Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu Maritime Bank trở thành thương hiệu mạnh

Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

* Khả năng huy động vốn
Do nhu cầu vốn hoạt động từ các khách hàng một số năm gần đây khá lớn, nên các
NHTMCP đã đưa ra nhiều chính sách khuyến mãi để huy động vốn, sự cạnh tranh nhìn
chung là khá quyết liệt và nguồn vốn gia tăng liên tục qua các năm. Tuy nhiên, có thể
thấy là các NHTMCPVN vẫn chủ yếu sử dụng công cụ giá thấp để huy động vốn. Một
số NHTMCP cũng sử dụng biện pháp mở rộng chi nhánh để tiến gần hơn tới khách
hàng. Tuy nhiên, việc mở chi nhánh hiện nay là khá ồ ạt, chưa thực sự tính đến hiệu quả,
gây khó khăn cho công tác quản trị, gia tăng rủi ro. Như vậy, với đối sách tăng lãi suất
để huy động vốn ít nhiều sẽ làm suy giảm lợi nhuận của các NHTMCP.
* Khả năng đầu tư tín dụng
Do nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế tăng cao, dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín
dụng của các NHTMCP rất lớn, dư nợ cho vay tăng rất mạnh một số năm gần đây. Cụ
thể: Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của các NHTMCP khoảng trên 25%/năm, cá
biệt có những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tới 30 - 40%/năm. Một mức tăng trưởng
quá cao, vượt xa mức trung bình của NHTMCP các nước trong khu vực (Hầu hết ngân
hàng các nước trong khu vực đều có mức tăng trưởng tín dụng dưới 10%. Trung Quốc
mức tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 20%/năm so với mức tăng trưởng GDP bình quân
trên 10%/năm). Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng cao diễn ra trong khoảng thời gian khá dài,
đi đôi với năng lực quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế trong môi trường kinh doanh đầy
biến động có thể dẫn đến nguy cơ rủi ro tín dụng tăng cao.
* Khả năng mở rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ
- Về thanh toán nội địa: Thanh toán bằng tiền mặt có xu hướng ngày càng giảm
xuống, nhưng nhìn chung vẫn còn lớn. Các NHTMCPVN đã tích cực áp dụng các phần
mềm trong giao dịch thanh toán, tuy nhiên, do tính liên kết giữa các ngân hàng chưa cao
nên đã dẫn tới những bất cập nhất định trong triển khai các phần mềm trong quản lý.
Những năm gần đây các NHTMCPVN đã triển khai mạnh nghiệp vụ thanh toán thẻ,
nhưng hiện cũng chỉ có khoảng gần 50 thương hiệu thẻ, với hơn 1.000 máy ATM với
khoảng gần 1,5 triệu thẻ. Triển vọng đầu tư phát triển dịch vụ này sẽ còn khó khăn nếu
không tăng vốn tự có cho các NHTMCP, nhưng việc tăng vốn tự có vẫn rất nan giải.
- Nghiệp vụ kinh doanh hối đoái: Do thị trường hối đoái của Việt nam chưa phát
triển, các công cụ phái sinh (Swap, Forword, Option, Future) hoạt động không thật sự
hiệu quả nên thực tế một số NHTMCPVN những năm qua đã thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh hối đoái nhưng rủi ro rất lớn.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
5
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

* Khả năng công nghệ
Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin
có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động của ngân hàng. Nhưng đây là một lĩnh vực đòi
hỏi sự đầu tư rất lớn, ví dụ như để xây dựng hệ thống thông tin quản lý cho một
NHTMCP như Techcombank cần phải chi phí tới 500 - 600 tỷ đồng VND. Đây cũng
chính là bất cập đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam do qui mô vốn điều lệ thấp.
Nhìn tổng thể thì công nghệ của các NHTMCPVN còn nhiều yếu kém so với các
ngân hàng nước ngoài. Theo ngân hàng thương mại thế giới (WB) , công nghệ trong lĩnh
vực ngân hàng ở Việt nam vẫn còn ở mức thấp. Chỉ số công nghệ ngân hàng ở Việt Nam
mới chỉ là (-0,47). Trong khi ở Thái Lan (-0,07), Indonexia (-0,07), Malaysia là 1,08 và
của Singapore là 1,95. Tính liên kết giữa các ngân hàng về giải pháp công nghệ chưa
cao… dẫn đến các dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi và hấp dẫn, phạm vi kinh
doanh trùng với lĩnh vực hoạt động có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài (về hoạt
động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư dự án,…).Tuy nhiên với sự phát triển
của công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ mạng và kỹ thuật số tạo nền tảng cho sự
phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, tự động, như: Home Banking, Internet
Banking, thẻ thanh toán, giao dịch điện tử… nhờ đó góp phần tích cực làm văn minh hoá
hoạt động ngân hàng nhưng hiện nay an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng của Việt
Nam còn rất nhiều lỗ hổng.
* Khả năng phát triển thương hiệu
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống con người ngày càng được nâng
cao thì sự cạnh tranh về thương hiệu sẽ ngày càng mạnh mẽ. Bản chất thương hiệu chính
là uy tín về chất lượng dịch vụ mà một ngân hàng sẵn sàng cung ứng cho xã hội. Xét về
mặt này thì các NHTMCPVN đã có sự đầu tư lớn trong những năm gần đây, cải thiện
đáng kể hình ảnh các ngân hàng dưới con mắt công chúng và xây dựng niềm tin đối với
khách hàng. Nhưng so với các NHTMNN thì uy tín của các NHTMCP vẫn còn thấp nên
khi mở cửa thị trường, các NHTMCP sẽ bị cạnh tranh rất gay gắt ngay trên “sân nhà”
bởi chưa có sự chuẩn bị thật tốt về mọi mặt và sẽ càng thua kém các ngân hàng nước
ngoài khi có ý định vươn ra thị trường quốc tế.
* Khả năng chống đỡ rủi ro
Rủi ro tín dụng lớn, nhất là vấn đề nợ xấu vẫn còn hiện hữu. Nguy cơ tiếp tục phát
sinh nợ quá hạn là khá cao do nhiều dự án đầu tư chưa được kiểm định chặt chẽ về tính
hiệu quả. Với tỷ trọng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn vẫn chiếm
khoảng 75%, nguy cơ sai lệch về cơ cấu thời hạn trong bảng cân đối tài sản của hệ thống
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
6
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

NHTMCP là tương đối lớn. Nguy cơ này có thể tăng trong bối cảnh các NHTMCP có
thể sử dụng tới 25-30% tổng huy động vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Rủi ro
tín dụng có thể tăng còn do thu nhập của các NHTMCP chủ yếu dựa trên nguồn thu từ
chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Trong khi đó phần lớn các khoản vay
lại được thế chấp bằng bất động sản, trong khi thị trường bất động sản biến động mạnh.
Các khoản vay được thế chấp chứng khoán tuy có tỷ trọng chưa lớn song cũng đáng lo
ngại khi năng lực của các nhà đầu tư cá nhân còn thấp và thị trường chứng khoán vẫn
tiềm ẩn nhiều yếu tố gây biến động lớn về giá cả. Bên cạnh đó thì các NHTMCPVN
chưa thực sự quan tâm đến công tác quản trị rủi ro.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các NHTMVN
*Môi trường kinh tế
Kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và tốc độ tăng trưởng tương đối cao so
với các nước trong khu vực. Năm 2005 tốc độ tăng trưởng là 8,4%; năm 2006 là 8,17%,
năm 2007 là 8,68%, đến năm 2008, 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế
giới nên tốc độ này giảm xuống còn 6,2% vào năm 2008 và 5,3% vào năm 2009. Nhưng
đến cuối năm 2009 kinh tế đã có những dấu hiệu khôi phục và dự kiến đạt mức tăng
trưởng 6,5% vào năm 2010. Bên cạnh đó thì GDP bình quân đầu người cũng luôn tăng
trưởng mức ổn định, từ năm 2005- 2007 luôn đạt trên 8%. Năm 2008, 2009 dự báo GDP
bình quân đầu người tăng 6,5 % nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu nên tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, thực tế GDP bình quân đầu người năm 2008
chỉ tăng 6,23% và năm 2009 tăng 5,32%. Tuy vậy con số này sẽ được cải thiện đáng kể
trong những năm tới khi nền kinh tế đang dần được phục hồi. Đây là những dấu hiệu tốt,
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường tài chính tiền tệ trong đó bao gồm các
hoạt động của các NHTMVN.
Hiện nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO cùng với sự
hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ thì trong những năm tới khả năng thu hút vốn đầu tư
trong và ngoài nước tăng nhanh, phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và kinh doanh lĩnh vực tài chính, ngân hàng
nói riêng. Năm 2008 vốn FDI đạt mức kỷ lục 64,01 tỷ USD, đến năm 2009 do ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính thu hút vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt 21,48 tỷ USD
bằng 30% năm 2008 nhưng vẫn là một kết quả khả quan vì đã vượt mức kế hoạch đề ra
ban đầu là 20 tỷ USD.

Chuyên Đề Tốt Nghiệp
7
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

*Môi trường chính trị, luật pháp
Nước ta luôn có tình hình chính trị ổn định, đó là một điều kiện thuân lợi thu hút
vốn đầu tư để phát triển kinh tế nói chung và lĩnh vực kinh hoạt động tài chính nói riêng
trong thời gian tới.
Hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại nhằm giảm thiểu những yếu kém của hệ
thống và những sai lệch trong chính sách tín dụng. Chương trình cơ cấu lại tập trung vào
việc lành mạnh hóa và tăng cường năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng. Hoạt
động tín dụng đã được đổi mới theo hướng các tổ chức tín dụng có quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong quyết định cho vay, lựa chọn khách hàng và biện pháp đảm bảo tiền
vay trên nguyên tắc thương mại, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Các nguyên tắc quản lý
tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát,
… đã và đang được thể chế hóa và ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tế. Các thể chế về
quản trị doanh nghiệp đang được hoàn thiện từng bước.
Khung pháp luật cũng đang ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ
quốc tế. Luật NHNN và luật của các tổ chức tín dụng được bổ sung, sửa đổi từ ngày
1/8/2003 và 1/10/2004. Một loạt các hệ thống văn bản dưới luật cũng được ban hàng
như: NĐ số 64/2001/CP về quy chế thanh toán của các tổ chức có dịch vụ thanh toán;
QĐ 1627/2001/NHNN về quy chế cho vay đối với các tổ chức tín dụng; chiến lược phát
triển dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006-2010 đã được thống đốc NHNN phê duyệt ngày
19/8/2005 góp phần hoàn thiện khuôn khổ thể chế dịch vụ ngân hàng.
*Môi trường văn hoá, xã hội
Việt Nam là một nước có dân số tương đối đông khoảng 86 triệu dân ( số liệu năm
2009) với tốc độ tăng trưởng dân số ở mức tương đối cao 0.2%/năm. Đồng thời là một
nước có cơ cấu dân số trẻ nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ của ngân hàng rất lớn, trong
đó theo số liệu thống kê có tới 50% dân cư có mức thu nhập từ trung bình trở lên chưa
có tài khoản ngân hàng. Đây là một cơ hội phát triển lớn nếu các ngân hàng biết khai
thác tốt mảng thị trường này.
Ngày nay con người cũng trở nên chuyên môn hoá, hiện đại hoá hơn trong công
việc: hệ thống lương, các hoạt động giao dịch kinh doanh liên quan đến tiền hầu hết đều
được thực hiện thông qua dịch vụ tài khoản tại các ngân hàng. Khi cuộc sống của con
người ngày càng được nâng cao thì việc mua sắm và giải trí, du lịch …ngày càng nhiều
và để đảm bạo sự tiện lợi, an toàn thì việc sử dụng các dịch vụ thẻ của ngân hàng cũng
ngày càng ra tăng.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
8
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

*Môi trường kỹ thuật, công nghệ
Ngày nay đang bùng nổ thời đại công nghệ thông tin và ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật. Đối với hoat động kinh doanh ngân hàng thì công nghệ có ảnh hưởng rất lớn,
bởi công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến các dịch vụ của ngân hàng. Cơ sơ vật chất, trang
thiết bị hiện đại sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng hoạt động, phát triển dịch
vụ mới, cắt giảm chi phí tới mức tối đa.
Hiện nay công nghệ ngân hàng đang được hiện đại hoá nhanh chóng. Hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng tính đến năm 2008 đã có gần 100 chi nhánh với 50
thành viên tham gia. Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử cũng đã được chính thức vận
hàng và thay thế hoàn toàn việc trao đổi trực tiếp chứng từ, nhờ đó rút ngắn thời gian
chuyển tiền và đảm bảo độ an toàn, chính xác cao. Bên cạnh đó nhiều ứng dụng tin học
được đưa vào hoạt động như: dịch vụ thẻ ATM, Home Banking, Mobile Banking,
Internet Banking…Gần đây ngày 28/2/2009 NHNN đã tổ chức lễ khai trương hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn II, đây có thể coi là hệ thống thanh toán
xương sống của quốc gia. Như vậy có thể thấy ứng dụng công nghệ ngân hàng ngày
càng phát triển, đây là cơ hội để các ngân hàng hiện đại hoá các nghiệp vụ, nâng cao
chất lượng dịch vụ, thoả mãn tốt nhất mong muốn của khách hàng.
1.2. Tổng Quan Về Maritime Bank
1.2.1. Giới thiệu về Maritime Bank
1.2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
* Sự ra đời và quá trình phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam (NHTMCPHH) có tên giao
dịch Quốc tế là Vietnam Commercial Stock Bank (viết tắt là MSB hoặc Maritime Bank)
chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 12/07/1991 Ngân hàng TMCP Hàng Hải chính
thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố cảng Hải Phòng. Maritime Bank đã
trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam. Bước
đi táo bạo này đã khiến Maritime Bank trở thành mô hình tiêu biểu cho các doanh nghiệp
đổi mới nhanh nhạy khi Việt Nam đang từng bước chuyển mình sang nền kinh tế thị
trường.
Nhìn lại chặng đường phát triển từ 1997 - 2000 là giai đoạn thử thách, cam go
nhất của Maritime Bank. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á,
ngân hàng đã gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy, bằng nội lực và bản lĩnh của mình,
Maritime Bank đã dần lấy lại trạng thái cân bằng và phát triển mạnh mẽ từ năm 2005.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
9
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

Tháng 8/2005, thời điểm Maritime Bank quyết định chuyển Hội sở từ Hải Phòng
lên Hà Nội, đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của ngân hàng trong việc xác định
hướng đi cho một giai đoạn mới: mở rộng đối tượng khách hàng ra ngoài ngành Hàng
Hải, hướng tới không chỉ các khách hàng doanh nghiệp truyền thống mà còn đặc biệt
quan tâm và phát triển mạng lưới khách hàng cá nhân. Tính từ bước ngoặt đó, các chỉ
tiêu hoạt động cơ bản như tổng tài sản, nguồn vốn huy động, dư nợ tín dụng, lợi nhuận
trước thuế… của Maritime Bank đều tăng gấp đôi qua mỗi năm.
Trong xu thế nâng cao vị thế trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam và hội nhập
môi trường ngân hàng toàn cầu, hiện tại, Maritime Bank đã là thành viên của Hiệp hội
Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Đông Nam Á, Hiệp hội Ngân hàng Châu Á,
Tổ chức Thanh toán Toàn cầu SWIFT, MASTER CARD, Đại lý chuyển tiền nhanh Toàn
cầu Money Gram…
Bên cạnh đó, thương hiệu Maritime Bank cũng ngày càng trở nên quen thuộc với
người tiêu dùng. Những danh hiệu giải thưởng như Doanh nghiệp Dịch vụ được hài lòng
nhất (do độc giả báo Sài Gòn Tiếp thị bình chọn); giải thưởng về Chất lượng dịch vụ
thanh toán quốc tế (do HSBC và Wachovina đánh giá); giải thưởng Thương hiệu mạnh
Việt Nam do Thời báo Kinh tế Việt Nam và Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Thương mại
Việt Nam tổ chức đã góp phần nhấn mạnh thêm điều đó.
Với những tiềm năng sẵn có, Maritime Bank đã được Ngân hàng Thế giới (World
Bank - WB) lựa chọn là 1 trong 6 ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia Dự án Hiện
đại hóa Ngân hàng và Hệ thống thanh toán. Vừa qua, Maritime Bank tiếp tục vượt qua
các đối thủ khác để trở thành ngân hàng thương mại cổ phần duy nhất của Việt Nam
được World Bank tài trợ cho giai đoạn 2 của Dự án trên. Kết thúc giai đoạn này,
Maritime Bank sẽ xây dựng hoàn chỉnh hệ thống Ngân hàng điện tử (e-bank) đạt tiêu
chuẩn Quốc tế nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đáp ứng tối
đa nhu cầu của đông đảo khách hàng.
Sau gần 18 năm hoạt động với bao thăng trầm, Maritime Bank đã ngày càng lớn
mạnh. Đến nay, Maritime Bank đã trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần phát
triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin đối với khách hàng. Với phương châm“Tạo
lập giá trị bền vững!” cho các cổ đông, khách hàng và chính ngân hàng, cùng bề dày
kinh nghiệm, tiềm lực sẵn có và đường hướng hoạt động đúng đắn Maritime Bank đã và
đang không ngừng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, khả
năng quản trị rủi ro để chứng tỏ được bản lĩnh vững vàng, tự tin trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, dù biết rằng phía trước sẽ còn không ít khó khăn, thử thách.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
10
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

* Một số cột mốc đáng nhớ của Maritime Bank
-Ngày 08/06/1991 chính thức thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
-Ngày 12/7/1991:Maritime Bank chính thức khai trương tại thành phố Hải Phòng.
-Thời kỳ 1992 – 1994: Maritime Bank phát triển mạnh việc thực hiện giao dịch qua
hệ thống máy tính nối mạng và là một địa chỉ danh tiếng về chất lượng dịch vụ đặc biệt
là thanh toán quốc tế;
-Năm 1995: tại Hội sở chính Maritime Bank đã thực hiện việc tách riêng Trung
tâm điều hành đảm nhận nhiệm vụ quản lý điều hành hệ thống với hội sở đảm nhận việc
trực tiếp giao dịch, kinh doanh. Đây là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên áp dụng
mô hình tổ chức này.
-Năm 1996: Maritime Bank đã phát triển được mạng lưới Chi nhánh trên 6 tỉnh,
thành phố trọng điểm kinh tế của đất nước.
-Năm 1997, với sự bảo lãnh của Chính phủ, Maritime Bank đã thu xếp được 28
triệu USD thông qua Ngân hàng Mỹ (B.O.A) để đầu tư vào 3 Dự án trọng điểm quốc
gia: Đường Láng - Hoà Lạc, Quốc lộ 51 và Quốc lộ 14, góp phần quan trọng khẳng định
sự đúng đắn trong đầu tư cho các công trình giao thông của Việt Nam.
-Thời kỳ 1998 - 2000, cùng với sự thăng trầm của nền kinh tế đất nước và cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực, Maritime Bank cũng đã gặp không ít khó khăn,
nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển và hiệu quả kinh doanh.
-Năm 2001, Maritime Bank là một trong 6 Ngân hàng Thương mại Việt Nam được
Ngân hàng Thế giới (WB) lựa chọn và tài trợ để tham gia Dự án Hiện đại hoá ngân hàng
và Hệ thống thanh toán. Maritime Bank là ngân hàng TMCP duy nhất được tiếp tục tham
gia giai đoạn 2 của Dự án này từ năm 2005 đến nay.
-Thời kỳ 2002-2004, là giai đoạn duy trì, củng cố hoạt động của Maritime Bank.
Với sự nỗ lực không ngừng của Hội đồng Quản trị, Ban Điều hành, cũng như toàn thể
cán bộ nhân viên, Maritime Bank đã vượt qua gian nan, thử thách để khẳng định vị thế
của mình.
-Tháng 8 năm 2005, Maritime Bank đã chuyển Hội sở chính từ Hải Phòng lên thủ
đô Hà Nội. Sự kiện này đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của
Maritime Bank. Đây là một sự chuyển hướng chiến lược, thể hiện quyết tâm lớn của
Maritime Bank trong việc mở rộng thị trường.
-Năm 2006-2007: Maritime Bank đã tiến hành việc tái cấu trúc bộ máy một cách
cơ bản, toàn diện theo hướng tách riêng các hoạt động kinh doanh và hoạt động hỗ trợ,
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
11
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

hình thành các Khối nghiệp vụ: Khối Dịch vụ và Khách hàng cá nhân, Khối Khách hàng
doanh nghiệp, Khối Kinh doanh Nguồn vốn và Khối Quản lý rủi ro.
-Năm 2008-2009: Tuy chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nhưng
Maritime Bank vẫn có những bước tăng trưởng và phát triển đáng kể: mở rộng mạng
lưới, gia tăng các sản phẩm và dịch vụ.
-Năm 2010: Maritime Bank ra mắt logo mới và thay đổi hệ thống nhận diện cho
thấy một bước chuyển mình tích cưc, một hình ảnh Maritime Bank hoàn toàn mới: năng
động, trẻ trung, hiện đại, chuyên nghiệp.
1.2.1.2. Tầm nhìn chiến lược, sứ mệnh và giá trị cốt lõi
* Tầm nhìn chiến lược
-Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP dẫn đầu thị trường về cung
ứng các dịch vụ tài chính đa năng, chuyên nghiệp trọn gói theo tiêu chuẩn quốc tế.
-Với cam kết vì sự phát triển bền vững, Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân
hàng TMCP hàng đầu cả nước về hiện đại hóa, năng động, chuyên nghiệp và lấy chữ Tín
trong mọi hoạt động kinh doanh.
* Sứ mệnh
- Thiết lập quan hệ toàn diện với các tập đoàn kinh tế thuộc các ngành Hàng hải,
Bưu chính viễn thông, Hàng không, Đầu tư, Bảo hiểm…
- Phát triển bền vững, tin cậy với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng với chất lượng cao cho mọi đối
tượng khách hàng.
- Xây dựng quan hệ đối tác hiệu quả với các định chế tài chính trong nước và quốc
tế.
* Gía trị cốt lõi
- Chú trọng đáp ứng khách hàng bằng chất lượng dịch vụ.
- Hiệu quả là mục tiêu của mọi công việc.
- Học hỏi, sáng tạo để vươn tới sự hoàn thiện.
- Hợp tác, tin cậy là động lực của thành công.
1.2.1.3.Cam kết hành động
Hướng tới mục tiêu trở thành một trong những NHTMCP lớn nhất Việt Nam,
Maritime Bank luôn kiên trì thực hiện theo những tiêu chí mà Ngân hàng đã cam kết.
* Với khách hàng: Chúng tôi hiểu rằng, sự thành công của Maritime Bank phụ
thuộc chủ yếu vào sự hài lòng và sự cảm tình của khách hàng. Vì sự tin tưởng khách
hàng trao gửi, chúng tôi cam kết: Cung cấp các dịch vụ chất lượng cao, linh hoạt và
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
12
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

nhanh chóng; Không ngừng đa dạng hóa nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất với
các đối tượng khách hàng; Đảm bảo tuyệt đối an toàn và bảo mật.
* Với nhân viên: Một trong những tài sản quan trọng nhất, là động lực thúc đẩy sự
phát triển của Maritime Bank là nguồn lực con người. Ban Lãnh đạo Ngân hàng cam
kết:Thiết lập môi trường làm việc tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau; Phát triển văn hoá
hiệu quả tương xứng với quyền lợi; Tạo cơ hội cho sự phát triển của mọi thành viên
Maritime Bank.
* Với cổ đông: Các cổ đông là những người tin tưởng tuyệt đối và sẵn sàng chia sẻ
thành bại với Ngân hàng. Đáp lại niềm tin đó, chúng tôi cam kết mang lại: Giá trị đầu tư
tăng trưởng ngày càng cao cho các cổ đông;Đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của Ngân
hàng.
*Với toàn xã hội: Bằng việc đảm bảo sự tăng trưởng không ngừng của Ngân hàng
đồng thời thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa, từ thiện, Maritime Bank cam
kết đóng góp các giá trị văn hóa, kinh tế cho cộng đồng và sự phát triển chung của toàn
xã hội.
1.2.1.4. Bộ máy tổ chức
Sơ đồ 1.1:Sơ đồ bộ máy tổ chức
Nguồn: Phòng Nhân sự
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
13
Nguyễn Mỹ Hạnh

Quảng cáo 48

* Cơ cấu tổ chức toàn hệ thống Maritime Bank
- Cơ cấu tổ chức của Maritime Bank bao gồm: Hội sở chính; Các phòng nghiệp vụ
thuộc các khối; Văn phòng điều phối khu vực B; Văn phòng điều phối khu vực C; Ban
Giám đốc Chi nhánh.
Maritime Bank được mở Sở Giao dịch, các Chi nhánh cấp 1, cấp 2 và cấp 3, các
Văn phòng đại diện, các Phòng giao dịch, các điểm giao dịch, đơn vị sự nghiệp, các
Công ty trực thuộc khi có sự chấp thuận của NHNN. Cơ cấu tổ chức của các đơn vị trên
sẽ do Hội đồng Quản trị quy định phù hợp với quy định của pháp luật.
- Cơ cấu tổ chức của Hội sở chính: Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban
kiểm soát, Ban Thư ký, Ban Cố vấn Điều hành, Tổng giám đốc, Ủy ban Alco, Các Phó
Tổng Giám đốc, Các văn phòng điều phối khu vực, Phòng giao dịch trực thuộc Hội sở
chính.
- Cơ cấu tổ chức Chi nhánh: Ban Giám đốc Chi nhánh, Phòng Khách hàng
Doanh nghiệp, Phòng Khách hàng Cá nhân, Phòng Ngân quỹ, Phòng Kế toán và
kiểm toán, Tổ tin học, Phòng Hành chính, Các Phòng Giao dịch.
*Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
Chức năng:
Chức năng chung của các Phòng ban: Tham mưu và giúp việc cho Ban Điều hành
trong các lĩnh vực thuộc chức năng của Hội sở chính.
Nhiệm vụ:
-Tổng hợp, phân tích, báo cáo nghiệp vụ hoặc cung cấp thông tin định kỳ hay đột
xuất về các lĩnh vực nghiệp vụ thuộc chức năng đảm nhiệm theo quy định của Maritime
Bank, của NHNN và các cơ quan chức năng; Nghiên cứu, tổng hợp, xây dựng, trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện trong toàn hệ thống các văn bản hướng
dẫn, quy định, quy trình thuộc các lĩnh vực được giao.
-Kiểm tra và đề xuất xử lý các vấn đề nghiệp vụ thuộc chức năng đảm nhiệm trên
toàn hệ thống.
-Phối hợp với các Phòng, ban khác thuộc Hội sở chính và các đơn vị khác trong hệ
thống để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao.
-Kiến nghị lên Tổng Giám đốc và Chủ tịch HĐQT áp dụng các biện pháp xử lý các
đơn vị và các cá nhân vi phạm pháp luật và quy định của Maritime Bank trong các lĩnh
vực nghiệp vụ thuộc chức năng đảm nhiệm.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét