PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN
GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009………………………………… 32
2.1. Khái quát vị trí địa lý và tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ
Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay…………… …. 32
2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ở phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang……………………………………………. 32
2.1.2. Tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ Phước, thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang……………………………………………………… 33
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ
năm 2006 đến năm 2009………………………………………… 35
2.2.1. Khái quát tình hình đói nghèo ở phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang………………………………………… 35
2.2.2. Một số chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của
Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang……………………………………………………………………… 36
2.2.2.1. Một số chủ trương, chính sách của tỉnh An Giang về công
tác xóa đói, giảm nghèo……………………………………………………… 36
2.2.2.2. Một số chủ trương, giải pháp của thành phố Long Xuyên về
công tác xóa đói, giảm nghèo……………………………………………… 40
2.2.2.3. Một số chủ trương, giải pháp của phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo…………. 42
2.2.3. Những thành tựu và hạn chế thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
từ năm 2006 đến năm 2009……………………………………… …… … 45
2.2.3.1. Thành tựu………………………………………………… 45
2.2.3.2. Hạn chế.………………………………………………… 48
2.2.3.3. Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế………………. 49
2.3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới………………… … 51
2.3.1. Mục tiêu chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà
nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang……………………………………………………………………… 51
2.3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới……… … 52
2.3.2.1. Giải pháp chung………………………………………… 52
2.3.2.2. Giải pháp về kinh tế……………………………………… 54
2.3.2.3. Giải pháp về các chính sách……………………………… 56
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………… 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
Xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009. Thực trạng và giải pháp
Chuyên ngành Giáo dục chính trị
1.Lý do chọn đề tài.
Nghèo đói là một vấn đề mang tính toàn cầu, là một hiện tượng xã
hội tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới. Nếu vấn đề nghèo đói không giải
quyết được thì không mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, quốc gia đặt ra như
hòa bình, ổn định, công bằng xã hội…có thể giải quyết được. Theo ước tính
của Liên Hiệp Quốc, hiện nay trên thế giới có khoảng trên 2 tỷ người đang
sống trong cảnh nghèo đói, trong đó khoảng ½ tỷ người phải sống ít hơn 2
USD mỗi ngày, thậm chí là thấp hơn. Và Việt Nam cũng không ngoại lệ-là
một đất nước trải qua hàng ngàn năm bị xâm lược, đi lên chủ nghĩa xã hội từ
một nền kinh tế thấp kém, lạc hậu lại bị cấm vận bởi các thế lực thù địch
nhưng bằng sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, ý chí quật cường của dân tộc
và hỗ trợ của bạn bè quốc tế Việt Nam đã có những bước phát triển, đạt được
những thành tựu đáng kể. Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới nền
kinh tế nước ta phát triển nhanh, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng
lên một cách rõ rệt. Song một bộ phận dân cư, đặc biệt là dân ở vùng cao,
vùng sâu, vùng xa,…đang chịu cảnh nghèo đói, rét, chưa đảm bảo được những
điều kiện tối thiểu của cuộc sống. Sự phân hóa giàu nghèo đã và đang diễn ra
mạnh mẽ và là vấn đề xã hội cần đặc biệt quan tâm.
Từ năm 1992, xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai ở một số tỉnh,
thành phố, đến năm 1994 trở thành phong trào ở tất cả các tỉnh, thành phố
trong cả nước. Trong giai đoạn 1992-1997, phong trào xóa đói, giảm nghèo đã
được các địa phương và các tổ chức đoàn thể phát động để trợ giúp hộ nghèo
về đời sống và sản xuất. Phong trào đã đạt được những kết quả đáng kể, giảm
tỷ lệ hộ nghèo đói trong cả nước từ 60% năm 1990 xuống còn 12,3% năm
2009. Nhiều mô hình xóa đói, giảm nghèo thành công đã xuất hiện và được
nhân rộng. Sự phối hợp, lồng ghép các chương trình kinh tế-xã hội khác với
xóa đói, giảm nghèo bước đầu đã đem lại kết quả theo ước tính khoảng 20%
- 2 -
hộ nghèo đã được hưởng lợi từ các Chương trình 120, 327, nước sạch nông
thôn, y tế, giáo dục…, cuộc sống của đại bộ phận dân cư bước đầu được cải
thiện, đặc biệt là nhóm hộ nghèo. Từ những kết quả đó, theo đánh giá của Liên
Hiệp Quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói, giảm
nghèo trong thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ.
Do đó, để tập trung được nguồn lực triển khai một cách đồng bộ,
thống nhất và hiệu quả, xóa đói, giảm nghèo phải trở thành một Chương trình
mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất
nước nhằm hỗ trợ trực tiếp xã nghèo, người nghèo những điều kiện cần thiết
để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi
đói nghèo, tạo môi trường thuận lợi xóa đói, giảm nghèo bền vững. Chính vì
vậy ngày 23/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 (gọi là
chương trình 133) và xác định đây là một trong mười Chương trình mục tiêu
quốc gia, coi đây là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà
nước. Đến 9/2001 tiếp tục phê duyệt Chương trình xóa đói, giảm nghèo và
việc làm giai đoạn 2001-2005 (gọi là Chương trình 143). Đảng ta cũng đã
khẳng định: xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp cơ bản để kết
hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc
thực hiện xóa đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chủ yếu để phát
triển kinh tế-xã hội trong kế hoạch 5 năm 2006-2010.
Để thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về xóa đói, giảm nghèo thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nói chung
và phường Mỹ Phước nói riêng đã ra sức đẩy mạnh thực hiện chính sách xóa
đói, giảm nghèo và đạt được nhiều thành tựu đáng kể: tỷ lệ hộ nghèo ở
phường từ 5,15% năm 2006 giảm xuống còn 1,89% năm 2009 (theo chuẩn
mới). Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo tại phường
chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Vì
vậy, mục tiêu phấn đấu của phường là đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ hộ nghèo
còn dưới 1%. Để hoàn thành mục tiêu này và đồng thời đáp ứng được yêu cầu
đổi mới của đất nước, đòi hỏi các cấp lãnh đạo ở địa phương cần có những
biện pháp cụ thể để khắc phục những mặt hạn chế và thực hiện có hiệu quả
chính sách xóa đói, giảm nghèo.
Từ những lý do trên em chọn đề tài: “Xóa đói, giảm nghèo ở
phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến
- 3 -
năm 2009. Thực trạng và giải pháp” để làm khóa luận tốt nghiệp chuyên
ngành Giáo dục chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Hiện trong nước nói chung và tỉnh An Giang, thành phố Long
Xuyên, phường Mỹ Phước nói riêng có nhiều đề tài, bài nghiên cứu, tham
luận, báo cáo về thực trạng và đề ra những giải pháp cụ thể về xóa đói,
giảm nghèo phù hơp từng địa phương nghiên cứu. Về vấn đề xóa đói, giảm
nghèo đã có những đề tài nghiên cứu ở địa phương như: khóa luận tốt
nghiệp của Nguyễn Ngọc Ánh, tiểu luận của Nguyễn Thiện Tích,…Nhưng
chỉ dừng lại ở vấn đề chung chung, những giải pháp mang tính khả thi
chưa cao hay nghiên cứu ở những địa phương khác. Nay em, bước đầu tìm
hiểu về nghèo đói, công tác xóa đói, giảm nghèo hiện nay ở trong nước và
ở tại địa phương em-phường Mỹ Phước. Từ đó, có những giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống
cho người dân ở địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận.
3.1. Mục đích nghiên cứu khóa luận.
- Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
của Đảng, Nhà nước tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang từ năm 2006 đến năm 2009.
- Từ tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm
nghèo tôi đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần cho Đảng ủy, chính quyền
và nhân dân địa phương làm tốt hơn nữa chính sách xóa đói, giảm nghèo ở
phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm
tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận.
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận cần thực hiện:
- Trình bày cơ sở lý luận chung về xóa đói, giảm nghèo và chủ
trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ta.
- Phân tích thực trạng xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước
ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- 4 -
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần cho Đảng ủy, chính
quyền và nhân dân làm tốt hơn nữa trong công tác xóa đói, giảm nghèo ở
phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu khóa luận.
4.1. Đối tượng nghiên cứu khóa luận.
Xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009. Thực trạng và giải pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu khóa luận.
Đề tài nghiên cứu dưới góc độ môn Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác-Lênin và chỉ nghiên cứu thực trạng xóa đói, giảm nghèo và
việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường
Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm
2009.
5. Phương pháp nghiên cứu khóa luận.
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp lịch sử và logic
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của khóa luận.
- Góp phần khẳng định sự cần thiết khách quan phải nghiên cứu vấn
đề xóa đói, giảm nghèo của cả nước nói chung và ở An Giang nói riêng.
- Khóa luận đạt được kết quả tốt là động lực góp phần giúp em vững
tin hơn trong công tác giảng dạy sau này; đồng thời là động lực giúp em trong
quá trình nghiên cứu về môn học mà em yêu thích.
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận là nguồn tư liệu để các cấp
Đảng, chính quyền địa phương có thể tham khảo trong quá trình lãnh đạo, giải
quyết các vấn đề liên quan đến xóa đói, giảm nghèo tại phường Mỹ Phước,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- 5 -
7. Kết cấu của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
khóa luận gồm hai chương:
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO.
1.1. Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.1. Quan niệm về nghèo đói, ngưỡng cửa nghèo.
1.1.1.1. Quan niệm hiện tại về nghèo đói.
1.1.1.2. Khái niệm ngưỡng cửa nghèo.
1.1.1.3. Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.2. Nhận thức về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.2.1. Tiêu chí đánh giá nghèo đói.
1.1.2.2. Chuẩn nghèo đói.
1.2. Chủ trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.
1.2.1. Một số chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.
1.2.2. Công tác thực hiện các chính sách về xóa đói, giảm nghèo ở
nước ta.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Ở PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN
GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009.
2.1. Khái quát vị trí địa lý và tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ
Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay.
2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ở phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2.1.2. Tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ Phước, thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang.
- 6 -
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ
năm 2006 đến năm 2009.
2.2.1. Khái quát tình hình đói nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2.2.2. Một số chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng,
Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2.2.2.1. Một số chủ trương, chính sách của tỉnh An Giang về công
tác xóa đói, giảm nghèo.
2.2.2.2. Một số chủ trương, giải pháp của thành phố Long Xuyên về
công tác xóa đói, giảm nghèo.
2.2.2.3. Một số chủ trương, giải pháp của phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo.
2.2.3. Những thành tựu và hạn chế thực hiện chính sách xóa đói, giảm
nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm
2006 đến năm 2009.
2.2.3.1. Thành tựu.
2.2.3.2. Hạn chế.
2.2.3.3. Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế.
2.3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới.
2.3.1. Mục tiêu chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước
ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2.3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới.
2.3.2.1. Giải pháp chung.
2.3.2.2. Giải pháp về kinh tế.
2.3.2.3. Giải pháp về các chính sách.
- 7 -
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO.
1.1. Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.1 Quan niệm về nghèo đói; ngưỡng cửa nghèo.
1.1.1.1 Quan niệm hiện tại về nghèo đói.
“Vì sao người ta lại quan tâm đến vấn đề nghèo đói?”. Trước những năm
1990 người ta quan tâm nhiều đến tăng trưởng kinh tế, kinh tế càng tăng
trưởng càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và chi phí khắc phục hậu
quả của nó ngày một tốn kém hơn. Trong các vấn đề xã hội bức xúc đó, vấn đề
nghèo đói nổi lên hàng đầu và được cả cộng đồng quốc tế quan tâm. Đến
những năm đầu tiên thế kỷ 21 có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo
và đang phát triển xây dựng chiến lược giảm nghèo toàn diện và gần 30 tổ
chức quốc tế, bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương xây dựng chiến
lược hỗ trợ các nước nghèo trong cuộc chiến chống nghèo đói.
Quan niệm về nghèo đói hay nhận thức về nghèo đói của từng quốc gia
hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể,
tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là
thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế-xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc
gia.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy Ban kinh tế-xã hội khu vực Châu
Á-Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok-Thái Lan vào tháng 9 năm
1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo khổ
là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế-xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được
xã hội thừa nhận.”
Qua nhận định trên ta thấy, nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn,
mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Nghèo khổ thay đổi
- 8 -
theo thời gian: thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng
phát triển, nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo và có xu hướng
ngày một cao hơn. Nghèo khổ thay đổi theo không gian: thông qua nhận định
ta cũng thấy được sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó
phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia, từng vùng, xu
hướng chung là các nước càng phát triển ngưỡng đo nghèo đói càng cao.
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen Đan Mạnh năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể về nghèo
đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1
đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại”
Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn,
triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO)-ông
Abaoia Sen, người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng:
“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu,
người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội
lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống có cơ hội lựa chọn ít hơn.
Ngân hàng thế giới đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều
vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất, nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa
trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh
dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát
ngôn và không có quyền lực.
Năm 2000, Ngân hàng Thế giới đưa ra tháp tiếp cận khái niệm về
nghèo đói như sau:
Tiêu dùng
Tiêu dùng + tài sản
Tiêu dùng + tài sản + con người
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội + chính trị
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội + chính trị + bảo vệ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét