KILOBOOKS.CO
Tỉnh Hà Tây được hợp nhất bởi hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đơng. Sơn Tây đi
ngược lên phía tây là vùng sơn cước, Hà Đơng đi xi xuống phía nam là vùng
trũng, sơng nước. Với vị trí nằm sát kinh đơ Thăng Long-Đơng Đơ- Hà Nội về
hai phía tây và nam với ba cửa ngõ vào kinh đơ( trong bảy cửa ngõ) qua các
quốc lộ 1A; 6; 32, nơi đây đã diễn ra các mối quan hệ liên tục, mật thiết với kinh
đơ.
Hà Tây nằm cạnh khu vực tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Hạ Long (
hạt nhân kinh tế của miền Bắc), nằm ở khu vực chuyển tiếp từ tây bắc và trung
du miền bắc giàu có về tài ngun thiên nhiên với đồng bằng sơng Hồng nổi
tiếng trù phú qua một mạng lưới giao thơng về đường thuỷ, đường bộ, đường sắt
cùng các bến cảng tương đối phát triển.
Các ưu thế thứ nhất cận thị( gần chợ búa, đơ thị), thứ nhì cận giang( gần
các dòng sơng lớn, gần các huyết mạch giao thơng đường thủy) này đã tác động
đến sự phát triển kinh tế của Hà Tây.
Cùng với vị trí địa lý, nguồn lực lao động cũng là nhân tố đặc biệt quan
trọng. Người dân Hà Tây có truyền thống lao động cần cù, có bàn tay khéo léo,
có óc sáng tạo biết tận dụng những ngun liệu sẵn có tại địa phương để sản
xuất. 300 năm trước đây, chỉ bằng cây tế- một loại cỏ mọc ở vùng nhiệt đới-
người dân Phú Xun( Chương Mỹ) đã đưa về q mình chẻ, tách thành những
sợi guột nhỏ để buộc, nức những chiếc rổ, chiếc rá Nếu như người dân Phú
Xun chỉ bằng cây cỏ tế đã sáng tạo nên nhiều sản phẩm cho sinh hoạt hàng
ngày thì nhân dân Chương Mỹ từ thế kỷ 17 cũng sử dụng ngun liệu rất giản
đơn là cây tre, cây mây để đan rổ rá và nhiều vật dụng khác phục vụ cuộc sống.
Người dân đã có cơng trong việc phát hiện ra cây mây- thứ cây được trồng nhiều
làm hàng rào hoặc mọc dại ven đường, có độ dẻo, dai, chuột nhiều thì bóng, lại
dễ làm, phù hợp với các mẫu mã hàng và khơng ngừng sáng tạo để sản phẩm
ngày thêm đa dạng. Và rất nhiều các ngun liệu, mặt hàng khác của nhiều làng
nghề thể hiện rõ sự khéo léo, sáng tạo hồ quyện trong tính cần cù, chịu thương
chịu khó của người dân Hà Tây.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
Như vậy, những nhân tố vị trí địa lý thuận lợi, tiềm năng thiên nhiên phong
phú, dồi dào và người dân cần cù, tài hoa, khéo léo đã tạo đà cho việc hình thành
nên các nghề và phát triển mạnh thành làng nghề, xã nghề ở Hà Tây.
Nghề, nghề phụ hay nghề thủ cơng nhiều nơi có nhưng phát triển trở thành
một hoạt động kinh tế, ảnh hưởng tới đời sống của làng, trở thành làng nghề thì
khơng phải đâu cũng có. Song, ở Hà Tây lại rất phổ biến và từ lâu được coi là
đất trăm nghề. Trong luỹ tre làng, người nơng dân, người thợ thủ cơng chăm chỉ,
miệt mài làm ra các mặt hàng thủ cơng từ đơn giản tới phức tạp phục vụ cho sản
xuất, phục vụ đời sống hàng ngày. Làng nào trong tỉnh cũng có người làm nghề
thủ cơng, có làng ít, có làng hầu hết mọi người cùng tham gia. Những mặt hàng
thủ cơng khơng thể thiếu được trong sản xuất, trong cuộc sống hàng ngày như
cày, bừa, những chiếc gầu tát nước, những chiếc nong, nia, thúng, mủng, dần
sàng, chiếc bàn, bộ ghế và những dụng cụ sinh hoạt khác đều do bàn tay người
nơng dân, người thợ thủ cơng trong tỉnh làm ra. Những mặt hàng thủ cơng cao
cấp như lụa tơ tằm, gỗ chạm khắc, khảm trai, hàng thêu, ren cũng nổi tiếng từ
nghìn năm nay. Chẳng thế khi đi khảo cứu về sự phát triển của thủ cơng nghiệp
Việt Nam, tác giả Phạm Gia Bền đã nhận định: “ở Hà Đơng đâu đâu cũng làm
nghề thủ cơng và nghề thủ cơng nào cũng có và rất nổi tiếng, có nghề đã từ lâu
đời”( Sơ khảo lịch sử phát triển tiểu thủ cơng nghiệp Việt Nam. Phạm Gia Bền.
Nxb Văn sử địa. 1957). Hà Đơng ở đây chính là tên gọi cũ của tỉnh Hà Tây bây
giờ.
Từ xa xưa, tơ lụa Vạn Phúc, lụa hàng Hà Đơng, the làng La đã có tiếng
trong nước và được các thương nhân nước ngồi chú ý, coi như một sản phẩm
thủ cơng q giá, làm lễ vật dâng tặng, cúng tiến. Nhiều tên tuổi làng nghề đã đi
vào ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thống dân gian, trở thành một di sản văn hố
dân gian:
Sâm Động là đất trồng hành,
Mễ Hồ tre nứa đan mành ta mua.
Qt Đức thêu quạt thêu cờ
Nhị Khê tiện gỗ đền thờ trạm hoa.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
Làng Giai tơi lá che mưa,
Trát Cầu bơng sợi kém thua gì người,
Lược thưa Thuỵ ứng chàng ơi,
Trăm nghề q thiếp xin mời chàng mua.
Nhắc đến Hà Tây, người ta nghĩ ngay tới tầm tang canh cửi. Những thềm
phù sa mầu mỡ bên các con sơng cổ như sơng Hà, sơng Hồng, sơng Đáy, sơng
Tích, sơng Nhuệ rất thích hợp cho việc trồng dâu ni tằm. Làng lụa Vạn Phúc,
nơi dệt lụa hàng vân nổi tiếng ở Hà Đơng xưa. Từ lúc gà gáy khi xa khi gần là
âm thanh vang lên từ những khung dệt lụa, là tiếng thoi đưa rộn ràng, lúc dìu
dặt, khoan thai bao đời nay như nhịp điệu cuộc sống của làng. Chẳng thế mà
người dân có những bài ca nghề nghiệp thể hiện niềm tự hào sâu sắc về q
hương mình:
- The La, lụa Vạn, vải Canh
Nhanh tay đi bán, ai sành thì mua.
- The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng,
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Bỗ Bơn.
Cùng với the, lụa, lĩnh những chiếc nón che mưa che nắng nhưng cũng
góp phần làm dun cho con người. Nón làng Chng(Thanh Oai) được làm từ
đơi bàn tay khéo léo của người thợ và trở thành biểu tượng cho nét đẹp dịu dàng,
kín đáo, giản dị của thiếu nữ Việt Nam. Có lẽ vì thế mà nhiều bạn bè, du khách
quốc tế đến thăm Việt Nam đều thích mang những chiếc nón về làm kỷ niệm.
Đường kim mũi chỉ tinh xảo trong những bức tranh thêu của làng nghề
Quất Động(Thường Tín) được khắp nơi biết đến. Đó là thành quả của đức tính
kiên trì và tài khéo léo của người thợ thêu, cái tài đã nở hoa trên vải.
Nếu như người thợ thêu dùng chỉ màu và chất liệu thể hiện sinh động thực
tiễn cuộc sống thì người thợ khảm trai dùng vỏ trai, xà cừ. Làng nghề khảm trai
Chn Ngọ ( Chun Mỹ) đã tạo dựng cho mình danh tiếng vang xa. Mỗi sản
phẩm khảm trai phản ánh tính thời đại và tính hữu dụng thẩm mỹ thật cầu kỳ,
huyền bí. Người thợ bỏ nhiều cơng phu sáng tác, vẽ, mào, cưa, đục mảnh, hạ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
mặt tranh khảm, mài, đánh bóng, hồn thiện một tác phẩm như một tác phẩm
nghệ thuật hấp dẫn khiến lòng người ngẩn ngơ.
Còn rất nhiều các làng nghề nổi danh nữa khó có thể kể hết: Làng tiện Nhị
Khê cho ra đời hàng loạt sản phẩm thiết kế mẫu trang sức. Sản phẩm sơn mài
Dun Thái nước sơn bóng, lung linh, huyền ảo. Đồ mây Phú Vinh nét đan
mềm mại, nét thắt dịu dàng, màu sắc trang nhã Mỗi làng nghề, mỗi vẻ làm
phong phú thêm truyền thống nghề thủ cơng ở Hà Tây.
Khơng chỉ khéo tay hay nghề, làng nghề còn là đất văn vật, có nhiều người
hiển đạt được truyền tụng trong lịch sử dân tộc. Làng tiện Nhị Khê q hương
của Nguyễn Trãi, của Dương Bá Cung, của Lương Văn Can, của Lương Ngọc
Quyến. Hay làng Bùng q hương của những người thợ kim khí lại là q hương
của trạng ngun Phùng Khắc Khoan Hà Tây đã cung cấp nhiều nhân tài, vật
dụng q giá bồi đắp tinh hoa vẻ vang cho đất nước.
Ngày nay, Hà Tây đang nỗ lực phát huy lợi thế là vùng đất phát triển và
hợp tác trực tiếp - nhất là về kinh tế, kỹ thuật với thủ đơ, vừa là thị trường lớn
tiêu thụ sản phẩm vừa có điều kiện để tiếp thu nhanh chóng đầu tư, thơng tin và
cơng nghệ mới trong nước và quốc tế. Cơ sở hạ tầng của Hà Tây được cải thiện
khơng ngừng, tạo điều kiện tốt cho cơng nghiệp nói chung và làng nghề nói
riêng có điều kiện phát triển.
Về giao thơng, mạng lưới giao thơng đường bộ của tỉnh có chiều dài 4.503
km, trong đó 964 km đường ơ tơ, các quốc lộ 1A;Q16; 21A; 21B; 32, đường
Láng- Hồ Lạc, đường Hồ Chí Minh xun Việt với tổng chiều dài trên 200 km.
Đường sắt có các tuyến Hà Nội- Lào Cai qua Hà Đơng, Hồi Đức, trong đó ga
đầu mối dài 42,5 km; tuyến đường sắt Bắc-Nam đi qua các huyện Thường Tín,
Phú Xun - nơi tập trung số lượng rất lớn các làng nghề nổi tiếng của Hà Tây-
dài 29,5 km; về đường sơng có 32 km sơng Đà, 38 km sơng Đáy; 78 km sơng
Hồng; 35 km sơng Tích; 46 km sơng Bùi; 49 km sơng Nhuệ; có hai cảng quy mơ
tương đối lớn là cảng Sơn Tây và cảng Hồng Vân, ngồi ra còn nhiều cảng nhỏ
đang được phát triển đầu tư.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
Tổng dân số Hà Tây là 2,5 triệu người, số người trong độ tuổi lao động có
trên 1,3 triệu người. Đây là lực lượng lao động dồi dào, có văn hố, có truyền
thống cần cù, thơng minh từ xa xưa đã tạo nên nhiều làng nghề nổi tiếng.
Với truyền thống ngành nghề, với nguồn ngun liệu phong phú và nguồn
lực lao động kế thừa, phát triển đức cần cù, khéo léo, sáng tạo từ ơng cha kết
hợp với cơ sở hạ tầng được đầu tư đúng mức, đây là những tiềm năng lớn cho
phép Hà Tây bảo tồn, phát huy các làng nghề truyền thống; đi đơi khuyến khích
nhân cấy phát triển nghề mới, góp phần hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn
bằng chính nguồn nội lực, thế mạnh của địa phương.
1.2. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế nơng thơn ở Hà Tây.
Ngành nghề và làng nghề ở Hà Tây rất đa dạng, phong phú, phần lớn là
những làng có nghề cổ truyền được khơi phục, duy trì; ngồi ra còn có làng nghề
mới được hình thành và phát triển do tìm được nghề phù hợp với địa phương,
sản phẩm sản xuất phù hợp với thị trường, có kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo. Hoạt
động trong làng nghề chủ yếu là các hộ gia đình, là thành viên của các loại hình
doanh nghiệp sản xuất trên diện rộng khắp cả làng, có nơi cả xã và cả vùng như:
La Phù(Hồi Đức); Phú Túc( Phú Xun)
Làng nghề là lực lượng, hình thức chủ yếu của cơng nghiệp nơng thơn
trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Phát triển làng nghề đồng nghĩa
với phát triển cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp, nhờ vậy sẽ tăng tỷ trọng của
cơng nghiệp trong cơ cấu kinh tế nơng thơn và tăng tốc độ phát triển kinh tế
nơng thơn. Đồng thời với phát triển cơng nghiệp, phát triển các làng nghề sẽ kéo
theo phát triển nơng nghiệp để cung cấp ngun vật liệu cho cơng nghiệp và tiêu
thụ các sản phẩm của cơng nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và các ngành nghề.
Phát triển làng nghề góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
thúc đẩy cơng nghiệp hố, hiện đại hóa nơng nghiệp, nơng thơn. Nếu năm 1997,
tỷ trọng nơng nghiệp là 40%, cơng nghiệp là 30% thì năm 2003 lần đầu tiên
cơng nghiệp vượt nơng nghiệp và đến năm 2004 nơng nghiệp chỉ còn 33,6%,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
cơng nghiệp vươn lên 37,1% đưa Hà Tây từng bước trở thành tỉnh cơng nghiệp,
thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn.
Xét riêng một số các huyện ở Hà Tây có làng nghề phát triển ta có thể thấy
rõ hơn điều này:
- Huyện Thường Tín (có 35 làng nghề) tỷ trọng cơng nghiệp- xây dựng
tăng dần từ 34,69%(năm 2000) lên 42% (năm 2005); Nơng nghiệp từ 40,38%(
năm2000) giảm xuống 29,5%(năm 2005).
- Huyện Chương Mỹ(20 làng nghề) giá trị sản xuất cơng nghiệp, thủ
cơng nghiệp của huyện đạt 120 tỷ đồng, cao nhất từ trước tới nay.
- Huyện Thạch Thất (có 9 làng nghề) cơ cấu kinh tế tăng trưởng bình
qn đúng hướng và mang tính đột phá rõ rệt. Tỷ trọng nơng nghiệp giảm khá
nhanh, từ 47,5% năm 2000 xuống còn 21,5%, tỷ trọng CN-TTCN tăng đột biến
từ 21% lên 59,3%.
Làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời giải quyết việc
làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Hiện nay, thời gian làm nơng nghiệp chỉ
chiếm khoảng 30% quỹ thời gian của người nơng dân, làng nghề đảm bảo tận
dụng các nguồn lao động hiện đang dư thừa. Mặt khác, tính chất cơng việc ở các
làng nghề chủ yếu u cầu lao động chân tay, kỹ năng, trình độ tay nghề được
tích luỹ nâng cao trong q trình sản xuất, phù hợp với lao động ở nơng thơn.
Khu vực kinh tế làng nghề đã giải quyết việc làm cho 185 nghìn lao động. Làng
nghề chế biến nơng sản Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai; các làng nghề cơ khí,
chạm khắc gỗ xã Thanh Thuỳ( Thanh Oai); Hợp tác xã khảm trai Ngọ Hạ(
Chun Mỹ) có từ 70% đến 90% số hộ tham gia làm nghề CN-TTCN, giá trị
sản xuất đạt trên 20 tỷ đồng/năm/làng. Như vậy, phát triển nghề có thể đẩy lùi
nạn thất nghiệp ở nơng thơn, tránh tình trạng “ nhàn cư vi bất thiện”. Hơn nữa,
thu nhập từ sản xuất cơng nghiệp nơng thơn (làng nghề) gấp 2-3 lần thu nhập
thuần nơng, chiếm 70% thu nhập của các hộ nơng dân kiêm nghề. Có việc làm,
có thu nhập sẽ hạn chế rất nhiều tệ nạn xã hội, góp phần lành mạnh hóa cơ sở,
đặc biệt trong tầng lớp thanh niên ở nơng thơn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
Có thể khẳng định, làng nghề tạo việc làm ổn định cho lao động, sử dụng
cơ sở vật chất của nơng thơn để phát triển sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hố
cung cấp cho xã hội. Đây là sự phát triển cơng nghiệp, phát triển kinh tế nơng
thơn bằng nội lực.
Về giá trị xuất khẩu, nghề thủ cơng ở Hà Tây có vị trí rất quan trọng, mang
lại số ngoại tệ khá lớn cho tỉnh và nâng cao đời sống người dân làng nghề. Tổng
giá trị xuất khẩu của tỉnh năm 2004 tăng 18,72% so với năm 2003 và tăng bình
qn thời kỳ 2001-2004 là 13,6%. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng may
mặc, mây tre đan, hàng thủ cơng mỹ nghệ, giày da các loại.
Một nhân tố quan trọng thể hiện rõ vai trò của làng nghề là truyền thống
văn hố. Sản phẩm thủ cơng của làng nghề mang đậm dấu ấn truyền thống,
mang vẻ đẹp văn hố tâm hồn nghệ nhân, thể hiện bản sắc văn hố riêng, độc
đáo. Nếu như khơng có làng nghề, người nơng dân Hà Tây đơn thuần chỉ biết
làm nơng nghiệp, hầu như khơng có sự giao lưu, hồ nhập với các khu vực khác.
Làng nghề tồn tại và phát triển tạo cho người dân một cái nhìn rộng hơn ra xung
quanh, giúp hội nhập vào khu vực và thế giới. Đồng thời qua các sản phẩm, du
khách cũng như bạn bè thế giới có thể hiểu hơn về nét bình dị, chân q nhưng
rất mực tài hoa của người dân trên mảnh đất Hà Tây.
Tóm lại, việc phát triển làng nghề là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Làng
nghề gắn bó với nơng thơn, sử dụng ngun liệu tại chỗ, lao động đơng đảo, cần
cù, sáng tạo, đầu tư nhỏ nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Do đó, làng nghề
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn, phá vỡ thế thuần nơng của
nhiều vùng, tăng thêm thu nhập của một bộ phận dân cư, đồng thời giải quyết
việc làm cho lao động nơng thơn, tránh được sức ép lao động thừa đổ ra đơ thị,
thực hiện xố đói giảm nghèo, xây dựng nơng thơn mới. Hơn nữa, phát triển
làng nghề còn là gìn giữ và phát huy bản sắc văn hố. Những lợi thế cả về kinh
tế- văn hố- xã hội này cần được khai thác triệt để, góp phần cùng tồn ngành
cơng nghiệp đưa Hà Tây thành tỉnh Cơng nghiệp trong thời gian tới.
1.3.Thực trạng làng nghề ở Hà Tây.
1.3.1. Tổng số lượng làng nghề.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
Cuối năm 1999, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây đã ban hành “ Quy định tạm
thời về tiêu chuẩn làng nghề và phát triển làng nghề” gồm các điểm sau:
- Số hộ và lao động làm nghề cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp ở làng
đạt 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị thu nhập từ cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp ở làng đạt trên
50% so với tổng giá trị sản xuất ở làng trong 1 năm.
- Có tổ chức phù hợp với tình hình thực tế ( hội, câu lạc bộ, hợp tác
xã), chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương, gắn với các mục
tiêu kinh tế- xã hội và làng văn hố của địa phương.
- Tên nghề của làng phải được gắn với tên làng: Nếu là làng nghề
truyền thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt tên cho nghề
của làng. Nếu làng có nhiều nghề phát triển, sản phẩm của nghề nào nổi tiếng
nhất thì nên lấy nghề đấy đặt tên nghề của làng, hoặc trong làng có nhiều nghề
khơng phải làng nghề truyền thống hay chưa có sản phẩm nghề nào nổi tiếng thì
tên nghề của làng nên dựa vào nghề nào có giá trị sản xuất và thu nhập cao nhất
để đặt tên nghề gắn với tên làng.”
Hà Tây- mảnh đất trăm nghề với 1.150 làng có nghề nhưng số lượng làng
nghề được tỉnh cơng nhận theo các tiêu chí trên là 201 làng. Trong đó bao gồm:
các làng nghề truyền thống ( chiếm số lượng lớn) và các làng nghề mới được
nhân cấy. Làng nghề truyền thống là những làng có nghề với quy trình cơng
nghệ độc đáo mang tính cổ truyền gắn với tên tuổi của ơng tổ nghề, tạo ra sản
phẩm có tiếng vang từ lâu đời. Còn làng nghề mới được nhân cấy là những làng
có nghề mới được hình thành do áp dụng mơ hình ngành nghề có hiệu quả của
nơi khác và nhân rộng tại địa phương.
Làng nghề Hà Tây có các ngành chủ yếu:
- Ngành thủ cơng mỹ nghệ chế biến lâm sản: 65 làng nghề
- Ngành CN dệt may- hàng tiêu dùng: 29 làng nghề
- Ngành chế biến nơng sản thực phẩm: 17 làng nghề
- Ngành cơng nghiệp cơ khí- điện: 9 làng nghề
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
Như vậy, trong các ngành CN-TTCN mà làng nghề tham gia sản xuất thì
ngành có số lượng làng nghề sản xuất nhiều nhất là ngành thủ cơng mỹ nghệ chế
biến lâm sản (65 làng).
1.3.2. Tình hình phân bố làng nghề.
201 làng nghề ở Hà Tây được phân bố khắp các huyện trong tỉnh với mức
độ nhiều ít khác nhau, nhiều nhất là huyện Thanh Oai( 38 làng); ít nhất là thị xã
Hà Đơng (2 làng).
Tình hình phân bố làng nghề Hà Tây được sắp xếp giảm dần từ huyện
nhiều làng nghề nhất theo thứ tự của bảng sau:
STT Tên Huyện Số làng nghề
1 Thanh Oai 38
2 Thường Tín 35
3 Phú Xun 33
4 Chương Mỹ 20
5 ứng Hồ 16
6 Hồi Đức 12
7 Ba Vì 11
8 Quốc Oai 9
9 Thạch Thất 9
10 Đan Phượng 7
11 Phúc Thọ 5
12 Mỹ Đức 4
13 Thị xã Hà Đơng 2
1.3.3. Thành quả phát triển kinh tế -xã hội cao
của làng nghề.
Phong trào khơi phục làng nghề theo tiêu chí của tỉnh ngày càng sơi nổi và
rộng khắp. Từ 972 làng có nghề năm 2001với 120 làng nghề được tỉnh cơng
nhận, tính đến tháng 10/2004 đã tăng lên 1.150 làng có nghề với 201 làng nghề.
Nhiều làng nghề truyền thống đã được cơng nhận là làng văn hố và bước đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
được đầu tư cơ sở hạ tầng để đón khách trong và ngồi nước đến thăm quan du
lịch. Có 29 nhóm hàng thủ cơng mỹ nghệ truyền thống như: dệt lụa, mây tre
đan, gỗ mỹ nghệ, khảm trai, sơn mài với giá trị gần 2000 tỷ đồng năm 2001
tăng lên trên 3000 tỷ đồng năm 2004.
Năm 2004 là năm “ Phát triển cơng nghiệp”, các làng nghề ở Hà Tây được
đầu tư và quan tâm tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh phát triển nên đã có những
thành cơng đáng kể. Sản phẩm có sức tiêu thụ tốt trên thị trường: Ước năm
2004, vải lụa thành phẩm đạt 7,43 triệu mét; mây giang đan 72,5 triệu sản phẩm;
thức ăn gia súc 194,5 ngàn tấn, tăng bình qn 13,1% Làng nghề góp phần
nâng tổng giá trị xuất khẩu của tồn tỉnh năm 2004 tăng 18,72% so với năm
2003 và tăng bình qn thời kỳ 2001- 2004 là 13,6%. Mặt hàng xuất khẩu chủ
yếu là hàng may mặc, mây tre đan, hàng thủ cơng mỹ nghệ, giày da các loại.
Làng nghề có sự phát triển rất sơi động, đạt doanh thu rất cao:
- Từ 20 tỷ đồng đến 35 tỷ đồng có 7 làng nghề ( mộc Chàng Sơn, cơ khí
Vĩnh Lộc, làng Hữu Bằng).
- Từ 36 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng có 2 làng( làng chế biến nơng sản Cát
Quế, Dương Liễu).
- Từ 50 tỷ đồng trở lên có 2 làng( Làng chế biến nơng sản thực phẩm
Minh Khai, dệt La Phù ).
Những làng nghề truyền thống phát triển mạnh tiêu biểu như làng nghề chế
tác tượng Sơn Đồng, làng nghề sơn mài Hạ Thái. Làng nghề chế tác tượng ở
Sơn Đồng( Hồi Đức) có truyền thống gần 10 thế kỷ. Sản phẩm tượng và đồ thờ
của Sơn Đồng hiện nay chiếm 60% thị phần trong nước. Nhờ phát triển nghề
truyền thống, người dân Sơn Đồng có việc làm quanh năm với mức thu nhập cao
và ổn định. Làng nghề Hạ Thái, xã Dun Thái( Thường Tín) là một làng nghề
sơn mài truyền thống với lịch sử phát triển hơn 200 năm. Hạ Thái hiện có 744
hộ( 2.674 nhân khẩu), trong đó hơn 80% số hộ tham gia phát triển nghề và hơn
70% thu nhập của người dân dựa vào phát triển nghề truyền thống. Sản phẩm
sơn mài Hạ Thái chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Mỹ, Đức
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét