Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu

Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
quyền năng của mình đối với tài sản thuộc sở hữu của mình, thông qua việc bảo
vệ quyền sở hữu, ngoài việc khẳng định quyền của chủ thể đối với tài sản còn là
yếu tố quan trọng để buộc các chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải
gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi. Như vậy, “Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là
những biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người
qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được các
quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu
của mình” (TS. Lê Đình Nghị (chủ biên) - Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập
I. Nxb. Giáo dục Việt nam).
3. Mối quan hệ giữa quyền thừa kế quy định trong pháp luật về thừa kế
với quyền sở hữu.
Trước hết, phải khẳng định rằng quyền sở hữu là cơ sở làm phái sinh
quyền thừa kế, bởi lẽ từ khi xuất hiện xã hội thì đã có sự sở hữu đối với tài sản
do thiên nhiên mang lại hoặc do chính con người tạo ra, khi con người chết đi sẽ
để lại tài sản của mình, tài sản đó sẽ tiếp tục được những người sống sử dụng,
định đoạt đây gọi là sự thừa kế, khi xuất hiện nhà nước, xét thấy vai trò quan
trọng của quyền sở hữu vì nó không chỉ phục vụ cho chủ sở hữu khi còn sống
được toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản của mình mà nó
còn phục vụ cho những người còn sống khác được sử dụng tài sản do người chết
để lại, giai đoạn này được gọi là thừa kế tài sản do người chết để lại cho nên nhà
nước đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền sở hữu, từ đây quyền thừa kế có
tác động trở lại đối với quyền sở hữu khi những người còn sống được sở hữu tài
sản do người chết để lại mà không sợ xảy ra sự tranh giành.
Thứ hai, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước
quy định nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu đối với các lợi ích vật chất
trong xã hội. Những quy phạm đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền sở hữu
của các chủ sở hữu đối với tài sản của mình. Quyền thừa kế là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định các điều kiện, trình tự dịch
chuyển những tài sản của người đã chết cho người sống. Như vậy, thông qua
quyền thừa kế (thông qua các điều kiện, trình tự dịch chuyển tài sản) thì quyền
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
5
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
sở hữu tài sản của người chết được dịch chuyển sang cho những người còn sống,
một khi quyền sở hữu đó được dịch chuyển sang cho những người thừa kế thì
quyền thừa kế coi như đã bảo đảm tốt vai trò của mình.
Thứ ba, quyền sở hữu và quyền thừa kế đều là những phạm trù pháp lý,
song song tồn tại trong cùng một hình thái kinh tế- xã hội nhất định, do vậy từ
chỗ pháp luật quy định cho công dân có quyền sở hữu tài sản, cũng trên cơ sở đó
họ có quyền năng trong quan hệ thừa kế. Nếu họ có quyền hưởng thừa kế thì tất
yếu họ sẽ được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế đó và ngược lại, nếu
tài sản đã thuộc sở hữu của họ thì họ có mọi quyền năng trong phạm vi pháp luật
quy định đối với tài sản đó: đó là họ có quyền để lại thừa kế cho người khác số
tài sản thuộc sở hữu của mình (người khác đã có quyền thừa kế tài sản đó).
Thứ tư, công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình cho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và
quyền nhận thừa kế của công dân (trừ trường hợp vi phạm Điều 643 BLDS).
Như vậy, quyền sở hữu và quyền thừa kế kết hợp với nhau tạo cho chủ sở hữu
một quyền năng toàn diện vừa có quyền sở hữu vừa có quyền để lại thừa kế cho
những người khác tài sản của mình, bên cạnh đó nó cũng tạo cho chủ thể khác
những quyền năng cơ bản, theo đó những chủ thể này vừa có quyền thừa kế
những tài sản đó đồng thời họ cũng được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do
người chết để lại.
4. Nguyên nhân của việc pháp luật thừa kế có thể bảo vệ quyền sở hữu.
Một là, xuất phát từ mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu, hai
quyền này có mối liên hệ nhất định, quyền sở hữu có tác dụng thúc đẩy quyền
thừa kế phát triển và ngược lại quyền thừa kế cũng có vai trò to lớn trong việc
tạo lập quyền sở hữu bằng việc quyền thừa kế được ghi nhận trong các văn bản
pháp luật về thừa kế, từ đó việc dịch chuyển quyền sở hữu giữa người chết cho
người sống phải thông qua các bước được quy định trong pháp luật thừa kế
nhằm bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho các chủ thể.
Hai là, xuất phát từ việc quyền sở hữu ra đời sớm hơn quyền thừa kế, để
có thể điều chỉnh quan hệ tài sản giữa người chết với người sống thì chưa có một
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
6
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
văn bản pháp luật nào quy định về vấn đề này, để bảo vệ quyền và lợi ích cho
người còn sống, giúp họ được sử dụng tài sản của người chết để lại mà không
xảy ra sự tranh chấp, thì nhà làm luật phải ban hành một văn bản pháp luật về
thừa kế nhằm điều chỉnh vấn đề này bởi lẽ suy cho cùng thừa kế là việc dịch
chuyển quyền sở hữu tài sản từ người chết sang cho người sống, do vậy phải
tuân theo những trình tự nhất định.
Ba là, một chủ sở hữu đối với với tài sản của mình thì họ có toàn quyền
đối với tài sản đó, một trong các quyền đó là quyền định đoạt tài sản, khi họ chết
đi họ muốn định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho người khác còn sống thì
họ phải tuân theo những quy định của pháp luật về thừa kế. Như vậy, trong
trường hợp này pháp luật thừa kế xuất phát từ quyền định đoạt tài sản của chủ sở
hữu, cho nên đã quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền định đoạt tài sản cho
chủ sở hữu cũng là để bảo đảm việc xác lập quyền sở hữu cho những người có
quyền thừa kế thông qua việc quy định những chủ thể có quyền thừa kế và nghĩa
vụ của những người này.
Bốn là, xuất phát từ đặc trưng của pháp luật thừa kế là bảo vệ quyền lợi
cho chủ sở hữu tài sản khi họ chết và quyền lợi của những chủ thể khác được
xác lập quyền sở hữu khi chủ sở hữu chết đi, cho nên pháp luật thừa kế là bảo vệ
sự dịch chuyển tài sản giữa người chết cho người sống, cũng là sự dịch chuyển
quyền sở hữu. Nói chung, xuất phát từ quyền lợi của chủ sở hữu tài sản với ba
quyền năng của mình; việc xác lập quyền sở hữu đối với những người có quyền
thừa kế; bảo đảm không xảy ra tranh chấp về thừa kế giữa các chủ thể cho nên
pháp luật thừa kế đã hướng mục tiêu tới việc bảo vệ quyền sở hữu.
II. Làm rõ quan điểm “pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan
trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu”.
1. Các phương diện pháp luật thừa kế bảo vệ quyền sở hữu.
1.1. Những nguyên tắc của pháp luật thừa kế thể hiện việc bảo vệ quyền sở
hữu.
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế: người có
quyền thừa kế theo quy định của pháp luật là công dân, tổ chức. Trên cơ sở của
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
7
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại Điều 7
BLDS, pháp luật thừa kế hiện hành vẫn kế thừa việc tôn trọng ý chí của người
có quyền thừa kế tại các văn bản pháp luật thừa kế trước đó và bảo đảm một
cách nhất quán về quyền của cá nhân để lại tài sản và quyền của cá nhân hưởng
thừa kế di sản, với nguyên tắc này vừa bảo vệ được quyền sở hữu của chủ sở
hữu tài sản trong việc định đoạt tài sản của mình vừa xác lập quyền sở hữu cho
người có quyền nhận thừa kế, cụ thể:
Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp
đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thể hiện quyền
định đoạt tài sản của bản thân sau khi họ chết, quyền này của chủ sở hữu được
pháp luật về thừa kế quy định cụ thể tại Điều 648 BLDS “họ có quyền: chỉ định
người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di
sản cho từng người thừa kế ”, đây cũng là sự thể hiện việc bảo vệ của pháp luật
thừa kế đối với quyền sở hữu khi quy định cụ thể quyền của chủ sở hữu, thông
qua quy định này, chủ sở hữu có thể thực hiện quyền của mình một cách dễ
dàng. Bên cạnh đó, pháp luật thừa kế còn cho phép chủ sở hữu tài sản có quyền
không lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, đây là quy định nhằm để cho
chủ sở hữu tự do trong cách thể hiện ý chí với những quyền năng của mình đối
với tài sản.
Đối với cá nhân có quyền nhận di sản, pháp luật thừa kế bảo vệ quyền sở
hữu như thế nào? Pháp luật có quy định người thừa kế có quyền nhận di sản
hoặc từ chối nhận di sản, nếu họ nhận di sản thì đương nhiên họ được xác lập
quyền sở hữu đối với tài sản được thừa kế đó, từ đây họ có mọi quyền năng của
chủ sở hữu đối với tài sản do mình nhận thừa kế, pháp luật thừa kế có những
quy định cụ thể về cách thức nhận thừa kế để làm sao đó chuyển giao tốt nhất tài
sản từ người để lại di sản và người nhận di sản: họ có quyền nhận di sản theo di
chúc hoặc theo pháp luật. Chính điều này đã là cơ sở vững chắc cho việc họ thực
hiện quyền của chủ sở hữu tài sản mà không xảy ra bất cứ sự tranh chấp nào.
Thứ hai, nguyên tắc bình đẳng về thừa kế của cá nhân, nguyên tắc này của
pháp luật thừa kế thể hiện việc bảo vệ quyền sở hữu ở chỗ:
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
8
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
Đối với tài sản chung của vợ chồng: vợ chồng có quyền ngang nhau trong
việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, theo đó vợ
chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung, vợ chồng có thể sửa
đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào (Điều 664 BLDS).
Khi vợ chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải
được sự đồng ý của người kia, chính quy định này của pháp luật về thừa kế đã
bảo vệ được quyền sở hữu bởi vì: mặc dù tài sản của vợ chồng là sở hữu chung
hợp nhất nhưng mỗi người đều có những đóng góp theo sức lao động của mình
do đó họ cũng phải có sự định đoạt theo ý chí riêng của mỗi người đối với tài
sản chung đó. Nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi phần di
chúc của mình, với quy định này thì đã bảo vệ được quyền định đoạt cuối cùng
của người đã chết kia.
Một khía cạnh nữa liên quan đến quyền sở hữu tài sản của một bên vợ
chồng, vợ chồng có quyền hưởng di sản của nhau khi một bên chết trước, quy
định này đã bảo vệ được quyền sở hữu của vợ hoặc chồng còn sống bởi lẽ: vợ
chồng là người thừa kế ở hàng thứ nhất, việc dịch chuyển tài sản của vợ, chồng
chết trước cho người còn sống là điều tất yếu nhằm bảo vệ chế độ gia đình vững
chắc cũng như bảo đảm điều kiện sống cho người vợ hoặc chồng còn sống, đây
cũng là nghĩa vụ trong quyền định đoạt tài sản của vợ, chồng chết trước.
Đối với việc cha, mẹ có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản của
con: Điều 676 BLDS đã quy định cha, mẹ cùng đứng vào hàng thứ nhất để
hưởng di sản thừa kế của con khi con chết trước cha mẹ. Cũng trong điều luật
này, tại khoản 2 đã quy định người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản
bằng nhau. Qua các nội dung trên cho thấy, vợ chồng luôn bình đẳng và ngang
quyền nhau trong việc để lại thừa kế cũng như hưởng di sản thừa kế trong mọi
trường hợp. Như vậy, pháp luật thừa kế bảo vệ quyền sở hữu trước hết và quan
trọng nhất là những quan hệ hôn nhân và huyết thống, bởi lẽ đây là cơ sở của xã
hội.
Đối với việc các con có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản của bố
mẹ, với quy định này nó bảo vệ quyền sở hữu ở chỗ: việc xác lập quyền sở hữu
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
9
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
đối với tài sản của bố mẹ cho các con không phân biệt nam nữ, độ tuổi, có năng
lực hành vi dân sự hay không đều được thừa kế những phần ngang nhau, nếu
được hưởng thừa kế theo pháp luật. Như vậy, các con đều được tạo điều kiện
như nhau để phát triển về mọi mặt khi bố mẹ không còn, nguyên tắc bình đẳng
giữa các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế được pháp luật
thừa kế quy định nhằm bảo vệ những quyền, lợi ích chính đáng của công dân
trong quan hệ tài sản để củng cố tình đoàn kết trong gia đình, dòng họ, cũng là
việc bảo vệ quyền sở hữu cho mọi thành viên trong gia đình khi họ định đoạt tài
sản và hưởng di sản. Có thể nói pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan
trọng khi quy định cụ thể cách thức thực hiện quyền sở hữu tài sản cho các chủ
thể trong quan hệ pháp luật thừa kế.
Thứ ba, nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở
thừa kế. Việc pháp luật thừa kế quy định như vậy nhằm bảo đảm cho quyền thừa
kế được thực hiện trên thực tế hay nói cách khác là sự dịch chuyển tài sản từ
người chết sang cho người sống được thực hiện một cách triệt để. Quy định này
là hoàn toàn có cơ sở vững chắc bởi lẽ: nếu người được nhận di sản còn sống
vào thời điểm mở thừa kế thì quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu cho những
người có quyền thừa kế được thực hiện theo ý chí của họ (ý chí của họ được
hoàn thành), chính điều này đã bảo vệ được quyền tự định đoạt tài sản của họ,
bên cạnh đó, nó cũng bảo vệ được quyền của những người có quyền nhận di sản
bởi vì: nếu người có quyền hưởng di sản còn sống vào thời điểm đó thì họ
đương nhiên được xác lập quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt) tài sản do người để lại di sản định đoạt cho họ, từ đây người hưởng di sản
có toàn quyền đối với số di sản nhận thừa kế đó. Nói chung việc pháp luật thừa
kế quy định như vậy, vừa bảo vệ được quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản vừa
bảo vệ được quyền sở hữu cho người có quyền thừa kế trong việc được xác lập
quyền sở hữu.
Thứ tư, nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do
người chết để lại. Với nguyên tắc này, pháp luật thừa kế muốn thể hiện việc bảo
vệ quyền sở hữu như sau: người để lại di sản khi chết nhưng chưa thanh toán hết
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
10
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
tài sản mà khi còn sống họ có nghĩa vụ phải thanh toán số tài sản đó, khi chết đi
tài sản do họ chưa kịp thanh toán thuộc sở hữu của họ sẽ do những người thừa
kế của họ thay họ thanh toán, bởi lẽ những người thừa kế đang sống thì họ có
năng lực chủ thể được tham gia vào các quan hệ dân sự đồng thời họ có quan hệ
nhất định đối với người để lại tài sản, vì vậy khi phải thanh toán nghĩa vụ về tài
sản cho người chết thì đứng ở góc độ pháp luật họ có quyền thay mặt người đã
chết thực hiện nghĩa vụ về tài sản cho những chủ thể khác, đứng dưới góc độ
quan hệ nhân thân với người chết họ có nghĩa vụ làm tròn bổn phận với những
người đó.
Di sản thừa kế trong trường hợp này là những tài sản của người chết để lại
được chia cho những người có quyền hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Tuy nhiên, những quyền tài sản và nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân
người chết thì không phải là di sản thừa kế, vì nghĩa vụ gắn liền với nhân thân
người chết chấm dứt cùng thời điểm mở thừa kế. Người hưởng di sản theo quy
định của pháp luật chỉ phải thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại
trong phạm vi di sản của người đó. Chính điều này, những người thừa kế đã giúp
cho quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đã chết được thực hiện trên thực tế,
đồng thời họ cũng đã thực hiện được quyền của chủ sở hữu tài sản khi trực tiếp
thanh toán nghĩa vụ tài sản cho chủ thể khác. Pháp luật thừa kế quy định như
vậy nhằm bảo vệ quyền của người chết khi họ được người hưởng thừa kế thay
mặt thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, bên cạnh đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của những chủ thể có quyền nhận thanh toán nghĩa vụ về tài sản vì những
tài sản này thuộc quyền sở hữu của họ (họ đã cho những người để lại di sản có
nghĩa vụ thanh toán vay, mượn trước đó).
1.2. Quyền của người để lại di sản và người thừa kế được pháp luật về
thừa kế quy định thể hiện việc bảo vệ quyền sở hữu.
Một là, quyền của người để lại di sản: “người để lại di sản có thể là người
để lại di sản theo di chúc, có thể để lại di sản chia theo pháp luật. Khi còn sống
và minh mẫn, người có tài sản có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình
cho những người thừa kế là bất kỳ ai, có thể là cá nhân, có thể là tổ chức, cũng
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
11
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
có thể là nhà nước. Trong trường hợp người có tài sản không lập di chúc hoặc có
để lại di chúc nhưng không hợp pháp, di chúc không có hiệu lực thi hành thì di
sản của người chết để lại được chia theo pháp luật cho những người có quyền
hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật” (TS. Phùng Trung Tập- Luật Thừa
kế Việt Nam. Nxb. Hà Nội 2008).
Chẳng hạn như: Ông A trước khi chết có để lại di chúc là 900.000.000
đ
,
ông chỉ có một người con trai còn sống, vợ và những người họ hàng thân thích
khác của ông đều đã chết trước đó, số tài sản này ông định đoạt cho cậu con trai
một phần là 450.000.000
đ
, phần còn lại ông đã làm từ thiện cho quỹ bảo vệ trẻ
em Việt Nam. Với ví dụ này ta thấy, theo quy định của pháp luật ngoài việc chủ
sở hữu có quyền để lại di sản cho các cá nhân thì họ cũng hoàn toàn có quyền
định đoạt tài sản của mình cho các tổ chức từ thiện, việc định đoạt tài sản như
thế nào là quyền của họ, với quy định này của pháp luật thừa kế, đã thể hiện việc
bảo vệ quyền sở hữu (quyền định đoạt tài sản) của người để lại di sản.
Hai là, quyền của người thừa kế: người thừa kế là người được nhận di sản
thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc hoặc vừa hưởng di sản theo di chúc,
vừa được hưởng di sản chia theo pháp luật, người thừa kế là cá nhân phải còn
sống, người thừa kế là các tổ chức, cơ quan phải còn tồn tại vào thời điểm mở
thừa kế. Việc pháp luật thừa kế có quy định thể hiện rõ nét nhất sự bảo vệ quyền
sở hữu đó là: người thừa kế được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung
của di chúc được quy định tại Điều 669 BLDS, theo đó nếu họ không được
người để lại di sản cho hưởng di sản thì họ vẫn được pháp luật quy định cho
hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, đó là: những người có
quan hệ huyết thống với người để lại di sản, ví dụ: Ông B chết vào năm 2006 có
để lại di chúc cho ba con của ông là A, F, H và hội chữ thập đỏ tỉnh KG để giúp
đỡ những người mắc bệnh hiểm nghèo, trong di chúc cũng ghi rõ truất quyền
hưởng thừa kế của bà N vợ của ông. Số tài sản mà ông để lại di chúc là
1.200.000.000
đ
, theo đó, A, F, H được ông cho hưởng phần bằng nhau: A=F=H=
600.000.000
đ
, phần còn lại ông để cho quỹ của hội chữ thập đỏ tỉnh. Như tình
huống này ta thấy, bà N vợ của ông B bị truất quyền thừa kế nhưng bà N lại
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
12
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
thuộc trường hợp quy định tại Điều 669 BLDS cho nên bà vẫn được hưởng 2/3
suất của một người thừa kế theo pháp luật, do đó những chủ thể được hưởng
theo di chúc phải trích phần thừa kế của mình theo tỷ lệ để bù vào phần của bà N
khi chia di sản của những người đó. Với quy định như vậy, pháp luật vẫn xác lập
quyền sở hữu đối với những người không được di chúc của chủ sở hữu cho
hưởng theo quy định của pháp luật, điều này nhằm bảo vệ quyền sở hữu của
những người có quan hệ huyết thống với những người để lại di sản.
Một điểm nữa trong phần này là pháp luật thừa kế cũng có quy định cho
cá nhân chưa được sinh ra cũng có quyền được bảo lưu quyền thừa kế (một phần
tài sản khi chia thừa kế không thuộc sở hữu của ai), khi con sinh ra còn sống thì
phần này thuộc về người đó. Quy định này nhằm để bảo vệ quyền của người
thừa kế nhất là quyền của người con đã thành thai khi người cha còn sống và ra
đời sau khi cha chết.
1.3. Người không được quyền hưởng di sản được pháp luật thừa kế quy
định thể hiện việc bảo vệ quyền sở hữu.
Nói chung, những người không được quyền hưởng di sản thừa kế của
người để lại di sản (Điều 643 BLDS) là những trường hợp đã vi phạm nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích của người để lại di sản. Việc pháp luật thừa kế quy
định những trường hợp này không được quyền hưởng di sản là nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích cho chủ sở hữu để lại di sản thừa kế, bảo vệ quyền định đoạt
của họ: không định đoạt tài sản cho những người có hành vi vi phạm quyền lợi
của mình trong di chúc, bên cạnh đó pháp luật quy định như vậy cũng thể hiện
sự tôn trọng ý chí của người để lại tài sản, bảo vệ quyền nhận tài sản của những
người thừa kế khác, loại trừ những hành vi này ra khỏi đời sống xã hội. Nói
chung trong trường hợp này, pháp luật thừa kế có vai trò to lớn đối với việc bảo
vệ quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản và người nhận thừa kế.
1.4. Thừa kế theo di chúc trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
Theo quy định tại Điều 646 BLDS “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá
nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Với quy định
này, pháp luật về thừa kế đã thể hiện việc bảo vệ quyền sở hữu ở chỗ: người lập
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
13
Pháp luật thừa kế là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu.
di chúc với mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho
người còn sống khác. Người lập di chúc dựa vào ý chí và tình cảm của mình
định đoạt cho người khác được hưởng di sản sau khi qua đời, ý chí của cá nhân
khi lập di chúc thể hiện hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc. Do
vậy pháp luật thừa kế tôn trọng và bảo hộ ý nguyện cuối cùng của người lập di
chúc trong việc phân chia di sản của người đó cho những người thừa kế được
chỉ định hưởng di sản theo di chúc.
“Quyền của người lập di chúc là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài
sản. Dựa trên ý nguyện của người lập di chúc được thể hiện rõ trong nội dung
của di chúc ta biết được: cho ai được hưởng di sản, là cá nhân hay tổ chức;
người được chỉ định thừa kế được hưởng bao nhiêu, tài sản gì; phần nào để dùng
vào việc thờ cúng, phần nào dùng để di tặng cho ai Căn cứ vào những quy
định tại Điều 648 BLDS thì thừa kế theo di chúc đã thể hiện rõ hình thức phân
chia di sản theo ý chí của người lập di chúc. Ý chí của người lập di chúc luôn
phản ánh tính chất chủ quan của người để lại di sản, do vậy việc chỉ định ai là
người hưởng di sản đều do ý chí tự nguyện, độc lập của người lập di chúc định
đoạt, điều này đã thể hiện việc bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản của
pháp luật thừa kế đó là thông qua di chúc để định đoạt tài sản thuộc sở hữu của
mình” (TS. Phùng Trung Tập – Luật Thừa kế Việt Nam – Nxb. Hà Nội 2008).
Một điểm nữa thể hiện việc thừa kế theo di chúc bảo vệ quyền sở hữu là: khi chủ
sở hữu để lại di sản thì trong di chúc đã nêu rõ những người được hưởng di sản,
do vậy những người này đương nhiên sẽ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản
được chủ sở hữu cho hưởng trong di chúc khi người để lại di chúc này chết đi,
việc để lại di chúc đã bảo vệ quyền lợi của những người có quyền hưởng thừa kế
đồng thời loại trừ những trường hợp xảy ra tranh chấp về quyền thừa kế giữa các
chủ thể. Như vậy, đây là điểm đặc biệt của pháp luật thừa kế trong việc bảo vệ
quyền sở hữu của những người hưởng thừa kế sau khi xác lập quyền của chủ sở
hữu đối với tài sản cho họ.
Bên cạnh đó, pháp luật thừa kế có quy định người thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung của di chúc, theo đó những người này là những người thừa
Trương Văn Tân 342229 Bài tập lớn học kỳ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét