Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

187 Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Công ty Đóng tàu Phà Rừng thời gian qua

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
cơ bản giữa nguồn lực con người với nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân
lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách
là nguồn lực của sự phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có
khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện
ra là số lượng và chất lượng tại một thời điểm nhất định
1.1.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
* Đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao
động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó
chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công
việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của
người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn
* Phát triển
Phát triển là các hoạt động học tập vượt khỏi phạm vi công việc trước
mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên
cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.
1.2. CÁC HÌNH THỨC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC
Có nhiều phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, mỗi
phương pháp đều có ưu nhược điểm và cách thực hiện khác nhau. Mỗi
doanh nghiệp cần phải dựa vào điều kiện của mình mà lựa chọn phương
pháp cho phù hợp. Có thể chia thành hai nhóm phương pháp lớn đó là đào
tạo trong công việc và đào tạo ngoài công việc
1.2.1. Đào tạo trong công việc
Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi
làm việc, trong đó người học sẽ được học những kiến thức, kỹ năng cần thiết
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự
hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn.
1.2.1.1. Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc
Đây là phương pháp phổ biến dùng để dạy các kỹ năng thực hiện công
việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả một số công việc quản lý.
Quá trình đào tạo được bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải thích của người
dạyvề mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước để quan sát,
trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng dẫn và chỉ
dẫn chặt chẽ của người dạy.
1.2.1.2. Đào tạo theo kiểu học nghề
Chương trình đào tạo được bắt đầu bằng việc học lý thuyết ở trên lớp
sau đó các học viên được đưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của công
nhân lành nghề trong một vài năm, được thực hiện các công việc thuộc nghề
cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề.
1.2.1.3. Kèm cặp và chỉ bảo
Phương pháp này dùng để giúp cho cán bộ quản lý và các nhân viên
giám sát có thể học được các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc
trước mắt và công việc cho tương lai thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của
những người quản lý giỏi hơn. Có ba cách kèm cặp là:
- Kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp
- Kèm cặp bởi một cố vấn
- Kèm cặp bởi người quản lý có kinh nghiệm hơn
Ngoài ra, đào tạo trong công việc còn có hình thức là luân chuyển và
thuyên chuyển công việc.
1.2.1.5. Ưu nhược điểm của đào tạo trong công việc
* Ưu điểm
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
- Đào tạo trong công việc thường không yêu cầu một không gian hay
trang thiết bị riêng biệt đặc thù.
- Đào tạo trong công việc có ý nghĩa thiết thực vì học viên được làm
việc và có thu nhập trong khi học.
- Đào tạo trong công việc mang lại sự chuyển biến gần như tức
thổitng kiến thức và kỹ năng thực hành.
- Đào tạo trong công việc cho phép học viên thực hành những gìmà tổ
chức trông mong ở họ sau khi quá trình đào tạo kết thúc.
- Đào tạo trong công việc tạo điều kiện cho học viên được làm việc
cùng với những đồng nghiệp tương lai của họ, và bắt chước những hành vi
lao động của những đồng nghiệp.
* Nhược điểm
Lý thuyết được trang bị không có hệ thống
- Học viên có thể bắt chước những kinh nghiệm, thao tác không tiên
tiến của người dạy.
- Các giáo viên dạy nghề phải lựa chọn cẩn thận và phải đáp ứng yêu
cầu về chương trình đào tạo về trình độ chuyên môn, mức độ thành thạo
công việc và khả năng truyền thụ.
- Quá trình đào tạo phải được tổ chức chặt chẽ và có kế hoạch
1.2.2. Đào tạo ngoài công việc
Đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học
được tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế.
1.2.2.1. Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp
Đối với các nghề tương đối phức tạp hoặc các công việc có tính đặc
thù, thì việc đào tạo bằng kèm cặp không đáp ứng được yêu cầu cả về số
lượng và chất lượng. Các doanh nghiệp có thể tổ chức các lớp đào tạo với
các phương tiện và thiết bị dành riêng cho học tập. Phương pháp này chương
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết được
giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách. Phần thực hành thì
được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề
hướng dẫn. Phương pháp này giúp cho học viên học tập có hệ thống hơn.
* Ưu điểm
Học viên được trang bị đầy đủ và có hệ thống các kiến thức lý thuyết
và thực hành.
* Nhược điểm
Cần có các phương tiện và trang thiết bị riêng cho học tập; tốn kém.
1.2.2.2. Cử đi học ở các trường chính quy
Các doanh nghiệp cũng có thể cử người lao động đi học tập ở các
trường dạy nghề hoặc quản lý do các bộ, ngành hoặc trung ương tổ chức.
Trong phương pháp này người học sẽ được trang bị tương đối đầy đủ cả kiến
thức lý thuyết lẫn kỹ năng thực hành.
* Ưu điểm
- Không ảnh hưởng tới việc thực hiện công việc của người khác, bộ
phận khác.
- Học viên được trang bị đầy đủ và có hệ thống cải cách kiến thức lý
thuyết và thực hành.
* Nhược điểm
Chi phí tốn kém.
Ngoài ra, trong đào tạo ngoài công việc còn có các hình thức khác
như: Các bài giảng, hội nghị hoặc hội thảo; Đào tạo theo kiểu chương trình
hoá, với sự trợ giúp của máy tính; Đào tạo theo phương thức từ xa; Đào tạo
theo kiểu phòng thí nghiệm; Mô hình hoá hành vi; Đào tạo kỹ năng xử lý
công văn, giấy tờ.
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
gồm:
- Giáo dục phổ thông là nhân tố quan trọng đầu tiên. Số lượng học
sinh phổ thông ở các trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở và phổ thông trung
học hàng năm là nguồn cung cấp đầu vào cho đào tạo và phát triển các
nguồn nhân lực. Chất lượng giáo dục phổ thông quyết định chất lượng đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục phổ
thông , có kế hoạch triển khai và thực hiện tốt định hướng nghề nghiệp cho
học sinh phổ thông sẽ là những tiền đề quyết định chất lượng và cơ cấu đào
tạo nguồn nhân lực.
- Các nguồn lực đầu tư cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là
nhân tố thứ hai có vai trò rất quan trọng, bởi vì việc phát triển hệ thống các
trường đào tạo, giảng đường, trang thiết bị phục vụ cho học tập và đào tạo,
số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng lớn đến chất lượng
đào tạo cũng như quyết định quy mô đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Để phát triển chúng đòi hỏi phải có kinh phí đầu tư thích đáng từ ngân sách
của chính phủ và của các tổ chức.
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của quốc gia.
- Tín hiệu thị trường. tín hiệu thị trường lao động là dòng thông tin thu
nhận từ thị trường lao động bao gồm các thông điệp, mẩu tin hoặc các chỉ số
như tiền lương, việc làm, thất nghiệp… biểu hiện thực trạng và xu hướng
vận động của thị trường lao động. Các tín hiệu này có thể được biểu hiện
dưới dạng định lượng hoặc định tính và có thể ở tầm vĩ mô hoặc vi mô. Khi
các tín hiệu này được thu thập một cách định kì, phân tích một cách hệ thống
thì tạo thành hệ thống thông tin thị trường lao động.
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Mặt khác có thể xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực ở các khía cạnh:
- Nhân tố con người. Con người ở đây được hiểu là những con người
chuyên trách về lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng như
những người làm trong công ty. Những người cán bộ phải là những người có
trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm để tổ chức và thực hiện chương trình
đào tạo và phát triển. Những người lao động phải là những người nhiệt tình,
có ý thức muốn cầu tiến. Do vậy, cán bộ chuyến trách của công ty phải được
lựa chọn kĩ lưỡng, đủ tiêu chuẩn đặt ra để có thể đáp ứng được công việc và
khơi dậy lòng ham muốn học hỏi và nâng cao trình độ của người lao động.
-Nhân tố bộ máy quản lý. Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm
vụ của các phòng ban trong doanh nghiệp đều có những đặc điểm riêng, đòi
hỏi đào tạo phải đáp ứng được yêu cầu đa dạng đó thì hoạt động của bộ máy
doanh nghiệp mới hiệu quả.
- Nhân tố cơ sở vật chất và công nghệ. Nhân tố này liên quan về mặt
kĩ thuật đối với công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Nếu cơ sở,
vật chất và công nghệ trang bị cho qua trình đào tạo và phát triển nhân lực
đầy đủ và được cập nhật thì sẽ nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo từ đó
nang cao được khả năng thích úng và khả năng làm việc của người lao động.
Ngược lai, nếu cơ sở vật chất kĩ thuật trang bị cho công tác đào tạo lạc hậu,
không chu đáo, không đầy đủ thì hiệu quả của đào tạo sẽ rất thấp, mặt khác
áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sẽ không cao.
- Nhân tố chi phí giành cho đào tạo và phát triển nhân lực. Mọi sự
đầu tư đều phải có cơ sở, có nguồn vốn ban đầu phục vụ cho quá trình đó,
đào tạo và phát triển là một quá trình đầu tư vào nguồn nhân lực. Chính vì
vậy nguồn chi phí phục vụ cho quá trình đào tạo ảnh hưởng rất lớn tới công
tác này. Nếu doanh nghiệp có nguồn kinh phí giành cho đào tạo và phát triển
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
lớn thì lao động sẽ có nhiều cơ hội hơn tham gia các khoá đào tạo và phát
triển. Ngược lại, nếu một doanh nghiệp dù có kế hoạch đào tạo quy mô tới
đâu nhưng không có nguồn kinh phí đầy đủ thì cũng không thể thực hiện
được.
- Nhân tố đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh
nghiệp khác nhau thì có đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau, phù hợp
với sản phảm mà doanh nghiệp đó sản xuất. Do đó, nhu cầu cơ cấu đào tạo
của mỗi doanh nghiệp cũng khac nhau. Tuỳ từng thời kì, giai đoạn mà đặc
điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thay đổi từ đó chương trình dào
tạo và phát triển nhân lực cũng thay đổi theo để đap ứng quá trình thay đổi
đó.
- Nhân tố quan điểm của nhà quản trị. đây là nhân tố quan trọng bởi lẽ
khi nhà quan trị nhận thấy vai trò quan trọng hàng đầu của công tác đào tạo
và phát triển trong doanh nghiệp thì họ sẽ có những chinh sách đầu tư,
khuyến khích thích đáng cho nguồn nhân lực trong lĩnh vực quả trị của
mình. Điều đó cổ vũ, động viên cán bộ công nhân viên tham gia nhiệt tình,
có ý thức và đem lại hiệu quả cao cho hoạt động đào tạo và phát triển.
Ngoài ra, còn có các nhân tố khác cũng góp phần hỗ trợ và giải quyết
các khâu của quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp như: nhân tố về tổ chức lao động, điểu kiện lao động, ý thức lao động
của người lao động trong sự gắn kêt với doanh nghiệp, nhân tố cạnh tranh
trên thị trường…
1.4. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÔNG TY
1.4.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trước hết, nhằm đáp ứng nhu
cầu của người lao động. Những người lao động có trình độ chuyên môn lành
nghề cao sẽ có nhiều cơ hội tìm việc làm có tiền lương và thu nhập cao hơn
những lao động không có trình độ chyên môn lành nghề.
- Đào tạo và phát triển là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của
tổ chức. Đào tạo và phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ
thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc, giảm
bớt sự giám sát, nâng cao chất lượng của thực hiện công việc, nâng cao tính
ổn định và năng động của tổ chức, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực và tạo điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý trong doanh
nghiệp.
- Để tăng cường kiến thức, kỹ năng và năng lực thực hiện công việc,
nguồn nhân lực phải được giáo dục, đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề.
Vốn con người cần được tích luỹ thường xuyên bằng các phương pháp đào
tạo theo hai phương thức giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy.
Căn cứ vào tính chất công việc trực tiếp sản xuất hay quản lý gián tiếp
nguồn nhân lực đào tạo và phát triển được nghiên cứu theo hai nhóm đối
tượng công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn.
1.4.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực ở công ty đóng tàu Phà Rừng
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô lớn, số cán bộ công nhân viên hiện
tại doanh nghiệp có là gần 3000 người. Nếu số lao động trên được sử dụng
hiệu quả sẽ là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Số lao
động chưa được qua đào tạo của doanh nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ rất lớn, trong
khi số lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ ngày nay hàm lượng
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
chất xám trong sản phẩm là rất cao. Mà những sản phẩm này chỉ có thể thu
được từ những con người có tri thức.Khách hàng của doanh nghiệp bao gồm
rất nhiều loại khách hàng từ khách hàng trong nước đến nước ngoài, các
khách hàng này là những khách hàng chính.Họ là những người khó tính, có
yêu cầu khắt khe đối với sản phẩm của doanh nghiệp Vì vậy, để đáp ứng
được yêu cầu của khách về mặt kỹ thuật và mĩ quan cần phải có những con
người được đào tạo bài bản. Thực tế doanh nghiệp đang thiếu những kỹ sư
giỏi, những thợ có tay nghề cao do đó việc đào tạo là nhu cầu tất yếu của
doanh nghiệp.
- Đào tạo và phát triển đáp ứng nhu cầu của người lao động. Khi nền
kinh tế ngày càng phát triển thì áp lực của công việc ngày càng cao, yêu cầu
của công việc ngày càng lớn do đó con người phải thường xuyên học tập,
tích luỹ kinh nghiệm từ đó mới có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Nếu công việc được đảm bảo thì thu nhập của người lao động mới được đảm
bảo. Lúc đó con người mới có khả năng sáng tạo trong công việc. Do đó,
việc đào tạo và phát triển luôn được người lao động quan tâm
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÔNG TY THỜI GIAN QUA
2.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC
2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển
Công ty TNHH 1 thành viên đóng tàu Phà Rừng tên rút gọn là công ty
đóng tàu Phà Rừng trực thuộc tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam
(VinaShin), là công trình hợp tác giữa Chính phủ Việt nam và chính phủ
Phần Lan. Năm 1975 Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định xây dựng 1 nhà
máy ở khu vực Phà Rừng Hải Phòng. Năm 1977 Chính phủ Việt Nam và
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
chính phủ Phần Lan ký một hiệp định xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển
Phà Rừng bằng vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Phần Lan và một
phần đóng góp của Chính phủ Việt Nam. Lễ khánh thành và đưa con tàu đầu
tiên vào ụ sửa chữa vào ngày 15 tháng 4 năm 1984. Trong hơn 25 năm qua
công ty đã đóng mới và sửa chữa biết bao con tàu góp phần không nhỏ đưa
ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam có những bước tiến vượt bậc đồng
thời đưa con tàu kinh tế đất nước vươn mình ra biển lớn.
Ban đầu công ty được xây dựng để sửa chữa các tàu biển có trọng tải
đến 15.000 tấn. Trải qua hơn 20 năm hoạt động công ty đã sửa chữa gần
ngàn lượt tàu trong nước và của các quốc gia danh tiếng trên thế giới như:
LB Nga, Đức, Hy Lạp, Singgapore… đạt chất lượng cao. Công ty là một
trong nhưng đơn vị đi đầu trong việc sửa chữa các loại tàu biển đòi hỏi kỹ
thuật cao như tàu chở khí gas hoá lỏng, tàu phục vụ giàn khoan…. Trong
những năm gần đây, Công ty bắt đầu tham gia vào thị trường đóng mới.
Công ty đã bàn giao cho khách hàng gần chục tàu có trọng tải từ 6.500 tấn
đến 12.500 tấn. Đó là tiền đề để Công ty đóng tàu Phà Rừng thực hiện các
hợp đồng đóng mới các loại tàu có tính năng kỹ thuật cao để xuất khẩu như
tàu chở dầu/hoá chất 6.500 tấn cho Hàn Quốc, tàu chở hàng vỏ kép 34.000
tấn cho Vương quốc Anh hiện đang được triển khai tại công ty. Sản lượng
và doanh thu năm 2006 của công ty cao gấp 10 lần so với năm 2000. Kế
hoạch năm 2010 Công ty phấn đấu giá trị tổng sản lượng đạt 1.600 tỷ đồng,
doanh thu trên 1.100 tỷ đồng.
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển của Đảng, Nhà nước và
của Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, Công ty đang thực hiện dự án
xây dựng Công ty đóng tàu Sông Giá có thể đóng tàu trọng tải đến 100.000
tấn, xây dựng cụm công nghiệp Vinashin Đình Vũ bao gồm hệ thống cảng
biển và khu công nghiệp phụ trợ, xây dựng nhà máy đóng tàu và sửa chữa
SV: Đinh Đình Quý _ Lớp QTNL K9B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét