Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014
Báo cáo tổng hợp đề tàI nhánh Thử nghiệm Th-ơng mại điện tử Trong kinh doanh một số dịch vụ du lịch
5
không tích hợp các sản phẩm của các công ty khác. Những mô hình này
đợc gọi là Mô hình website riêng lẻ.
a/ Mô hình website của khách sạn
Với các khách sạn riêng lẻ, các website thờng đợc xây dựng theo
cấu trúc:
Thông tin giới thiệu
Tìm kiếm - lựa chọn
phòng
Kiểm tra phòng
Khai báo thông tin
Xác nhận - thanh toán
Nếu phòng
còn trống
Nếu phòng
khôn
g còn trống
Cơ sở dữ liệu
Còn đối với các tập đoàn khách sạn lớn (nh Hilton) thì tại mỗi quốc
gia sẽ có một website chung, trong đó chia ra thành các website nhỏ của
mỗi khách sạn tại từng địa phơng. Cấu trúc đợc xây dựng thờng là:
6
Tìm kiếm khách sạn
theo vị trí địa lý
Kiểm tra phòng
Khai báo thông tin
Xác nhận - thanh toán
Nếu phòng
còn trống
Nếu phòng
khôn
g còn trống
Cơ sở dữ liệu
Thông tin
giới thiệu chung
Lựa chọn phòng
b/ Mô hình website của các công ty du lịch
Các công ty du lịch có sản phẩm lớn hơn và vơn tới nhiều vị trí
địa lý. Hầu hết các website đợc xây dựng theo mô hình:
7
Tìm kiếm tour
theo vị trí địa lý
Khai báo thông tin
Xác nhận - thanh toán
Cơ sở dữ liệu
Thông tin
giới thiệu chung
Lựa chọn tour
Tại mô hình website của các công ty du lịch có đôi chút khác biệt so với
mô hình của khách sạn là: khách hàng có 2 cách để lựa chọn tour.
Cách 1: ngay từ những thông tin giới thiệu chung, các website thờng
liệt kê luôn những tour khuyến mại hoặc đang đợc nhiều ngời đặt mua.
Khi đó khách hàng có thể lựa chọn đặt tour ngay từ đầu.
Cách 2: nếu những thông tin ban đầu cha phù hợp với yêu cầu. Khách
hàng dùng công cụ tìm kiếm để lựa chọn tour theo nhu cầu. Thông
thờng các tiêu chí tìm kiếm thờng là vị trí địa lý hay độ dài của tour.
8
c/ Mô hình website của các hàng hàng không
Tất cả các hãng hàng không hàng đầu trên thế giới đều có website
riêng cho phép đặt mua vé trực tuyến. Cấu truc mô hình nh sau:
Tìm kiếm tuyến bay
và ngày khởi hành
Khai báo thông tin
Xác nhận - thanh toán
Cơ sở dữ liệu
Thông tin
giới thiệu chung
Lựa chọn
Sau khi khách hàng đã xác nhận và thanh toán, hãng hàng không sẽ gửi vé
máy bay đến địa chỉ của khách hàng theo các phơng thức khác nhau. Hoặc
khách hàng có thể đến phòng vé gần nhất để thanh toán và nhận vé.
9
d/ Nhận xét về mô hình
Qua các mô hình riêng lẻ của các nhà cung cấp dịch vụ hàng
không, khách sạn và du lịch chúng ta có thể rút ra đợc những mặt mạnh
và yếu của mô hình này:
Mặt mạnh: các website riêng lẻ của từng doanh nghiệp ra đời đã nâng
cao đợc hình ảnh của doanh nghiệp đối với khách hàng; làm tăng thêm
khả năng bán hàng và thu lợi nhuận thông qua các công cụ thơng mại
điện tử. Mặt khác, các website riêng lẻ này khi đa vào hoạt động đều có
thể chủ động về sản phẩm và giá cả đáp ứng đợc nhu cầu đa dạng của
khách hàng.
Mặt yếu: tuy nhiên việc xây dựng các website riêng lẻ cũng mang tới
một nguy cơ tiềm ẩn, đó là: Khả năng linh hoạt. Đây chính là khả năng
cung cấp cung một lúc các sản phẩm khác nhau cho một chuyến du lịch
nh vé máy bay, phòng khách sạn và các tour du lịch. Với các website
riêng lẻ, thì khả năng này là không thể đợc; do vậy khách hàng thờng
phải đặt các dịch vụ khác nhau tại nhiều site khác nhau dẫn đến tình
trạng lãng phí về thời gian và chênh lệch giá cả quá cao. Ví dụ ở Mỹ theo
công ty điều tra Vividence và PhocusWright thì hầu hết ngời tiêu dùng
Mỹ (73%) đánh giá các gói dul ịch cung cấp qua các site của các công ty
là không linh hoạt và có tới 40% khách hàng khi đặt mua trực tuyến phải
đặt tại nhiều site khác nhau.
Nh vậy, chúng ta có thể nhận thấy răng xu hớng hiện này của khách
hàng là muốn mua sắm ở một cửa, các site nào cung cấp càng nhiều dịch
vụ thì cơ hội tách biệt với thị trờng đông đúc các đối thủ càng nhiều.
Những site thất bại là những site chỉ cung cấp một gói sản phẩm duy
nhất và không có khả năng tổng hợp. Hầu hết các site ngày nay đang cố
10
gắng vơn lên bằng cách tổng hợp nhiều sản phẩm vào site của mình.
Mô hình này ta gọi là Mô hình tổng hợp hay Mô hình 3 in 1.
2/ Mô hình website tổng hợp
Nh đã trình bày ở trên, mô hình tổng hợp hiện nay đang là xu thế
chung và đợc các website lớn áp dụng rất thành công (Travelocity,
Expedia, Priceline). Tại các site này, khách hàng có thể tìm kiếm và
đặt mua các dịch vụ rất đa dạng nh vé máy bay, tàu hoả, thuê ôtô,
phòng khách sạn, tour du lịch. Tất cả các site này đều có cơ sở dữ liệu
sản phẩm rất lớn và kết hợp đợc với các đối tác là các hãng hàng không,
khách sạn và các công ty lữ hành. Các site này xây dựng với nhiều thiết
kế khác nhau, nhng tựu chung đều có một cầu trúc:
Thông tin chung
về sản phẩm
Tìm kiếm vé
máy bay, tàu hoả
Tìm kiếm tour
Tìm kiếm khách sạn,
phòng khách sạn
Lựa chọn dịch vụ
hoặc
Tự xây dựng theo nhu cầu
Khai báo thông tin
Xác nhận - thanh toán
Cơ sở dữ liệu
So sánh giá
hoặc
tiêu chí khác
11
Nhận xét mô hình:
Mô hình tổng hợp có thể nói là mô hình tiêu biểu cho các website
hiện nay. Tại mô hình, khách hàng có khả năng lựa chọn đợc nhiều sản
phẩm cùng một lúc của nhiều nhà cung cấp khác nhau. Hơn thế nữa,
khách hàng còn có thể sử dụng các công cụ so sánh về giá cả hay lịch
trình để có thể lựa chọn đợc các sản phẩm phù hợp nhất với yêu cầu,
hoặc tự mình xây dựng sản phẩm theo đúng với nhu cầu thực tế. Mặt
khác, khách hàng cũng có thể lựa chọn dịch vụ và sản phẩm với sự hạn
chế ít hơn về địa lý, thậm chí là trên toàn thế giới.
III/ Tình hình ứng dụng TMĐT trong ngành du lịch tại Việt Nam
Tại Việt Nam ngành du lịch đang đợc u tiên phát triển và là một ngành
mũi nhọn. Theo số liệu thống kế của Tổng cục Du lịch công bố thì năm
2003 lợng khách quốc tế đến Việt Nam đạt hơn 2,2 triệu lợt ngời,
đem lại 1,6 tỷ USD doanh thu cho ngành du lịch. Đấy là cha kể đến
khoảng 10 triệu lợt ngời Việt Nam đi du lịch trong nớc và quốc tế.
Việc ứng dụng thơng mại điện tử trong ngành du lịch cũng đã đợc chú
trọng. Tổng cục du lịch đã có website giới thiệu về Việt Nam, cũng nh
là các thông tin cần thiết về các cảnh đẹp và các thủ tục cho khách du
lịch tại các địa chỉ:
o www.vietnamtourism.gov.vn
o www.dulichvn.org.vn
o www.vietnamtourism-info.com
o http://www.vietnam-tourism.com
12
Trong các website này, khách hàng có thể tìm thấy các thông tin giới
thiệu chung về đất nớc con ngời Việt Nam; các danh lam thắng cảnh
trên khắp đất nớc. Đồng thời khách hàng cũng có thể tìm thấy các địa
chỉ về khách sạn, nhà hàng cũng nh các địa chỉ của các công ty du lịch
lữ hành trên cả nớc. Tất cả các website này đợc xây dựng trên 4 ngôn
ngữ: Anh, Pháp, Việt, Hoa.
Ngoài các website này, Tổng cục du lịch còn hợp tác với các đối tác
nớc ngoài xây dựng các website quảng bá du lịch Việt Nam nh hợp tác
với Chơng trình phát triển kinh tế t nhân khu vực Mekong (MPDF)
xây dựng website quảng bá du lịch VN tại địa chỉ
http://www.vietnambudgethotels.org. Ưu điểm của website này là những
khách sạn, nhà khách bình dân trong khu vực đều có thể sử dụng website
này để quảng bá hoạt động kinh doanh du lịch của mình.
Website đều có phần kết nối (link) giới thiệu tiềm năng tour, tuyến,
khách sạn, hệ thống danh lam thắng cảnh, phơng thức di chuyển hiệu
quả nhất
Căn cứ vào thông tin đợc cung cấp từ những website này, khách du lịch
có thể lựa chọn nhiều phơng án du lịch, giá cả nghỉ ngơi, di chuyển
Không chỉ có Tổng cục du lịch mà Các công ty du lịch và các khách sạn
cũng đều đã tự mình hoặc thuê ngoài để xây dựng những website giới
thiệu sản phẩm trên mạng.
Các công ty du lịch đều xây dựng cho mình một website riêng để giới
thiệu về các sản phẩm của mình. Tất cả các website này đều có mô hình
cơ bản:
13
Thông tin giới thiệu chung
Giới thiệu tour
Thông tin chi tiết tour
Đặt mua tour
Tiếp nhận đơn đặt qua email
Phản hồi qua email hoặc điện thoại, fax
Với mô hình này, các website đều là các website tĩnh, không có các công
cụ tìm kiếm sản phẩm và cơ sở dữ liệu. Các tour đều đợc thiết kế bằng
các trang HTML. Khi khách hàng đặt tour cũng không phải là đặt hàng
trực tuyến mà tất cả các đơn hàng sẽ đợc gửi địa chỉ email và ngời bán
liên lạc lại theo cách truyền thống nh điện thoại, fax
Trong ngành khách sạn, hầu hết các khách sạn lớn từ 2 sao trở lên đều đã
có riêng website cho mình. Cấu trúc của các website này không khác so
với cấu trúc các website về khách sạn trên thế giới. Chỉ có một khác biệt
duy nhất và cũng là khác biệt lớn nhất là : các website khách sạn tại Việt
Nam không thể đặt phòng trực tiếp qua mạng và thanh toán trực tuyến.
Các website khách sạn tại Việt Nam chỉ dừng lại ở mức giới thiệu chứ
cha phải là các website TMĐT thật sự.
14
Tại Việt Nam việc ứng dụng TMĐT trong lĩnh vực bán vé máy bay còn
rất hạn chế. Cả nớc chỉ có hai hãng hàng không là Vietnam Airlines và
Pacific Airlines. Hai hãng này đều có website riêng, nhng chỉ dừng lại ở
mức giới thiệu thông tin. Trong việc đặt vé và giữ chỗ, hai hãng này đều
sử dụng các phần mềm riêng. Những phần mềm này lại chỉ đợc cài đặt
cho các đại lý, và chỉ có đại lý mới có thể vào đợc hệ thống này để tiến
hành kiểm tra chỗ còn trống và tiến hành đặt vé. Các hệ thống này không
cho phép ngời dùng truy cập. Nếu muốn mua vé máy bay, ngời mua
vẫn phải đến các địa lý để đặt vé và thanh toán, trong trờng hợp muốn
hủy vé hay hoãn chuyến bay ngời mua cũng phải đến các đại lý để thực
hiện. Trong quá trình xây dựng mô hình thực nghiệm này, ban chủ nhiệm
đề tài cũng đã liên hệ với hàng không Việt Nam để đề xuất kết nối với hệ
thống đặt vé và giữ chỗ của Vietnam Aiỉlines nhng đều bị từ chối. Do
vậy khả năng xây dựng mô hình bán vé máy bay qua mạng là không thực
tế tại Việt Nam.
Nh vậy là hầu nh các hãng du lịch, khách sạn, hàng không đều đã có ý
thức về TMĐT những chỉ xây dựng website với tính chất giới thiệu chứ
cha có thể xúc tiến bán các sản phẩm của mình trực tiếp qua mạng. Nếu
khách hàng đặt mua một dịch vụ nào đó trên mạng thì việc cuối cùng họ
phải làm vẫn là đến trực tiếp tại các công ty hay khách sạn để xác nhận
và thanh toán.
Có thể nói việc ứng dụng TMĐT trong ngành du lịch Việt Nam chỉ ở
mức khởi đầu. Mặt khác, nhận thức của những ngời làm du lịch còn
cha sâu. Những nhà lãnh đạo cha ý thức đợc lợi thế to lớn của TMĐT
mang lại cho ngành du lịch và họ vẫn loay hoay tìm một con đờng đi
cho việc ứng dụng TMĐT cho doanh nghiệp mình.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét