Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Co hoi va thach thuc khi gia nhap WTO

TIẾN TRÌNH GIA NHẬP WTO - CƠ HỘI VÀ
THÁCH THỨC VỚI CHÚNG TA
Bài viết của Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự, Trưởng đoàn đàm phán Chính
phủ về kinh tế và thương mại quốc tế, Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh
tế quốc tế.
Năm nguyên tắc lớn của WTO 2
Quá trình đàm phán gia nhập WTO 2
Gia nhập WTO chúng ta có một số cơ hội lớn : 2
Ðàm phán song phương 4
Những thách thức khi gia nhập WTO 9
Năm nguyên tắc lớn của WTO
Hiện nay, WTO có 150 thành viên và 29 thành viên đang đàm phán (trong đó có Việt
Nam). WTO là tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu. Liên hợp quốc có 192 thành viên.
WTO là 179 thành viên. Số thành viên của WTO hầu như đã là thành viên của Liên hợp
quốc. Ðây là sân chơi mà cả thế giới chơi. Nếu chúng ta đứng ngoài thì chúng ta sẽ không
tham gia được vào sân chơi điều tiết toàn bộ ngành thương mại thế giới, chiếm 85%
thương mại hàng hóa, 90% thương mại dịch vụ toàn cầu. WTO quyết định hoạt động kinh
tế, thương mại, đầu tư của toàn cầu. WTO có một bộ nguyên tắc khổng lồ điều tiết toàn bộ
hoạt động kinh tế, thương mại, trong đó có năm nguyên tắc lớn: minh bạch hóa chính sách
(rõ ràng, minh bạch, cụ thể, dễ dự đoán để giúp các nhà doanh nghiệp nắm được, thực hiện
kinh doanh. Nếu nói thông thoáng (không có luật) thì không phải, luật phải rõ ràng, minh
bạch, trước khi ra luật mới phải thông báo cho các doanh nghiệp biết và dự đoán được,
chuẩn bị làm ăn). Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (đối xử cho nước này không kém hơn
đối xử của nước thứ ba). Không phân biệt đối xử. Ðối xử quốc gia (dành cho doanh nghiệp
nước ngoài đối xử không kém hơn đối xử doanh nghiệp trong nước). Mở cửa thị trường
hàng hóa, dịch vụ giúp cho thương mại toàn cầu phát triển, kinh tế phát triển. WTO có
khoảng 18 hiệp định lớn và 1 bộ quy tắc. 18 hiệp định: hiệp định về thuế quan (GATT),
dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, trị giá hải quan, hiệp định về vấn đề hàng nông nghiệp,
chống bán phá giá, chống trợ cấp, hiệp định về cấp phép nhập khẩu, kiểm tra hàng trước
khi xếp, kiểm dịch động thực vật, quy tắc xuất xứ, một số hiệp định khác; rào cản thương
mại (TBT). Toàn bộ quy tắc gói gọn trong 30 vạn trang. Ðây là bộ quy tắc khổng lồ, giúp
điều tiết toàn bộ thương mại toàn cầu.
Quá trình đàm phán gia nhập WTO
Chúng ta đã đàm phán 11 năm với hơn 200 cuộc, trong đó đàm phán đa phương (14 phiên),
song phương (28 đối tác); nước nhanh nhất (3 phiên), nước chậm nhất (13 phiên). Ðây là
số lượng nhiều nhất trong đàm phán Việt Nam với các tổ chức quốc tế (với ASEAN chúng
ta mất hai năm, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chúng ta mất bốn năm). Sở dĩ
chúng ta đàm phán dài như thế chỉ với mục đích sớm gia nhập WTO.
Gia nhập WTO chúng ta có một số cơ hội lớn :
+ Ðây là sân chơi lớn toàn cầu. Việt Nam gia nhập sẽ tăng vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế.
+ Chúng ta cần thị trường toàn cầu để phát triển kinh tế, thương mại và thu hút đầu tư.
Hiện nay, xuất khẩu của chúng ta tăng tương đối nhanh, có năm 23%, có năm 19%, năm
2005 kim ngạch của chúng ta đạt 32,5 tỷ USD. So với các nước trong khu vực thì như vậy
là rất nhỏ. Thí dụ: so với Thái-lan, 63 triệu dân, kim ngạch đạt hơn 100 tỷ USD. Chúng ta
chỉ bằng 1/3 trong khi dân số là 83 triệu người; nếu so với Philippines, chúng ta bằng 2/3.
Muốn thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
thì kim ngạch xuất khẩu của chúng ta phải đạt 100 tỷ USD trở lên, nhập khẩu phải ở mức
tương đương. Hàng hóa và dịch vụ Việt Nam còn bị phân biệt đối xử, khi gia nhập WTO
những phân biệt đối xử đó mới được dỡ bỏ. Thí dụ, xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày
dép sang châu Âu; vẫn không được hưởng ưu đãi thuế quan đối với nông sản, nên không
bán gạo vào châu Âu được. Hàn Quốc bảo hộ gạo, có hạn ngạch, gia nhập WTO chúng ta
mới được chia hạn ngạch. Với Hoa Kỳ, không gia nhập WTO chúng ta vẫn bị hạn ngạch
dệt may. Nếu gia nhập WTO, chúng ta được dỡ bỏ hạn ngạch dệt may. Gia nhập WTO
chúng ta mới dỡ bỏ được rào cản, phân biệt đối xử mà chỉ dành riêng cho các thành viên
WTO.
+ Gia nhập WTO chúng ta có hệ thống luật pháp minh bạch, rõ ràng, dễ dự đoán thu hút
các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài. Vì trong đàm phán WTO chúng ta có hai loại: đa
phương và song phương. Với đa phương yêu cầu đầu tiên là phải minh bạch hóa chính
sách. Chúng ta đã trả lời hơn 3.000 câu hỏi liên quan chính sách kinh tế, đầu tư, tài chính,
ngân hàng. Chính vì vậy mà trong đoàn đàm phán chính phủ của chúng ta đã phải bao gồm
tất cả các bộ, ngành tham gia để đảm đương được khối lượng công việc lớn, trả lời nhiều
vấn đề liên quan kinh tế, thương mại. Chúng ta phải có chương trình xây dựng pháp luật.
Gia nhập WTO chúng ta phải có các văn bản pháp luật liên quan các hiệp định, các quy
định của WTO. Vì vậy, chúng ta có một kế hoạch sửa và xây mới 25 luật và pháp lệnh.
Chúng ta sẽ quyết tâm làm bằng được. Quốc hội sẽ dành ưu tiên để trong các phiên họp
dành thời gian xây dựng các luật, coi đây là việc trọng tâm của Quốc hội (năm 2005 sửa và
xây mới 29 luật, năm 2006 sửa và xây mới 10 luật). Trong toàn bộ các luật và pháp lệnh
mà chúng ta cam kết đa phương sẽ sửa và xây mới là 25 luật và pháp lệnh, thì chúng ta đã
làm xong 24 luật và pháp lệnh. Còn một văn bản luật, chúng ta đang trong quá trình soạn
thảo, dự kiến phiên tháng 10-2006 sẽ hoàn thành. Vậy, Việt Nam là nước đầu tiên có hệ
thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh để gia nhập WTO.
Ðể đổi mới kinh tế, cải cách hành chính Việt Nam phải xây mới và sửa đổi 100 luật. Như
vậy, số văn bản phục vụ đàm phán, gia nhập WTO chỉ bằng 1/4 số văn bản luật pháp phục
vụ cải cách hành chính, và đổi mới kinh tế. Ðiều đó thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ,
Quốc hội Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Ông Chủ tịch Ban công
tác, các thành viên Ban công tác, kể cả đoàn Hoa Kỳ cũng đánh giá rất cao quyết tâm của
Việt Nam trong việc sửa đổi hệ thống pháp luật trong thời gian vừa qua.
Chúng ta thấy các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến tiến trình gia nhập WTO của
Việt Nam. Vì họ cho rằng, nếu Việt Nam gia nhập WTO thì hệ thống pháp luật sẽ phù hợp
sân chơi của thế giới và nó sẽ ổn định. Chính vì điều đó mà đầu tư nước ngoài năm 2005
tăng hơn rất nhiều so với 2004, sáu tháng đầu năm 2006 tiếp tục tăng. Các dự án đầu tư
nước ngoài của Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, nhất là dự án lớn bắt đầu vào
Việt Nam, kể cả công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia có vai trò rất quan trọng đối
với nền kinh tế và thương mại toàn cầu. Theo thống kê của WTO, trên thế giới có khoảng
70 nghìn công ty đa quốc gia, chiếm 1/3 thương mại toàn cầu. Các nước đều muốn các
công ty đa quốc gia đầu tư vào nước mình, vì họ có công nghệ, vốn, thị trường toàn cầu.
Không phải họ đầu tư vào một nước là họ vào thị trường nội địa của nước đó, mà họ còn
tính cả thị trường khu vực, toàn cầu. Nơi nào có lợi thế hơn sẽ đầu tư vào và xuất khẩu đi
các nước khác ở khu vực.
Gia nhập WTO, chúng ta sẽ có điều kiện chủ động tham gia chính sách thương mại toàn
cầu. Xu hướng trong WTO, lần đầu trong hội nghị Hồng Kông vừa qua đã đề cập công tác
bình đẳng và cân bằng thương mại giữa các thành viên của WTO. Yêu cầu các nước phát
triển mở cửa thị trường hàng nông sản, bỏ trợ cấp xuất khẩu để tạo cho thương mại toàn
cầu phát triển bền vững và tạo điều kiện cho thương mại phát triển công bằng và không bị
bóp méo.
Gia nhập WTO, những tranh chấp được giải quyết tốt hơn: Xu hướng các nước là dùng
WTO để giải quyết tranh chấp. Giải quyết tranh chấp trong WTO là dễ thực thi hơn. Thí
dụ, một nước A áp thuế chống bán phá giá với một nước thành viên WTO mà tổng thuế đó
tương đương với 100 triệu USD, khi WTO giải quyết tranh chấp, đi đến quyết định là kiện
chống bán phá giá không đúng, yêu cầu nước kiện kia bỏ đi. Nếu không bỏ, thì nước bị
kiện có quyền nâng thuế nhập khẩu các mặt hàng của nước kia lên tương đương mức 100
triệu USD. Do vậy, cơ chế đó thực thi trong cuộc sống nhiều hơn, dễ thực hiện hơn là cơ
chế giải quyết tranh chấp qua trọng tài quốc tế và tòa án. Gia nhập WTO không có nghĩa
các vụ kiện chống bán phá giá sẽ giảm đi. Chúng ta càng tăng xuất khẩu, thì tranh chấp
thương mại sẽ càng tăng. Chỉ có điều mức độ chúng ta sẽ được giải quyết công bằng hơn.
Nếu trước đây, năm 1990 chúng ta đạt kim ngạch xuất khẩu 2,4 tỷ USD, nay chỉ trong một
tháng, chúng ta đã đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 3 tỷ USD. Khi vào WTO, để đẩy mạnh
tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu, lúc đó chúng ta sẽ đạt đến mức xuất khẩu 100 tỷ USD.
Mỗi tháng chúng ta đạt kim ngạch xuất khẩu gần 10 tỷ USD. Như thế, mức độ chúng ta
tham gia thị trường thế giới càng tăng, thì các tranh chấp quốc tế về thương mại cũng tăng.
Gia nhập WTO không có nghĩa là hết tranh chấp quốc tế về thương mại. Chỉ có điều chúng
ta không bị phân biệt đối xử nữa.
Ðàm phán song phương
Gia nhập WTO chúng ta phải tiến hành đàm phán đa phương và song phương. Ða phương
là để chúng ta minh bạch hóa các chính sách và đi đến cam kết các chính sách kinh tế vĩ
mô. Ði đến cam kết các chính sách kinh tế vĩ mô về đa phương, cho đến nay, cơ bản chúng
ta chấp nhận các hiệp định của WTO khi chúng ta gia nhập. Chúng ta bỏ các biện pháp trợ
cấp không đúng với quy định của WTO: trợ cấp liên quan tỷ lệ xuất khẩu; tỷ lệ nội địa
hóa, Các trợ cấp mà WTO cho phép chúng ta vẫn thực hiện: trợ cấp liên quan xúc tiến
thương mại; đầu tư, du lịch, nâng cao chất lượng hàng hóa, cước phí vận tải, Một vấn đề
quan trọng của vòng đàm phán Doha đó là vấn đề trợ cấp hàng nông sản. Việt Nam là nước
rất đặc biệt, đất chật, người đông. Khi đàm phán với Australia thì thấy một hộ của họ có
đến 200 ha. Còn bình quân đất canh tác Việt Nam chỉ có 0,3 ha/hộ. Nhưng, Việt Nam lại
có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu được xếp hạng trên thế giới. Ðây là một sự thật: gạo
(có lúc xếp thứ 2, có lúc thứ 3 thế giới); cà phê (đứng thứ 2 thế giới), tiêu (số 1 thế giới),
điều (số 2 thế giới), chè chúng ta có sản lượng đứng thứ 8 thế giới, hải sản, thủy sản cũng
được xếp thứ 8, 9 thế giới. Ðây là trường hợp rất đặc biệt của thế giới. Cho nên, trong đàm
phán song phương, nhiều nước Mỹ la-tinh yêu cầu đàm phán là vì thế. Họ cho rằng, Việt
Nam có mặt hàng nông sản tràn ngập thị trường thế giới, làm cho các nước Mỹ la-tinh gặp
khó khăn, nhất là cà phê. Trước đây, giá cà phê rất cao, bây giờ chỉ còn hơn 1.000
USD/tấn, trong đó có sự tham gia của Việt Nam và nhiều nước khác. Giá trị của một cốc
cà phê không đổi. Chỉ có lợi nhuận chuyển từ người trồng cà phê sang người chế biến và
tiêu thụ cà phê. Chính vì thế, ông David nói, Việt Nam phải làm thế nào tăng giá trị vào
hàng xuất khẩu của mình. Muốn vậy, chế biến chiếm vai trò rất quan trọng. Nếu chúng ta
bán 1kg cà phê, tại hội nghị Hồng Kông, báo chí viết giá 1kg cà phê là 1USD. Nhưng khi
chế biến 1 kg cà phê để bán cho người tiêu dùng cho vào cốc cà phê, thì giá sẽ lên tới 600
USD. Tất nhiên còn nhân công, vốn, Chúng ta thấy tại sao cà phê Trung Nguyên phát
triển, vì họ tham gia vào chế biến, phân phối tiêu thụ, cho nên lợi nhuận siêu ngạch nằm
trong đó. Ðó là phần quan trọng.
Việt Nam khi đàm phán đa phương, chúng tôi lại phải đàm phán cả vấn đề nông nghiệp.
Nông nghiệp Việt Nam canh tác lạc hậu, nhưng lại xuất khẩu được nhiều. Ðây là một xu
hướng mà tất cả các nước vừa qua đều phải bỏ trợ cấp xuất khẩu khi gia nhập đối với hàng
nông sản. Chúng ta cũng phải chấp nhận xu hướng này. Nhưng, 10% đối với hộp xanh (trợ
cấp trong nước) thì Việt Nam vẫn được hưởng đầy đủ. Nhưng, đối với Trung Quốc (vì
Trung Quốc phát triển hơn Việt Nam) nên mức cam kết của Trung Quốc là 8%. Mức 10%,
lâu nay chúng ta sử dụng rất ít. Chúng ta bỏ trợ cấp xuất khẩu, nhưng chúng ta chuyển tiếp
vào cho người nông dân, người sản xuất và chế biến nông sản, không trợ cấp vào xuất
khẩu nữa. 10% đối với ngành nông nghiệp Việt Nam vào khoảng 11 tỷ USD. Nên nếu 10%
chúng ta có 1,1 tỷ USD/năm, để phục vụ hỗ trợ cho nông dân trong nước, mức đó bảo đảm
nền nông nghiệp ổn định phát triển trong tương lai.
Những trợ cấp khác mà WTO không cấm thì chúng ta vẫn được sử dụng. Một số thông tin
gần đây có đăng gia nhập WTO chúng ta sẽ bỏ hết trợ cấp, điều đó không phải. Chúng ta
chỉ bỏ những trợ cấp bị cấm, còn những trợ cấp không cấm thì vẫn được duy trì và thực
hiện. Còn đối với trợ cấp trong các lĩnh vực khác liên quan dệt may, chúng ta có Quyết
định 55 của Thủ tướng Chính phủ. Khi những người dịch lại cho các cơ quan nước ngoài,
phiên dịch không chuẩn. Trong Quyết định số 55, chúng ta nói hỗ trợ các doanh nghiệp để
sản xuất hàng dệt và may để xuất khẩu. Nhưng, từ hỗ trợ không có nghĩa là cho không
(nhiều người dịch là subsidize - cho không) dẫn đến có sự hiểu lầm. Chúng ta chỉ hỗ trợ
vay vốn, Nhà nước chỉ hỗ trợ chênh lệch giữa lãi suất thông thường và lãi suất ưu đãi, tổng
cái đó chỉ có năm triệu USD. Khi đàm phán với Hoa Kỳ, phía họ nói Việt Nam trợ cấp bốn
tỷ USD cho ngành dệt may. Ðiều đó không phải. Khi chúng ta chứng minh đầy đủ số liệu,
đoàn Hoa Kỳ mới cho là đúng. Thứ nhất, vấn đề cấp phép, Việt Nam cấp phép cho tất cả
các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tham gia lĩnh vực dệt may. Thứ hai, chênh lệch, Việt Nam chỉ ưu đãi về lãi
suất, trong thời gian qua chỉ có năm triệu USD, như vậy không phải lớn. Nhưng, để thực
hiện đàm phán với Hoa Kỳ, Việt Nam đã bỏ Quyết định 55. Hoa Kỳ sẽ bỏ hạn ngạch dệt
may đối với Việt Nam. Khi bỏ hạn ngạch dệt may của Hoa Kỳ, thì EU và Canada đã bỏ
hạn ngạch cho chúng ta từ năm 2005. Khi gia nhập WTO, toàn bộ dệt may không bị hạn
ngạch nữa. Ðây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chúng ta cũng phải bỏ một số
quy định cấm: nhập khẩu thuốc lá điếu, ô-tô đã qua sử dụng, linh kiện liên quan máy tính.
Trên thực tế, cấm nhập ô-tô đã qua sử dụng đã bỏ rồi, vấn đề hiện nay là thuế, làm thế nào
bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. Bộ Tài chính đang tiếp tục làm để xử lý vấn đề thuế,
vì đây cũng là một trong những vấn đề đáng quan tâm. Chúng ta một mặt cần bảo vệ lợi
ích của người sản xuất, đồng thời cũng cần bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Phải cân
đối hai lợi ích này, chứ không thể chỉ chú ý đến lợi ích của người sản xuất, mà không chú ý
đến lợi ích của người tiêu dùng.
Ðàm phán song phương chúng ta đã cơ bản kết thúc với 28 đối tác. Trong đàm phán song
phương, Việt Nam đưa ra bản chào số 4, chào đến 99% số biểu thuế. Thí dụ, đàm phán với
Hoa Kỳ, tổng số dòng thuế là 9.400 dòng thuế. Còn với các nước, tùy thuộc, có nước
3.000, có nước 5.000, có nước chỉ là 200 dòng thuế. Tùy theo yêu cầu của các nước, biểu 4
chúng ta đã chào mức thuế tương đương với 18% số hàng công nghiệp, nông nghiệp. Từ
đó, chúng ta đi đến đàm phán. Trên cơ sở đó chúng ta cơ bản đã kết thúc. Mức thuế trung
bình hàng nhập khẩu, hàng nông sản và hàng công nghiệp khoảng xấp xỉ 14%. So với
Trung Quốc, khi gia nhập, cam kết mức trung bình 10,4%. Kinh tế Việt Nam mức phát
triển thấp hơn Trung Quốc. Cho nên, mức chúng ta cam kết chênh với Trung Quốc là hợp
lý.
Trong đàm phán, Oxfarm (một tổ chức phi chính phủ) hỏi, như vậy thì ngành nông nghiệp
của Việt Nam liệu có tồn tại và phát triển được không? Hàng hóa sẽ tràn ngập vào thị
trường Việt Nam có phải không? Xem chi tiết từng hàng, báo cáo Chính phủ thông báo lại
cho các doanh nghiệp. Nhìn tổng thể thấy hàng hóa không tràn ngập, sẽ có nhập khẩu tăng.
Chúng ta đã trải qua thử thách trong thị trường mậu dịch tự do ASEAN, mức thuế có lộ
trình xuống 0-5%, chúng ta thực hiện lộ trình sát AFTA rồi, nhưng tới bây giờ thị trường
có tràn ngập hàng hóa của ASEAN đâu. Gia nhập WTO, thuế chúng ta đang từ mức 18%,
giảm xuống 4% nữa, còn khoảng 14%. Như vậy, không có chuyện đó, và xuống đến mức
đó thì chúng ta thôi. Trong đàm phán gia nhập WTO, một trong những nguyên tắc khó
khăn nhất chúng ta phải vượt qua là để các nước hiểu thực tế Việt Nam và công nhận Việt
Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp và nền kinh tế đang trong quá trình chuyển
đổi. Ở Việt Nam có một nghịch lý, thu nhập bình quân đầu người chưa đầy 1.000
USD/năm, trong lúc WTO quy định những nước kém phát triển là nước có thu nhập dưới
1.000 USD. Nhưng, Việt Nam không được xếp vào nước kém phát triển, vì khi Liên hợp
quốc công nhận Việt Nam là nước đang phát triển có cộng thêm các tiêu chí về y tế, văn
hóa, giáo dục, nên mới xếp Việt Nam là nước đang phát triển. Về kinh tế thu nhập chúng ta
thấp. Cho nên, chúng ta phải thương lượng để được công nhận ở trình độ thấp.
Hai là, nền kinh tế của chúng ta có thời kỳ chuyển đổi, nên có lộ trình giảm thuế, lộ trình
chuyển đổi thị trường. Lộ trình giảm thuế lấy mức thuế hiện hành bắt đầu giảm trong vòng
3-5 năm sẽ xuống mức 14%. Tất nhiên, từng mặt hàng có mức cắt giảm khác nhau: xe máy
phân khối lớn theo lộ trình chúng ta cắt xuống còn 45% (hiện nay 60%); ô-tô tùy loại mức
cắt giảm xuống còn 52% hoặc 47% hoặc 50%. Chúng ta áp mức thuế bảo hộ cho ngành ô-
tô, xe máy khá cao. Cho nên trên thực tế mức đó không phù hợp lắm, nếu chỉ bảo vệ cho
người sản xuất, thì người tiêu dùng Việt Nam hiện nay chịu mức giá ô-tô cao nhất thế giới.
Vì vậy, chúng ta phải giảm thuế, một mặt phải bảo vệ người sản xuất, mặt khác phải cân
đối lại lợi ích của người tiêu dùng. Hơn nữa, thực tế các tập đoàn đa quốc gia phân vùng,
phân khu vực thành thị trường, cho nên đó cũng là điều kiện. Một số ngành sản xuất trong
nước của Việt Nam hiện nay cũng đã phát triển. Cho nên, những ngành đó trong thời gian
qua đã thay thế được phần lớn các mặt hàng lâu nay vẫn nhập khẩu. Khi chúng ta mở cửa
thị trường, các nhà sản xuất trong nước có sản phẩm rồi. Muốn hay không họ phải giảm chi
phí, nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Như thế, chúng ta sẽ có điều
kiện đó. Thí dụ, phân đạm chúng ta đã có nhà máy phân đạm, nếu thuế có cao thì nhà máy
phân đạm trong nước đã có khả năng cung cấp cho thị trường. Toàn bộ ngành bia, có mở
nữa cũng coi như toàn bộ các công ty bia của Việt Nam vẫn cạnh tranh được; hoặc vật liệu
xây dựng, xi-măng, thép (chủ yếu thép xây dựng, bắt đầu có đầu tư thép cao cấp), điều
kiện kinh tế của Việt Nam bây giờ đã khác xa so với cách đây 15 năm.
Ðối với nông nghiệp, các nước thành viên cũ, mức thuế nông nghiệp khoảng 22%. Nhưng
xu hướng các nước mới gia nhập phải giảm thuế nhiều hơn để gia nhập. Vì các nước cho
rằng, các nước đã gia nhập phải mất vài chục năm đấu tranh từ GATT để có thành quả như
bây giờ. Các nước mới gia nhập nhiều hay ít đều phải đóng góp qua việc cắt giảm thị
trường, cắt giảm thuế.
Nhưng, tổng thuế với nông nghiệp, Việt Nam có lợi thế là có nhiều mặt hàng nông nghiệp
xuất khẩu. Ðã xuất khẩu được thì cạnh tranh được với thế giới. Chúng ta lo mặt hàng thịt
bò, thịt lợn. Chúng ta thấy, thịt bò, thịt lợn là các mặt hàng từ chăn nuôi đơn lẻ, chưa có
theo hình thức trang trại. Cho nên, trong đàm phán rất khó khăn. Các nước xuất khẩu thịt
bò lớn: Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand đều yêu cầu giảm thuế tới 0-5%. Chúng
ta trả lời: Bò Việt Nam phần lớn là bò cóc, mỗi hộ nuôi 5-10 con, năng suất thấp, sức cạnh
tranh không cao. Giống bò của Việt Nam phần lớn phải nhập khẩu, phần trợ cấp của Nhà
nước trong lĩnh vực này hầu như không có. Các nước cũng thấy được khó khăn của Việt
Nam và cũng đi đến mức giảm đến 4-5% so với mức thuế hiện hành. Mức 0-5% thì chúng
tôi cũng nói thẳng đàn bò cóc Việt Nam chết, không tồn tại. Và chúng tôi gia nhập WTO
muốn để ổn định, phát triển, mở cửa, nhưng mức độ phải phù hợp với Việt Nam chứ không
phải mở theo bất cứ điều kiện nào. Cuối cùng, các nước cũng phải chấp nhận, ngay cả đàm
phán với Hoa Kỳ vấn đề cuối cùng là đàm phán về thịt bò và thịt lợn, thuế nông nghiệp.
Chúng tôi phải chấp nhận điều kiện với Hoa Kỳ là cao hơn so với Australia và New
Zealand. Sau này cân đối lại biểu thuế sẽ có sự điều chỉnh. Các mức thuế sẽ áp dụng MFN
cho nên các nước đều hưởng mức thuế như nhau. Cuối cùng Ban Thư ký sẽ tổng hợp lại.
Ðàm phán song phương là những cuộc đàm phán căng thẳng. Tất cả các đối tác yêu cầu
đàm phán đông vì các lý do: họ cho rằng Việt Nam là một thị trường tương lai hứa hẹn, vì
Việt Nam có số dân đông thứ 13 thế giới, lao động hơn 40 triệu người, lao động trẻ hơn 30
triệu người. Việt Nam có vị trí thuận lợi cả trên bộ, trên biển, hàng không, là điều kiện cho
phát triển thương mại sau này. Việt Nam có điều kiện thuận lợi nữa là chúng ta ổn định về
chính trị nhất trong khu vực. Ðây là điều các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm. Có thể
nói, thương mại Việt Nam những năm qua tăng liên tục nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập
khẩu chưa phải là lớn lắm. Thí dụ, năm 2005 kim ngạch cả xuất, nhập khẩu mới đạt hơn 60
tỷ USD. Nếu riêng xuất khẩu mới khoảng hơn 30 tỷ USD, chúng ta phải phấn đấu nhiều
hơn nữa. Ðàm phán các nước thống nhất như vậy, nhưng nhìn vào tương lai, nhiều nước
đòi hỏi được đàm phán. Khi chúng ta đàm phán với Trung Quốc, chúng ta tưởng giữa Việt
Nam - Trung Quốc đã có Hiệp định tự do thương mại trong ASEAN, nên không cần đàm
phán nữa, nhưng với Trung Quốc vẫn phải đàm phán 10 phiên, rất nhiều phiên căng thẳng,
đàm phán suốt đêm, nhiều vấn đề căng: mở du lịch, ngân hàng phụ, mở vận tải đường bộ,
nhưng sau đó, chúng ta thấy khi đàm phán phải dựa vào quy định của WTO. Chúng ta thấy
về vấn đề đường bộ, trong WTO chưa phát triển, hầu như chưa nước nào cam kết, nên bỏ,
ngân hàng phụ thì chúng ta có ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chúng ta không thể mở
theo kiểu đó được. Cuối cùng, Trung Quốc cũng chấp nhận.
Ðặc biệt, đàm phán sau này với Hoa Kỳ. Hoa Kỳ và EU là các đối tác lớn nhất trong WTO
cả về hàng hóa và dịch vụ. Hoa Kỳ và EU đàm phán không phải vì lợi ích của Hoa Kỳ và
EU mà vì lợi ích của cả Tổ chức Thương mại thế giới, nên yêu cầu đàm phán rộng hơn, sâu
và đa dạng hơn. Ðàm phán như vậy rất phức tạp. Chúng ta cho rằng xong đàm phán song
phương (BTA) thì sẽ gần xong việc gia nhập WTO, trên thực chất, có một số vấn đề rất lớn
chưa giải quyết được, như hàng dệt may Việt Nam còn hạn ngạch. Mặt khác chúng ta vẫn
còn bị luật Jackson vanik hằng năm Quốc hội Hoa Kỳ gia hạn một lần về cơ chế thương
mại và chúng ta chưa được hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR). Vì
vậy, để có được PNTR, Hoa Kỳ yêu cầu chúng ta phải có đủ BTA, gia nhập WTO. Hiện
nay, chúng ta làm xong cả hai nhiệm vụ đó. Hoa Kỳ đánh giá Việt Nam thực hiện đầy đủ
BTA, đồng thời kết thúc đàm phán về gia nhập WTO. Ðó là điều kiện để trình PNTR,
chúng ta đang tích cực vận động để Quốc hội Hoa Kỳ thông qua PNTR. Việt Nam mới
được hưởng thuế phổ thông, chưa được hưởng thuế ưu đãi GST. Hoa Kỳ dành cho 72-74
nước được hưởng GST không có Việt Nam, cho nên, gia nhập WTO là cơ hội cho chúng ta
trong một số vấn đề mà chúng tôi nêu.
Kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ có người nói chưa hài lòng, có người nói được nhiều, có
người nói được ít. Chúng tôi thống nhất đây là đàm phán mà hai bên đều giành thắng lợi.
Trên thực chất, các nhà đàm phán luôn như thể no bụng đói con mắt, thường đòi những
điều kiện cam kết rất cao, nhưng nhà doanh nghiệp không cần cái đó. Nhà doanh nghiệp
miễn có lợi là làm. Cam kết có cao mấy mà không có lợi thì vẫn không vào. Ðó là sự khác
nhau giữa nhà đàm phán và doanh nghiệp. Thí dụ đòi mở ngân hàng như thế chúng ta đã
cho chi nhánh 100% vốn, nhưng ngân hàng Mỹ vì chiến lược phát triển của họ nên rút,
không ở Việt Nam. Giữa cam kết của nhà đàm phán với doanh nghiệp có khoảng cách.
Nếu chúng ta kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ mà giành được PNTR, quỹ OPEC, quỹ hỗ trợ
ngân hàng EXIMBANK mới hoạt động mạnh. Khi đó quan hệ đầu tư của các nhà đầu tư
lớn, xuất khẩu của Hoa Kỳ mạnh hơn. Kim ngạch buôn bán Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ tăng
trưởng đáng kể trong thời gian tới.
Những thách thức khi gia nhập WTO
Chúng ta kết thúc đàm phán song phương về gia nhập WTO, chúng ta cũng gặp rất nhiều
thách thức. Thứ nhất, chúng ta muốn có thị trường toàn cầu thì chúng ta phải mở cửa thị
trường cho các nước. Ðây là thách thức lớn nhất. Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam tuy bây
giờ có số lượng rất đông 230 nghìn doanh nghiệp nhưng phần lớn là nhỏ và vừa, cho nên
năng lực cạnh tranh kém. Ðó cũng là thách thức. Nhưng cũng có điều các doanh nghiệp
Việt Nam năng động và cũng chuyển động rất nhanh khi môi trường kinh doanh thay đổi,
nhưng lại bị hạn chế bởi vốn, công nghệ và năng lực. Từ đó dẫn tới năng lực cạnh tranh thị
trường các mặt hàng của Việt Nam bị hạn chế. Tất nhiên, từng ngành có khác, năng lực
cạnh tranh chỉ là tương đối, nay khác, mai khác. Thí dụ, đóng tàu chẳng hạn, trước đây có
bao giờ Việt Nam nghĩ là sẽ đóng nhiều tàu biển đâu, nhưng sau khi lợi thế về đóng tàu
thay đổi, chuyển từ châu Âu sang Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, lương công nhân rất cao,
thì Việt Nam lại trở thành nơi hấp dẫn đối với ngành đóng tàu trên thế giới. Chúng ta có ưu
điểm: công nhân nhiều, nhiều vũng, vịnh kín có thể đóng tàu quanh năm. Ngành may mặc
thì lương công nhân ở các nước ASEAN cao, họ sẽ chuyển sang Việt Nam; Thái Lan,
Malaysia đang rất thiếu lao động. Malaysia mỗi năm phải nhập khẩu đến ba triệu lao động,
Singapore nhập khẩu 0,5 triệu lao động. Các nước khác phải chuyển sang Việt Nam. Ở
nước ta, Singapore có hai khu công nghiệp. Họ chuyển các lĩnh vực ít khả năng cạnh tranh
sang ta. Ðây là một lợi thế. Chúng ta thấy rằng các doanh nghiệp Việt Nam lại phải chấp
nhận sự cạnh tranh như thế. Thứ ba là, rất nhiều chính sách liên quan kinh tế thương mại sẽ
thay đổi. Thí dụ phần liên quan trợ cấp cũ mà không phù hợp, WTO sẽ bỏ hạn ngạch, cấp
phép, rồi cũng sẽ bỏ hết. Như thế tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của chúng ta. Nhưng
đồng thời làm cho các doanh nghiệp lâu nay dựa vào đó sống và phát triển phải chuyển
sang hình thức kinh doanh không được bảo hộ hoặc mức bảo hộ thấp.
Thuế cũng như vậy, Nhà nước giảm thuế cũng tác động một phần đến ngân sách. Phần
đóng góp ngân sách từ thuế nhập khẩu mỗi ngày một giảm. Trước kia, thuế nhập khẩu có
lúc đến 30% GDP, bây giờ chỉ còn 15%, nhưng kim ngạch buôn bán tăng thì nó tăng.
Chúng ta tăng kim ngạch buôn bán để tăng thuế. Hoặc có những cam kết chúng ta đã thực
hiện rồi, như trị giá hải quan, chúng ta bỏ thuế mà áp dụng mức thuế tuyệt đối Các doanh
nghiệp nhập khẩu, giá theo giá hợp đồng. Có một số doanh nghiệp ảnh hưởng, nhưng kiểm
tra, kiểm soát thì nó đi vào trật tự. Thế giới cũng phải trải qua giai đoạn đó không riêng
quốc gia nào. Qua hậu kiểm để bảo đảm thu thuế. Vấn đề an sinh xã hội, sẽ phải giải quyết
tình trạng một số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc không có năng lực cạnh tranh sẽ gặp khó
khăn, phá sản. Vậy giải quyết vấn đề trợ cấp, việc làm như thế nào cho lao động các doanh
nghiệp này, đào tạo lại để họ tìm việc làm mới. Ðấy là những việc chúng ta phải làm.
Vấn đề nguồn lực, cái quyết định nhất là con người, khi chúng ta mở cửa vấn đề cạnh tranh
giành nguồn lực này rất khốc liệt. Chúng tôi hỏi Singapore khi mở cửa sợ nhất cái gì, phía
bạn trả lời quan trọng là làm sao giữ được người tài để phục vụ đất nước. Khi các doanh
nghiệp nước ngoài vào, các cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra, các doanh nghiệp sẽ dùng lương để
thu hút người lao động giỏi, cho nên chúng ta, một mặt, cũng phải có chiến lược đào tạo,
giữ những người có năng lực làm cho mình, giữ như thế nào tùy vào từng doanh nghiệp,
không có bài toán chung cho tất cả. Có nhiều cách khác nhau để giữ người, cổ phần nhất
định, lương cao, đối xử, tình cảm, Muốn hay không Nhà nước phải có chính sách để đào
tạo, đào tạo lại người lao động. Hiện nay, tuy Việt Nam có lao động đông, nhưng lao động
của chúng ta cũng có một số hạn chế: yếu ngoại ngữ, tác phong công nghiệp. Không chỉ
trong lĩnh vực các doanh nghiệp mà cả ở các cơ quan quản lý nhà nước. Thí dụ, Trung
Quốc, có hẳn một chỉ thị, đối với cán bộ lãnh đạo quận, huyện, các tỉnh biên giới gần Việt
Nam phải biết tiếng Việt. Cho nên, khi chúng ta sang đó họ nói tiếng Việt rất thạo. Vấn đề
là cán bộ quản lý Việt Nam phải biết ngoại ngữ. Mặt khác, phải chuyển cách quản lý theo
phong cách mới. Ngày xưa quản bằng các lệnh, chỉ thị, can thiệp trực tiếp vào các doanh
nghiệp, thì nay không còn, còn rất ít, chỉ còn những doanh nghiệp có vốn lớn của Nhà
nước, quản lý thông qua biện pháp gián tiếp như xây dựng pháp luật, chính sách và kiểm
tra đôn đốc việc thực hiện đó. Việc nắm từng ngành, hàng, không giống như trước, nhưng
vẫn phải nắm. Khi chúng ta bỏ quản lý xuất khẩu gạo, lúc đầu mọi người rất ngại, sợ có thể
xuất vượt, đến khi quyết định làm thì làm rất tốt. Mọi thành phần có thể xuất khẩu gạo
được, nhưng chúng ta vẫn quản lý được vì mọi công việc giao cho hiệp hội. Hiệp hội đóng
vai trò chính. Hiện nay, Nhà nước chuyển những vai trò mà Nhà nước không làm sang hiệp
hội ngành hàng để bảo vệ ngành hàng, hợp tác liên kết để phát triển. Các cách làm cũ giành
khách hàng bằng hạ giá không còn giá trị, làm ta yếu đi. Vai trò của hiệp hội, ngành hàng
rất quan trọng. Liên kết để phát triển để xây dựng hệ thống phân phối trong nước. Các

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét