ở phương diện lượng
Ở phương diện chất, I. Kant cũng đưa ra một định nghĩa về cái đẹp. Đó là:
“Đẹp là cái gì làm hai lòng một cách phổ biến độc lập với mọi khái niệm” [3,
86].
Trong định nghĩa về phương diện lượng của cái đẹp I. Kant đưa ra tính
phổ qt của cái đẹp. Như ta đã biết phán đốn thẩm mỹ khơng phải là hoạt
động nhận thức mà là một hoạt động thuộc về tình cảm, là hành vi mang đậm
tính chủ quan của chủ thể thẩm mỹ. Vậy tính phổ biến của cái đẹp ở đây là gì?
Tính phổ biến ở đây chính là giá trị chung về cái đẹp ở mọi người trong biểu
tượng của đối tượng.
Sự hài lòng mà phán đốn thẩm mỹ mang lại có tính cá nhân, và sự khác
nhau ở mỗi người nhưng nó lại có tính lan tỏa phổ biến trong hình tượng về đối
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
tượng trong mọi người chính vì vậy nó mang tính phổ biến. Theo như I. Kant thì
tính phổ biến này chính là “sự ý thức rằng sự hài lòng của mình đối với một đối
tượng quả thật khơng gắn với mối quan tâm nào cả, thì người ta khơng tránh
khỏi cho rằng đối tượng ấy phải chứa đựng lí do cho sự hài lòng của tất cả mọi
người” [3; 75], tức là khi chủ thể thẩm mỹ ý thức được sự thỏa mãn thẩm mỹ về
đối tượng thì đồng thời cũng đòi hỏi một sự thỏa mãn tương tự ở mọi người, hay
chính là sự truyền đạt xảm xúc, tâm trạng cá nhân đến mọi người.
Vậy cái đẹp ở phương diện lượng mang bản chất là cái đơn nhất nhưng
phán đốn thẩm mỹ về cái đẹp có thể truyền đạt cảm xúc của chủ thể đến mọi
người tạo nên tính phổ biến của cái đẹp. Tính phổ biến ở đây là tính phổ biến
chủ quan.
2.3.3. Cái đẹp ở phương diện quan hệ
Trước tiên ta cũng cần phải nêu ra định nghĩa cái đẹp ở phương diện quan
hệ của I. Kant là “vẻ đẹp là hình thức của tính hợp mục đích của một đối tượng,
trong chừng mực tính hợp mục đích ấy được tri giác mà khơng có hình dung nào
về một mục đích (khách quan) nơi đối tượng” [3; 115].
Trong định nghĩa cái đẹp ở phương diện quan hệ I. Kant đưa ra quan hệ
về tính phù hợp khơng có mục đích. Tính hợp mục đích của cái đẹp ở đây là
“tính hợp mục đích chủ quan trong biểu tượng về một đối tượng, độc lập với
mọi mục đích khác” [3; 95]. Tức là cái đẹp chỉ phù hợp khi nó được chủ thể cảm
nhận mọi biểu tượng về đối tượng khơng mang mục đích. Mục đích là mục đích
đơn thuần hình thức “tính mục đích khơng có mục đích” [3; 102]. Nói cách khác
mục đích độc lập với biểu tưởng của đối tượng.
Cái đẹp lúc này độc lập với mọi sự rung động cá nhân là kết quả của phán
đốn thẩm mỹ dựa trên cơ sở của những năng lực thẩm mỹ và nó khơng phụ
thuộc vào bất kì một khái niệm nào. Vẻ đẹp cũng khơng phải là một thuộc tính
của đối tượng mà là một vẻ đẹp hình thức đơn thuần, tự tồn.
Ở phương diện này vẻ đẹp được chia làm hai dạng là vẻ đẹp tự do và vẻ
đẹp đơn thuần phụ thuộc. Vẻ đẹp tự do khơng phụ thuộc vào bất kì khái niệm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
nào và nó tự tồn cho chính nó. Ngược lại vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc gắn với
một khái niệm xác định và phục tùng khái niệm về một mục đích nào đó.
Bản chất của cái đẹp ở phương diện này chính là vẻ đẹp tự do, thuần túy
tuyệt đối.
2.3.4. Cái đẹp ở phương diện hình thái
Cũng giống như ở phương diện chất, lượng, quan hệ, trong phương diện
hình thái I. Kant cũng nêu ra một định nghĩa về cái đẹp là: “Đẹp là cái gì được
nhận thức như là đối tượng của một sự hài lòng tất yếu, nhưng độc lập với khái
niệm” [3; 134].
Theo như định nghĩa này thì cái đẹp là cái gây thích thú một cách tất yếu
nhưng khơng có hhái niệm. Cái đẹp ở đây khơng có từ tiên nghiệm hay từ thực
tiễn. Nó mang tính tất yếu song khơng thể nào đưa ra một hhái niệm về nó. Nó
chỉ là một phán đốn thẩm mỹ điển hình và là một sự tất yếu của sự tán đồng
của mọi người phán đốn được đưa ra khi chủ thể chiêm ngưỡng về đối tượng.
Nói một cách khác, ta khơng thể đưa ra một tiêu chuẩn xác định phổ biến cho
cái đẹp mà theo như I. Kant nói là “chỉ là phí cơng vơ ích khi đi tìm một ngun
tắc của sở thích mang lại tiêu chuẩn phổ biến của cái đẹp” [3; 109]
“Cái đẹp là cái được nhận thức như là đối tượng của một sự hài lòng”
cho nên ta khơng thể sử dụng hhái niệm để cảm nhận về nó mà chỉ có thể dùng
cảm giác, biểu tượng để nhận thức về nó.
Như vậy tức là cái đẹp ở đây hồn tồn mang bản chất chủ quan, biểu
tượng.
2.3.5. Bản chất của cái đẹp
Trong khi xem xét cái đẹp ở các khía cạnh chất lượng, quan hệ, hình thái,
I. Kant cũng đã lần lượt chỉ ra bản chất của cái đẹp ở từng khía cạnh. Tuy nhiên
để thực sự hiểu được bản chất của cái đẹp là gì và bản chất đó nằm ở đâu thì ta
phải tìm hiểu về antinomi của cái đẹp của I. Kant.
Tư tưởng antinomi của cái đẹp của I. Kant là sự kế thừa, khái qt từ
những quan điểm mỹ học từ trước thời đại mình. I. Kant đã đưa ra antinomi về
cái đẹp như sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Chính đề: Cái đẹp là phạm tù mang tính phổ qt và tất yếu (vì nó là sản
phẩm của sự vươn tới tự do, tồn vẹn).
Phản đề: Cái đẹp mang tính cá biệt (vì nó là kết quả thưởng ngoạn của
từng cá nhân).
Giải quyết nghịch lí của cái đẹp I. Kant cho rằng cái đẹp khơng có tính
xác định, nó khơng có cơ sở từ bất kì một khái niệm, ln lý nào. Ngược lại cơ
sở quyết định của nó chính là chủ quan. Chính vì vậy nó mang tính cá biệt, phán
đốn thẩm mỹ về cái đẹp phải mang tính vơ tư, khơng xuất phát từ bất kì một
mục đích nào. Nói cách khác cái đẹp mang tính cá biệt, vơ tư chủ quan.
Tuy nhiên cái đẹp vẫn mang tính khách quan phổ biến. Tính khách quan
phổ biến ở đây xuất phát từ tính chủ quan. Như ta vừa khẳng định ở trên, cái đẹp
là cái mang tính chủ quan, khơng phụ thuộc vào bất kì hhái niệm nào. Song cái
đẹp lại có một đặc tính đó là phán đốn về nó có thể truyền đạt cảm xúc của chủ
thể thẩm mỹ khi chiêm ngưỡng đối tượng và đòi hỏi một sự thỏa mãn thẩm mỹ
tương tự ở mọi người. Chính điểm này đã tạo nên tính phổ biến cho cái đẹp. Mặt
khác phán đốn về cái đẹp là phán đốn hình thức, chỉ quan tâm đến biểu tượng
về đối tượng một cách thuần túy do chủ thể thẩm mỹ tạo ra khi chiêm ngưỡng
đối tượng, mà khơng quan tâm đến sự tồn tại khách quan về đối tượng. Chính vì
thế cái đẹp là một phán đốn thẩm mỹ đơn thuần khơng gắn với lợi ích, nó thể
hiện một sự hài lòng phổ biến với tư cách là cái đẹp tiên nghiệm, tự do. Nói một
cách khác cái đẹp này mang nội dung khách quan, là sự phản tỉnh của chủ thể
thẩm mỹ.
Vậy bản chất của cái đẹp là cái đẹp vừa mang tính chủ quan vừa mang
tính khách quan. cái đẹp là một phán đốn thẩm mỹ được quy định bởi chủ
quan, tình cảm nhưng mang nội dung khách quan.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
C. KẾT LUẬN
Cái đẹp là phạm trù trung tâm trong hệ thống thẩm mỹ học của I. Kant,
việc hiểu được bản chất của cái đẹp là vấn đề nền tảng để tìm hiểu về thẩm mỹ
học của I. Kant.
Để chỉ ra bản chất của cái đẹp là gì I. Kant đã xem xét cái đẹp ở bốn
phương diện chất, lượng, quan hệ và đưa ra antinomi về cái đẹp. Ở mỗi phương
diện của cái đẹp I. Kant đều đưa ra một định nghĩa cái đẹp. Nhưng trước hết ta
cần phải khẳng định để có được cái đẹp trước tiên ta phải có phán đốn thẩm mỹ
và các năng lực thẩm mỹ. Nói cách khác cái đẹp là mơt hình thức điển hình của
phán đốn thẩm mỹ trên cơ sở khả năng, năng lực thẩm mỹ của con người.
Cái đẹp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan nhưng chủ
yếu là tính chủ quan. Cái đẹp được đưa ra từ sự cảm nhận về “vật tự nó”. Cái
đẹp chính là sản phẩm của chủ thể sáng tạo, là cầu nối trong quan hệ giữa con
người với vật tự nó, là cầu nối giữa nhận thức lí tính và nhận thức cảm giác.
Vậy bản chất của cái đẹp là vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách
quan y như câu nói của Nguyễn Du: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Cái đẹp là phạm trù vừa mang tính phổ qt, tất yếu, vừa mang tính cá biệt.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lịch sử triết học Phương Tây, Nguyễn Tiến Dũng, 2006, Nxb thành
phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Triết học Kant, Trần Thái Đỉnh, 2005, Nxb văn hóa Thơng tin, Hà Nội.
3. Phê phán năng lực phán đốn, Immanuel Kant, Bùi Văn Sơn dịch và
chú giải, 2007, Nxb Tri thức, Hà Nội.
4. I. Kant và nhận thức luận hiện đại, Lưỡng quốc Tiến sĩ khoa học Đỗ
Văn Khang.
5. Chính luận về I. Kant và Heghen, Lưỡng quốc Tiến sĩ Khoa học Đỗ
Văn Khang.
6. Triết học cổ điển Đức, Lê Cơng Sự, 2006, Nxb Thế giới, Hà Nội.
7. Lịch sử triết học, Nguyễn Hữu Vui, 1998, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét