Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

36 Phương hướng và giải pháp tăng cường tính hiệu lực đối với các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước

3.2.2 Giải pháp tăng cờng hiệu lực kiến nghị của KTNN phải phù
hợp với hệ thống pháp luật về KTNN và môi trờng pháp lý
chi phối và tác động đến hoạt động kiểm toán của KTNN



086
3.2.3 Giải pháp tăng cờng hiệu lực kiến nghị của KTNN phải thực
hiện đồng bộ với giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ
máy, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực, Quy trình, phơng
pháp kiểm toán và nâng cao chất lợng hoạt động kiểm toán




086
3.2.4 Giải pháp tăng cờng hiệu lực kiến nghị của KTNN phải phù
hợp với chủ chơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc về
quá trình dân chủ hoá, công khai tài chính của các cơ quan,
các tổ chức kinh tế Nhà nớc và công khai kết quả kiểm toán



087
3.3
Các giải pháp tăng cờng hiệu lực kiến nghị của KTNN
088
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cờng địa vị
pháp lý của KTNN


088
3.3.2 Giải pháp nâng cao chất lợng kiểm toán của KTNN 097
3.3.3 Giải pháp nâng cao chất lợng lập Báo cáo cáo kiểm toán và
chất lợng của các kiến nghị kiểm toán


103
3.3.4 Giải pháp quy định chế tài xử lý đối với các sai phạm đợc
phát hiện trong quá trình kiểm toán của KTNN


105
3.3.5 Giải pháp xây dựng quy trình kiểm tra việc thực hiện kiến
nghị của KTNN


108
3.3.6 Giải pháp phát triển các loại hình kiểm toán hoạt động, kiểm
toán tuân thủ và kiểm toán dự toán


112
3.3.7 Giải pháp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về kinh tế
- tài chính của Chính phủ, Quốc hội, các Bộ ngành và các cấp
chính quyền địa phơng



115
3.3.8 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 116
3.3.9 Giải pháp phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào
hoạt động kiểm toán của KTNN


118
3.3.10 Giải pháp hội nhập và hợp tác quốc tế về hoạt động KTNN 119
3.4

Điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu lực kiến
nghị của KTNN


212
3.4.1 Điều kiện về tổ chức, cơ chế hoạt động đối với bản thân cơ
quan KTNN


212
3.4.2 Đối với Quốc Hội, Chính phủ, các Bộ ngành và Hội đồng
nhân dân các cấp


124

Kết luận
129

4
Mở đầu

Cơ quan Kiểm toán Nhà nớc (KTNN) ra đời và phát triển đã 10 năm,
xét trên cả hai mặt cơ chế tổ chức và chất lợng hoạt động, đã có những bớc
phát triển rất lớn. Tuy nhiên vẫn còn nhiều yếu tố cản trở quá trình phát triển
của cơ quan KTNN. Trớc hết đó là nhận thức cha đầy đủ và đúng đắn về
vai trò của KTNN trong chế nhà nớc pháp quyền CNXH, với tính chất là cơ
quan kiểm tra tài chính công cao nhất của nhà nớc. Bản thân KTNN do địa vị
pháp lý và quyền hạn, tính độc lập cha đúng tầm và còn nhiều yếu tố khác
cản trở nảy sinh ngay trong hoạt động của KTNN nh chất lợng kiểm toán,
các tiêu cực phát sinh trong quá trình kiểm toán Những tác động của các
nhân tố này làm ảnh hởng đến hiệu lực hoạt động của KTNN, làm cho hiệu
lực các kiến nghị của KTNN đối với các cuộc kiểm toán không đợc tôn trọng
thực hiện một cách đầy đủ, kịp thời. Theo chúng tôi đây là vấn đề cơ bản và là
điểm mấu chốt cần phải giải quyết hiện nay để nâng cao uy tín và hiệu quả
hoạt động của KTNN. Vấn đề này nếu đợc giải quyết tốt sẽ làm cơ sở để đổi
mới, phát triển cơ quan KTNN cả về tổ chức và chất lợng hoạt động trong
những năm tới.
Để xây dựng cơ sở khoa học và các giải pháp cho việc nâng cao hiệu lực
các kiến nghị của KTNN đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc sử
dụng tài chính công, đề tài khoa học cấp Bộ "Phơng thức và giải pháp tăng
cờng tính hiệu lực đối với các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nớc" đã đợc
Tổng KTNN ra quyết định nghiên cứu trong kế hoạch khoa học công nghệ
năm 2003. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giải
quyết cơ sở lý luận và thực tiễn đối với việc đa ra các giải pháp nâng cao hiệu
lực các kiến nghị của KTNN và điều này sẽ có những tác động tiếp theo để
giúp cho KTNN cải biến tích cực đối với toàn bộ quá trình hoạt động của mình.
1. Mục đích của đề tài
- Xây dựng các cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn để tăng cờng hiệu
lực các kiến nghị của KTNN.
- Xây dựng các phơng pháp, cách thức tác động thích hợp nhất để bảo
đảm những kiến nghị của cơ quan KTNN đối với các đối tợng có liên quan

5
đợc thực hiện một cách đầy đủ nhất với hiệu lực và tính khả thi cao nhất.
Mục đích lớn nhất mà đề tài đặt ra nhằm bảo đảm các nguồn lực tài chính
công đợc sử dụng tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất. Ngăn chặn có hiệu quả
tình trạng tham ô, lãng phí và sử dụng kém hiệu quả các nguồn vốn của nhà
nớc hiện nay.
- Giải quyết các mối quan hệ giữa kiến nghị của cơ quan KTNN với quá
trình Kiểm toán nói riêng và mối quan hệ với các đối tợng kiểm toán với
Chính phủ, Quốc hội.
2. Đối tợng nghiên cứu
- Phơng thức và giải pháp tăng cờng tính hiệu lực các kiến nghị của
KTNN trong các cuộc Kiểm toán.
- Kết quả kiểm toán và các kiến nghị của KTNN sau hơn 10 năm hoạt động.
- Các mối quan hệ liên quan đến kiến nghị của KTNN.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Các hoạt động và các kiến nghị của KTNN trong lĩnh vực tài chính công.
- Phơng thức và giải pháp thực hiện và duy trì quyền lực của KTNN
trong các kiến nghị của tổ chức các cơ quan KTNN tối cao INTOSAI,
ASOSAI và KTNN một số quốc gia khác trên thế giới.
4. Phơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng phơng pháp điều tra khảo sát hoạt động KTNN sau hơn 10
năm hoạt động. Phơng pháp phân tích tổng quát và khảo sát chi tiết thực tiễn
về tổ chức và cơ chế hoạt động KTNN.
- Kết hợp phơng pháp điều tra, phân tích với phơng pháp t duy lý luận
theo quan điểm biện chứng để giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài.
5. Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài đợc kết cấu thành 3 chơng:
Chơng I.
Hiệu lực và vai trò các kiến nghị của KTNN đối với việc năng
cao tính kinh tế và tính hiệu quả các hoạt động Tài chính công;
Chơng II.
Thực trạng hiệu lực kiến nghị của KTNN sau 10 năm
hoạt động;
Chơng III.
Phơng thức và giải pháp nâng cao hiệu lực kiến nghị của KTNN.


6
Chơng I
Hiệu lực và vai trò các kiến nghị
của kiểm toán nhà nớc đối với việc nâng cao tính
kinh tế và tính hiệu quả các hoạt động tài chính công

1.1. Hiệu lực kiến nghị và các biện pháp nâng cao hiệu lực các kiến
nghị của Kiểm toán Nhà nớc
1.1.1. Kiến nghị của và các loại kiến nghị của Kiểm toán Nhà nớc
Đối với mọi quốc gia trên thế giới, KTNN là một cơ quan chuyên môn có
chức năng kiểm tra, giám sát một cách độc lập quá trình hoạt động tài chính
công trong thiết chế tổ chức của một Nhà nớc pháp quyền. Phần lớn các
Quốc gia trên thế giới, KTNN là cơ quan hoạt động độc lập với Chính phủ (cơ
quan hành pháp) và hoàn toàn độc lập với các cơ quan, đơn vị, tổ chức (gọi tắt
là đơn vị) quản lý, điều hành và sử dụng tài chính công. Một số nớc KTNN
không những độc lập với Chính phủ mà còn độc lập với cả Quốc hội; có cả
chức năng phán quyết của toà án nh Toà thẩm kế (KTNN) của Pháp, Cộng
hoà Liên bang Đức Bên cạnh đó tại một số quốc gia nh Nhật Bản, Trung
Quốc thì KTNN là cơ quan kiểm tra, kiểm soát, giám sát tài chính công đặt
ở Chính phủ nhng hoàn toàn độc lập với Chính phủ. KTNN Việt Nam do mới
ra đời và do đặc thù về thể chế Nhà nớc ta nên hiện tại vẫn là cơ quan thuộc
Chính phủ và hoạt động dựa trên các văn bản pháp lý là Nghị định 70/CP
trớc đây và nghị định 93/2003/NĐ- CP của Chính phủ hiện nay. KTNN của
Việt Nam đợc đánh giá là cơ quan có tính độc lập còn khá khiêm tốn trong
các cơ quan KTNN trên thế giới.
Mục đích hoạt động của KTNN các Quốc gia trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng là nhằm bảo đảm việc quản lý, điều hành và sử dụng tài
chính công tại các đơn vị thực hiện đúng pháp luật, đúng mục đích, đạt lợi ích
và hiệu quả cao nhất có thể. Bên cạnh đó KTNN còn có chức năng phát hiện
các sai phạm; những bất hợp lý của các quyết định, văn bản pháp luật đã ban
hành của các cơ quan Nhà nớc về điều chỉnh các hoạt động tài chính công

7
của Nhà nớc, đa ra các kiến nghị đối với các cơ quan chức năng Nhà nớc,
Chính phủ, Quốc hội để xử lý các sai phạm hoặc điều chỉnh sửa đổi các văn
bản quy phạm pháp luật, các quyết định đã ban hành.
Các chức năng cơ bản của KTNN các quốc gia trên thế giới gồm
- Giám sát một cách độc lập các hoạt động tài chính công của nhà nớc.
Bất kỳ một cơ quan, đơn vị, tổ chức nào có sử dụng tài chính công đều phải
chịu sự giám sát thờng xuyên của KTNN.
- Kiểm tra xác nhận mức độ đúng đắn, mức độ trung thực hợp lý các Báo
cáo tài chính, Báo cáo quyết toán hàng năm của các đơn vị sử dụng tài chính
công để làm cơ sở cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phê duyệt ngân
sách hàng năm; giúp cho Chính phủ, các cơ quan chức năng, các cấp chính
quyền địa phơng quản lý, điều hành và sử dụng tài chính công một cách
đúng hớng, đúng pháp luật và đạt hiệu quả.
- KTNN thông qua hoạt động kiểm toán của mình để đánh giá tính kinh
tế, tính hiệu qủa, tính hiệu lực và sự tuân thủ pháp luật đối với các đơn vị sử
dụng tài chính công đợc kiểm toán.
- KTNN thực hiện chức năng thẩm định, đánh giá các dự toán của các đề
án đầu t XDCB, các chơng trình mục tiêu Quốc gia trớc khi trình Quốc
hội, Hội đồng Nhân dân các cấp phê duyệt để đa vào thực hiện.
- KTNN là cơ quan thực hiện chức năng t vấn cho Quốc hội, Chính phủ
về các Quyết định, các văn bản pháp luật có liên quan đến điều chỉnh đúng
đắn có hiệu quả các quan hệ tài chính công.
Chức năng KTNN Việt Nam hiện nay theo Nghị định 93/2003/NĐ- CP
của Chính phủ, chủ yếu là kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp các số
liệu trên các Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán về tính kinh tế, tính tuân
thủ pháp luật của việc sử dụng tài chính công.
Trong quá trình thực hiện các chức năng nói trên nếu phát hiện các sai
phạm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân làm thiệt hại và có khả năng làm thiệt
hại tài chính công nh tham ô, lãng phí, sử dụng tài chính không đúng mục
đích, không tuân thủ pháp luật KTNN sẽ đa ra kiến nghị xử lý các cá

8
nhân, tổ chức có liên quan nói trên cho Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan chức
năng, chính quyền địa phơng các cấp xử lý hoặc ngăn chặn các sai phạm trên.
1.1.1.1. Bản chất các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nớc đợc hiểu nh sau
Kiến nghị của KTNN trên giác độ chung về thực chất là một phần chức
năng quan trọng của KTNN với t cách là cơ quan kiểm tra tài chính công cao
nhất của Nhà nớc.
Nếu xét theo quá trình kiểm toán thì các kiến nghị của KTNN là một nội
dung cơ bản trong Báo cáo kiểm toán của KTNN, là sản phẩm của quá trình
kiểm toán nhằm góp phần ngăn chặn các sai phạm, các hiện tợng tham
nhũng, lãng phí và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực tài chính công trong
các đơn vị thuộc phạm vi của KTNN.
- Đứng trên quan điểm, lập trờng của một tổ chức thì kiến nghị của
KTNN thể hiện quan điểm, lập trờng của cơ quan KTNN về kết quả kiểm toán.
- Đứng trên giác độ quyền hạn của một cơ quan công quyền thì kiến nghị
của KTNN là một quyền hạn quan trọng của cơ quan KTNN. KTNN không
phải là một cơ quan chức năng quản lý, điều hành các hoạt động của Nhà nớc
với tính cách là một cơ quan hành pháp, T pháp hoặc lập pháp. KTNN không
thực hiện việc xử lý các sai phạm nhng đa ra kiến nghị để các cơ quan chức
năng thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp hoặc T pháp xử lý các sai phạm
theo kiến nghị của KTNN. Về nguyên tắc, các kiến nghị của KTNN phải đợc
các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan tôn trọng thực hiện. Nếu
không thực hiện hoặc trì hoãn thực hiện thì phải nêu rõ lý do. Cơ quan KTNN
nếu xét thấy lý do không hợp lý, hợp pháp thì tiếp tục yêu cầu cơ quan, đơn vị,
tổ chức hay cá nhân đó thực hiện kiến nghị của mình hoặc kiến nghị lên cấp
cao hơn đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân đó. Thậm chí, KTNN có quyền
công khai các kiến nghị của mình trớc công chúng nếu thấy việc công khai là
cần thiết.
1.1.1.2. Các loại kiến nghị của KTNN
Dựa vào các chức năng của KTNN có các loại kiến nghị sau
Thứ nhất, kiến nghị về xử lý các sai phạm phát hiện trong quá trình kiểm
toán. Đây là dạng kiến nghị phổ biến nhất đợc hình thành từ kết quả kiểm

9
toán mà KTNN thực hiện. Những sai phạm nh tham ô, biển thủ tài sản công,
sử dụng lãng phí, kém hiệu quả các nguồn lực tài chính công của cá nhân, tổ
chức có liên quan sẽ đợc KTNN kiến nghị xử lí bằng văn bản cho các cơ
quan chức năng, cấp trên trực tiếp của cá nhân hay tổ chức có sai phạm nêu
trên. Những kiến nghị loại này sau một thời gian nhất định (đợc ghi trong
văn bản) KTNN sẽ kiểm tra lại để xem cá nhân hay tổ chức liên quan có tôn
trọng hay không. Hình thức của kiến nghị bao gồm:
+ Đề nghị xử lý kỷ luật: cảnh cáo, thay đổi công tác, cách chức, truy tố
trớc pháp luật; yêu cầu thu hồi các khoản tiền tham ô, lãng phí, chi không
đúng chế độ của các cá nhân, tổ chức liên quan.
+ Kiến nghị các cơ quan, tổ chức cá nhân chấm dứt hoặc ngăn chặn
những hoạt động về sử dụng tài chính công trái với các qui định của pháp luật,
hoạt động có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích nhà nớc.
Thứ hai, các kiến nghị về chấn chỉnh chế độ kế toán, tài chính, tổ chức
nhân sự, cơ chế hoạt động, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đợc kiểm
toán nhằm đảm bảo cho các đơn vị này quản lý, sử dụng tài chính công tiết
kiệm và có hiệu quả hơn. Các đơn vị sau khi nhận đợc kiến nghị của KTNN
sẽ đa ra các quyết định, giải pháp thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện về
cho cơ quan KTNN. KTNN sẽ thực hiện kiểm tra lại sau khi nhận đợc các
báo cáo này.
Thứ ba, các kiến nghị có tính chất t vấn cho Quốc hội, Chính phủ, các
Bộ ngành, Hồi đồng nhân dân và chính quyền nhân dân các cấp. Những kiến
nghị này của KTNN có liên quan đến việc các cơ quan nói trên điều chỉnh
chiến lợc phát triển; vấn đề đối nội, đối ngoại; việc ban hành các quy định, các
văn bản pháp luật có liên quan đến điều hành, quản lý và sử dụng tài chính công.
Thứ t, các loại kiến nghị yêu cầu các cá nhân, tổ chức đang điều hành,
quản lý và sử dụng tài chính công phải tôn trọng thực hiện các quy định, quy
phạm pháp luật của Nhà nớc, tôn trọng thực hiện quyền dân chủ của nhân
dân trong lĩnh vực hoạt động tài chính công.

10
Thứ năm, các kiến nghị của KTNN đối với Quốc hội, Chính phủ, các Bộ
ngành, các cấp chính quyền địa phơng liên quan đến việc nâng cao địa vị
pháp lý, chức năng, quyền hạn của cơ quan KTNN. Đây là những kiến nghị
về chính bản thân cơ quan KTNN để đảm bảo cho KTNN luôn hoạt động và
phát triển đạt hiệu quả cao nhất.
Dựa vào loại kiến nghị xử lí trên các Báo cáo kiểm toán có các loại sau
- Kiến nghị về điều chỉnh, sửa đổi báo cáo tài chính.
- Kiến nghị xử lí các hành vi vi phạm chế độ tài chính và xuất toán khỏi
quyết toán; giảm trừ cấp kinh phí năm sau
- Kiến nghị xử lí các sai phạm của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến
việc tham ô, lãng phí tài chính công.
- Kiến nghị có tính chất t vấn cho quốc hội, Chính phủ về các vấn đề
liên quan đến hoạt động hoặc điều chỉnh tài chính công.
Dựa vào loại hình kiểm toán
- Các kiến nghị trong kết quả kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo
quyết toán.
- Các kiến nghị trong kết quả kiểm toán hoạt động.
- Các kiến nghị trong kết quả kiểm toán tuân thủ.
- Các kiến nghị trong kết quả kiểm toán thẩm địng các đầu t dự toán
(kiểm toán trớc).
1.1.2. Khái niệm về hiệu lực của các kiến nghị kiểm toán
Khoa học quản lý hiện đại đã khẳng định rằng: để đánh giá một tổ chức,
một cơ quan, một doanh nghiệp thì ngời ta thờng xem xét 3 tiêu chí: hiệu
quả hoạt động, hiệu lực mà kết quả hoạt động đem lại và hiệu năng của bộ
máy quản lý.
KTNN muốn trở thành một công cụ hữu hiệu và quan trọng trong kiểm
soát vĩ mô nền kinh tế, một công cụ mạnh của Nhà nớc pháp quyền XHCN
Việt Nam thì một trong những vấn đề đầu tiên phải chú trọng là nâng cao hiệu
lực của các kết luận và kiến nghị kiểm toán.


11
Vậy thuật ngữ hiệu lực là gì ?
Đại từ điển bách khoa Nhà xuất bản giáo dục đã nêu: một hiệu lực bao
gồm 2 nội hàm: một là chỉ Tác dụng đích thực
(nh hiệu lực của lời nói, hoặc
thuốc này rất có hiệu lực), hai là chỉ giá trị thi hành của một văn bản, một
quyết định (nh văn bản này đã hết hiệu lực, văn bản khác vẫn còn hiệu lực).
Nh vậy, thuật ngữ hiệu lực chỉ khả năng thực thi, tác dụng có thật và
cụ thể của lời nói, kiến nghị, kết luận; nói nh vậy cũng có nghĩa là: hiệu
lực là một hiện thực, là kết quả cụ thể mà kết luận, kiến nghị đa lại, làm
cho đời sống hiện thực bị tác động và phát triển theo chiều hớng tích
cực hơn.
Hiệu lực các kiến nghị của KTNN về thực chất là mức độ tôn trọng thực
hiện của các cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân có liên quan đối với các ý kiến,
quan điểm xử lý các sai phạm mà cơ quan KTNN phát hiện trong quá trình
kiểm toán, nhằm bảo đảm cho các hoạt động tài chính công đợc thực hiện
tuân thủ luật pháp, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả.
Hiệu lực các kiến nghị của KTNN là một phần quyền lực quan trọng của
KTNN và cần phải đợc quy định trong văn bản pháp luật cao nhất của mỗi
quốc gia nh Hiến pháp, luật KTNN.
Hiệu lực các kiến nghị của KTNN xác lập giá trị của KTNN đối với nền
kinh tế và thể hiện trên các tiêu chí
sau:
- Khẳng định giá trị pháp lý và khẳng định quyền lực của cơ quan KTNN
cũng nh kết quả hoạt động của cơ quan này trong thiết chế nhà nớc pháp
quyền, nhà nớc dân chủ, nhà nớc do dân và vì dân;
- Xác lập và tăng cờng điạ vị pháp lý của cơ quan KTNN;
- Là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện về tổ chức và cơ chế hoạt động của
cơ quan KTNN, nâng cao chất lợng các cuộc kiểm toán và hoạt động của KTNN;
- Thông qua việc thực hiện các kiến nghị của KTNN để bảo đảm các
nguồn lực tài chính công đợc quản lý, điều hành và sử dụng có hiệu quả hơn;
ngăn chặn các tệ nạn tiêu cực trong việc sử dụng tài chính công nh tham ô,
lãng phí, sử dụng sai mục đích, không tuân thủ pháp luật đối với các cá nhân,
tổ chức có liên quan đến tài chính công.

12
Hiệu lực đã hàm ý cải tạo, thay đổi; cách tân hiện thực.
Kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán của KTNN sẽ có hiệu lực
khi nó hớng vào sự khẳng định và tôn vinh cái đúng, tôn vinh những quan hệ
tài chính lành mạnh, phê phán những vi phạm, sai sót , lầm lẫn, chỉ ra cách cải
tiến, đổi mới, theo chiều hớng tiến bộ. Kết luận, kiến nghị của KTNN sẽ tỏ
rõ hiệu lực khi nó giúp tăng cờng kỷ luật tài chính, xây dựng nền nếp quản lý
khoa học và củng cố trật tự, kỷ cơng trong quản lý và điều hành nền tài
chính công.
Kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán của KTNN là căn cứ để
đánh giá , xác nhận thực trạng tài chính của đơn vị đợc kiểm toán và nó phải
có giá trị thi hành trong thực tiễn.
Nh thế pháp lý đảm bảo về mặt "thế năng
" cho hiệu lực các kiến nghị
của KTNN, còn bản thân chất lợng hoạt động kiểm toán sẽ tạo ra "động

năng
", tạo ra hiện thực- sự chuyển động theo hớng tích cực của hoạt động tài
chính công - đối tợng thờng xuyên của KTNN.
Trong khái niệm về kiểm toán hoạt động
, thuật ngữ tính hiệu lực trên có
quan hệ hữu cơ với tính hiệu quả, tính kinh tế và hiệu năng của bộ máy quản
lý. Trong khái niệm Hiệu lực của kết luận, kiến nghị kiểm toán
thì thuật ngữ
hiệu lực có quan hệ hữu cơ với hiệu quả, hiện năng và tính thực thi trong hiện
thực của nó, hay nói khác đi, là tính hành động hớng tới sự tiến bộ trong
quản lý, trong hoạt động của đơn vị đợc kiểm toán.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu lực kiến nghị của
Kiểm toán Nhà nớc
Nâng cao hiệu lực kiến nghị của KTNN thực chất nhằm vào việc sẽ làm
sao để Quốc hội, Chính Phủ, các đơn vị đợc kiểm toán và nhân dân thấy đợc
tác dụng của kiểm toán trong việc nâng cao hiệu qủa và chất lợng của các
hoạt động có sử dụng nguồn lực công, từ đó góp phần lành mạnh hoá các quan
hệ tài chính.
Giải pháp này còn hớng vào việc hoàn thiện tổ chức, hoạt động của
KTNN, nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ Kiểm toán viên Nhà

13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét