+ Nhân tố tự nhiên: Thời vụ, hạn hán, bão lụt
+ Nhân tố xã hội: đình công, bãi công
+ Quy mô tiêu dùng. Quy mô tiêu dùng xã hội và qui mô tiêu dùng sản
xuất về một hàng hoá nào đó.
Quảng cáo là một hình thức tạo ra nhu cầu, chức năng của quảng cáo là
thông tin kích thích ngời mua hàng.
Yêu cầu của quảng cáo là:
- Đập vào trực giác ngời mua.
- Gây chú ý ngời mua từ đầu đến cuối
- Có 6 hình thức quảng cáo: Panô áp phích vô tuyến, đài , báo chí in tờ
quảng cáo, quảng cáo qua ngời bán hàng.
Cầu có đặc điểm luôn biến động. Chính vì vậy khi nghiên cứu tới cầu cần
phải thờng xuyên chú ý tới các nhân tố tác động tới nó.
Tính quy luật của nhu cầu trên thị trờng: Nhu cầu là yếu tố quyết định thị
trờng trong doanh nghiệp, nếu nắm đợc nhu cầu và có các chính sách biện pháp
hợp lý để khai thác các nhu cầu thì cũng có nghĩa là quá trình kinh doanh an
toàn và thu đợc kết quả. Nhu cầu thị trờng không nên đồng nhất với nhu cầu có
khả năng thanh toán , trong quản lý kinh tế ngời ta hết sức chú ý tới nhu cầu có
khả năng thanh toán. Song trong kinh doanh ngời ta lại rất chú ý tới nhu cầu của
thị trờng.
+ Nhu cầu của thị trờng là nhu cầu của ngời tiêu dùng về một loại hàng
nào đó mà ngời tiêu dùng sẵn sàng mua, sẽ mua.
+ Nhu cầu của thị trờng hình thành trên cơ sở của nhu cầu tự nhiên và nhu
cầu có khả năng thanh toán.
Nếu nh cầu do 2 yếu tố ý muốn (nhu cầu) và khả năng chính (tiền đảm bảo
nhu cầu) khống chế thì về giá cung cũng vậy ý muốn sẵn sàng đa ra trên thị tr-
ờng một loại hàng hoá nào đó và có khả năng kỹ thuật, lao động, tiền vốn để
đa hàng hoá ra thị trờng khống chế cung.
Khả năng về tài nguyên, trình độ kỹ thuật, trình độ ngời sản xuất quản lý
quyết định cung.
Vậy cung hàng hoá đợc định nghĩa là những số lợng khác nhau của một
hàng hoá nhất định và những ngời bán sẵn sàng và có khả năng cung ứng ra thị
trờng ở những giá khác nhau.
Do đó cung hàng hoá phản ánh mối quan hệ trực tiếp trên thị trờng của 2
biểu số lợng hàng cung uứng và giá cả trong một thời gian nhất định.
Cung chịu ảnh hởng bởi các nhân tố sau:
+ Các nhóm nhân tố thuộc về trình độ và quy mô của sản xuất. Trình độ
sản xuất càng cao thì quy mô sản xuất càng rộng thì cung trên thị trờng càng
lớn. Yếu tố này tác động thờng xuyên đến khối lợng và chất lợng của cung.
+ Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ. Đây là yếu tố quan
trọng nó mang tính đặc trng rất nhanh tiến độ khoa học kỹ thuật để phục vụ kịp
thời nhu cầu.
+ Điều kiện và tài nguyên thiên nhiên hệ thống kết cấu hạ tầng vật chất.
+ Cầu và giá cả trên thị trờng.
+ Khi nói đến cung phải nhắc đến cầu. Cung là một trong những yếu tố
cấu thành thị trờng. Cung không phải là yếu tố riêng lẻ mà nằm trong tổng thể
gắn liền với nhau. Trong cơ chế thị trờng và sự vận động của cung - cầu - giá cả
hoàn toàn diễn ra một cách tự nhiên mà không có sự bắt buộc hay điều khiển tập
trung của bất cứ ai. Thị trờng là một cơ chế tự điều chỉnh.
Cung và cầu chịu ảnh hởng rất nhiều yếu tố và để phản ứng lại chúng vận
động theo nhiều cách khác nhau.
c) Giá cả thị trờng và quan hệ cung cầu.
Quan hệ cung cầu hàng hoá là nhân tố trực tiếp tác động đến mức độ lớn
tới sự hình thành và sự biến động của giá cả thị trờng, các nhân tố khác tác động
đến giá cả hoặc là thông qua quan hệ cung cầu hoặc nằm trong khống chế của
quan hệ cung cầu đối với giá cả.
Cơ sở của giá cả thị trờng là chi phí lao động xã hội cần thiết nhng nó
không có nghĩa là chi phí lao động xã hội cần thiết quyết định giá cả thị trờng.
Giá cả thị trờng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí lao động xã hội cần thiết.
- Giá trị đồng tiền.
- Quan hệ cung cầu
- Tình hình cạnh tranh.
Thị trờng dùng giá cả để điều tiết cầu của ngời tiêu dùng với cung của kỹ
thuật sản xuất xã hội.
Giá cả là "hàn thử biểu" duy nhất giữa cung với cầu hàng hoá, sự vận động
của giá cả trên thị trờng trực tiếp phụ thuộc vào tình trạng và diễn biến của quan
hệ cầu. Nói khác đi mối quan hệ cung cầu hàng hoá là nhân tố trực tiếp sau cùng
quyết định mức xu thế vận động của giá cả thị trờng.
Nếu cung lớn hơn cầu trên phạm vi tổng thể hàng hoá và của từng loại
hàng hoá thì giá cả có xu hớng giảm xuống, sức mua của tiền tệ tăng, nhu cầu
có khả năng thanh toán đợc mở rộng. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì xu thế tất yếu
nảy sinh tăng lên của giá cả. Cung của hàng hoá nói chung và của từng loại hàng
hoá tăng nhanh.
Mối liên hệ căn bản bền vững lặp đi lặp lại không ngừng của cung và cầu
dẫn đến quy luật cung cầu là quy luật kinh tế của lu thông hàng hoá của thị tr-
ờng cung cầu. Cầu và cung vận động ngợc chiều nhau do tác động của sự thay
đổi giá cả.
+ Cầu và giá cả vận động ngợc chiều nhau.
+ Cung và giá cả thị trờng vận động cùng chiều nhau.
Ta biểu diễn cung - cầu với mối quan hệ đến giá cả nh sau:
D D- đờng cầu
S S - Đờng cung
Po - giá cân bằng cung cầu
Sự vận hành của thị trờng thông qua giá cả lại bao hàm những thông tin cần
thiết cho các doanh nghiệp cho quá trình tái sản xuất xã hội về quan hệ cung cầu
và về khối lợng cơ cấu hàng hoá trên thị trờng.
Trên thị trờng sự cân đối cần thiết giữa cung và cầu luôn bị vi phạm. Kinh
tế thị trờng buộc ngời sản xuất ngời buôn bán phải năng động ứng xử kịp thời
S D P
S
Q
D
0
với những tình huống của thị trờng. Trong ki nh doanh việc phân hoá giá là
chính sách rất lớn và là chiến lợc trong kinh doanh. Ta xác định giá của sản
phẩm làm nhiều cấp loại 1-2-3 đối với mỗi sản phẩm có độ nhu cầu co giãn
khác nhau giá hạ lợng tiêu thụ càng lớn, giá cao thì tiêu thụ ít.
Nh vậy giá cả thị trờng là phạm trù trung tâm của thị trờng là bàn tay vô
hình điều tiết nền sản xuất xã hội và kích thích nền sản xuất thông qua giá cả thị
trờng. Thị trờng thực hiện chức năng điều tiết và kích thích của mình cung cầu
là phạm trù kinh tế lớn nhất bao trùm thị trờng.
Quan hệ cung cầu trên thị trờng là yếu tố quan trọng nhất và trực tiếp quyết
định giá cả thị trờng.
d) Cạnh tranh:
Đó là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trờng,
nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách
hàng về phía mình.
Có 3 dạng cạnh tranh: cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau, cạnh tranh
giữa những ngời mua với nhau, cạnh tranh giữa ngời mua và ngời bán.
Trong cơ chế thị trờng cạnh tranh là bất khả kháng. Và cạnh tranh có 4
chức năng sau:
+ Cạnh tranh làm cho giá cả hàng hoá dịch vụ giảm xuống.
+ Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối u hoá các yếu tố đầu vào của
sản xuất kinh doanh.
+ Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng áp dụng kỹ thuật
mới, công nghệ tiến bộ.
+ Cạnh tranh là công cụ tớc quyền thống trị về mặt kinh tế trong lịch sử.
Cạnh tranh đợc xét ở nhiều khía cạnh: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh
không hoàn hảo, cạnh tranh tự do, cạnh tranh thuần tuý, cạnh tranh phi giá cả,
cạnh tranh mang tính chất độc quyền, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh
không lành mạnh.
Bốn nhân tố trên có quan hệ mật thiết với nhau nh là bốn khâu trong một
guồng máy. Giá cả là nhân tố của thị trờng, cung cầu là trung tâm và cạnh tranh
là linh hồn, là sức sống của thị trờng.
3. Bản chất của cơ chế thị trờng
Kinh tế thị trờng là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà ở đó quá trình sản xuất,
phân phối sản phẩm, phân chia lợi ích, thiết lập các quan hệ kinh tế do các quy
luật của thị trờng có điều tiết chi phối.
Về cơ bản, cơ chế thị trờng là cơ chế giá cả tự do mà nó có đặc trng cơ bản
sau:
+ Việc phân bố sử dụng các nguồn tài nguyên là khan hiếm nh: lao động,
vốn, tài nguyên, thiên nhiên cơ bản đợc quyết định một cách khách quan,
thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, đặc biệt là qui luật cung cầu.
+ Tất cả các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều đợc tiền tệ hóa.
+ Tự do lựa chọn sản xuất kinh doanh và tiêu dùng từ phía các nhà sản xuất
và những ngời tiêu dùng thông qua các mối quan hệ kinh tế.
+ Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trởng kinh tế và lợi
ích kinh tế đợc biểu hiện tập trung ở mức lợi nhuận.
+ Thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế, đặc biệt là sự linh hoạt
của hệ thống giá cả, nền kinh tế thị trờng luôn duy trì đợc cân bằng giữa sức
cung và sức cầu của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ ít gây ra đợc sự thiếu
thốn và khan hiếm hàng hoá.
+ Cạnh tranh là môi trờng là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc
đẩy năng suất lao động và tăng hiệu quả của sản xuất. Tuy nhiên cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trờng thờng dẫn tới hai khuynh hớng đều nguy hiểm: độc
quyền và phá sản.
+ Kinh tế thị trờng luôn tạo ra cơ hội cho mọi ngời sáng tạo, tìm cách cải
tiến lề lối làm việc có hiệu quả hơn.
+ Kinh tế thị trờng chỉ chú ý đến nhu cầu có khả năng thanh toán chứ
không phải nhu cầu nói chung.
+ Ngoài ra nảy sinh khuynh hớng xã hội thị trờng. Chạy theo nếp sống tiêu
sài mà không chú ý mức tới y tế giáo dục. Kinh tế thị trờng bất lực.
Trớc các hậu quả do nó gây ra nh: ô nhiễm, môi trờng, phá hoại môi sinh,
tệ nạn xã hội.
Mặc nhiên cơ chế thị trờng ngày nay đã đa ngời tiêu dùng lên vị trí hàng
đầu. Nhờ sự phát triển của lực lợng sản xuất mới và nảy nở các nhu cầu mới, đa
dạng. Cơ chế thị trờng có xu hớng thoả mãn nhu cầu không ngừng biến đổi của
các nhóm dân c sao cho phù hợp với lối sống văn hoá của họ, thay cho nguyên
tắc sản xuất và cung ứng hàng loạt bất chấp nhu cầu.
Nhà doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng đóng vai trò trung tâm. Doanh
nghiệp thơng mại là đầu mối là trung gian, là cầu nối giữa ngời sản xuất và ngời
tiêu dùng.
II. Cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa
Thực tế cho thấy kinh tế tự nhiên đã từng tồn tại qua các phơng thức sản
xuất khác nhau. Nó không phát sinh cùng với nền sản xuất hàng hoá, mà nó đợc
hình thành sau đó khi nền sản xuất hàng hoá phát triển với qui mô toàn xã hội,
đã đạt đợc dới phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đã biến nền kinh tế cơ bản
thành nền kinh tế thị trờng. Sự xuất hiện nền kinh tế thị trờng là một bớc nhảy
vọt của nền kinh tế hàng hoá.
Có nhiều ngời cho rằng kinh tế thị trờng ở chủ nghĩa t bản có 2 đặc tính là
cạnh tranh và xã hội hoá. Họ còn nêu ra rằng kinh tế thị trờng ở chủ nghĩa t bản
có một số khuyết tật nh hối lộ, tham nhũng Những nhận thức đó đã làm cho
chúng ta hiểu không đúng về bản chất và đặc điểm của nền kinh tế thị trờng nói
chung. Có thể khẳng định rằng , kinh tế thị trờng ở thời điểm nào cũng gắn liền
với cạnh tranh cũng gây ra hối lộ và tham nhũng. Tuy nhiên ở mỗi phơng thức
sản xuất khác nhau thì mức độ đó đợc biểu hiện ở các mức độ khác nhau.
Ta có thể nói cạnh tranh là qui luật của kinh tế thị trờng nhng chỉ ở chủ
nghĩa t bản mới thể hiện một cách gay gắt, ác liệt đến mức tàn bào. Mặt khác xã
hội hoá sản xuất không phải là đặc điểm riêng của chủ nghĩa t bản. Hơn thế nữa
đến các phơng thức sản xuất xã hội chủ nghĩa đích thực thì sự phát triển của lực
lợng sản xuất ở chủ nghĩa xã hội còn cao hơn nhiều trình độ xã hội hoá ở chủ
nghĩa t bản.
Do nền kinh tế thị trờng tồn tại qua nhiều phơng thức sản xuất khác nhau
cho nên sự vận dụng và quản lý nó trong môi trờng XHCN trớc hết chúng ta
phải bản chất của kinh tế thị trờng.
Trớc kia ngời ta hay nói đến việc quản lý nền kinh tế dới hình thức trực tiếp
bằng các mệnh lệnh, kế hoạch cứng nhắc thì ngày nay lại điều tiết nền kinh tế
(hay quản lý nền kinh tế) gián tiếp thông qua các công cụ kinh tế đó là các chính
sách của Nhà nớc nh chính sách tài chính tín dụng, chính sách giá cả.
ở nớc ta hiện nay các nhà kinh tế đang nói về nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc định hớng đi lên XHCN. Đây là vấn đề hết sức mới mẻ và
có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên có thể khẳng định: ở mỗi nớc khác nhau
thì có điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau và do vậy nền kinh tế thị tr-
ờng cũng có dạng tồn tại cụ thể khác nhau. Không thể có nền kinh tế thị trờng ở
nớc này là bản sao cho nền kinh tế thị trờng ở nớc khác. Và trong muôn vàn các
đặc tính có thể dùng làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trờng này với nền
kinh tế thị trờng khác phải nói đến mục đích chính trị, xã hội mà chính phủ lựa
chọn làm định hớng cho sự vận động của nền kinh tế thực chứng.
Khi nền kinh tế đợc điều khiển đến các mục tiêu mong muốn nh: công
bằng và hiệu quả tăng trởng bền vững, trong sạch môi trờng và môi sinh, xã hội
văn minh, xã hội chủ nghĩa. Tức là khi nền kinh tế ấy đợc nhận thức trên bình
diện chuẩn tắc thì lúc ấy ý nghĩa chính trị xã hội của nó mới đợc bộc lộ ra, đồng
thời lúc đó các quan hệ cung - cầu - giá cả sẽ đợc vận dụng để đạt đến mục tiêu
kinh tế xã hội.
Có thể nói nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc định hớng đi lên
xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới mẻ. Vậy nó có thể tồn tại thật không? và nó đang
thể hiện nh thế nào ở Việt nam?
Trớc hết ta phải hiểu điều đó theo sự phân tích khoa học.
1. Bản chất của chủ nghĩa xã hội:
Có nhiều ý kiến hiểu về chủ nghĩa xã hội, điều đó cũng không ngạc nhiên
vì cùng một đối tợng nghiên cứu các nhà khoa học có thể tiếp cận từ nhiều góc
độ khác nhau.
Xã hội chủ nghĩa là một ý tởng, một khát vọng của nhân dân về một xã hội
tự do bình đẳng , bác ái, giàu có và phồn vinh.
Hay xã hội chủ nghĩa là một hình thái kinh tế xã hội xét từ góc độ của chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
Nh vậy nếu ta tuân thủ theo nguyên tắc logic đợc rút ra từ các cách hiểu
trên thì có thể nói rằng :" Xã hội chủ nghĩa là định hớng chính trị xã hội của nền
kinh tế xét từ góc độ kinh tế."
2. Bản chất của cơ chế quản lý kinh tế.
Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển theo một khuynh hớng mong muốn
khi có một cơ chế phù hợp. Cơ chế đó một mặt tuân thủ theo qui luật kinh tế
khách quan, mặt khác phải có đợc một hệ thống các công cụ và chính sách quản
lý kinh tế phù hợp. Vậy ta có khái niệm là: "Cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm
dùng để chỉ phơng thức mà qua đó chính phủ (nhà nớc) tác động vào nền kinh tế
để định hớng nền kinh tế tự vận động đến mục tiêu đã định" .
Từ khái niệm này ta thấy nó bao hàm các điểm sau:
+ Cơ chế kinh tế là phuơng thức tự vận động của nền kinh tế, là biểu tợng
của nhân tố khách quan.
+ Cơ chế quản lý kinh tế là phơng thức tác động của nhà nớc nhằm định h-
ớng kinh tế: đó là nhân tố chủ quan.
+ Nhà nớc tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế kinh tế chứ không tác
động trực tiếp vào nền kinh tế. Do đó nếu nh các luận cứ trên đây là đúng thì sự
xuất hiện của nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc định hớng lên xã
hội chủ nghĩa là hoàn toàn logic và có thể phát triển nh sau:
" Nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc định hớng lên xã hội chủ
nghĩa là nền kinh tế vận động theo cơ chế hỗn hợp và đợc định hớng bởi lí tởng
của chủ nghĩa xã hội"
Đơng nhiên có thể có nhiều nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa (hiện nay có hai kiểu ở Việt nam và Trung quốc) trong trờng hợp đó các
nhà khoa học sẽ phải tìm hiểu các tiêu thức để phân biệt sự khác nhau giữa hai
nền kinh tế này.
ở nớc ta hiện nay nền kinh tế cha đợc hình thành đầy đủ mà chỉ đang trong
quá trình ra đời. Trong sự nghiệp đổi mới nhân dân ta đã đạt đợc nhiều thành tựu
to lớn. Kinh tế có tốc độ tăng trởng khá và liên tục đẩy lùi đợc lạm phát, tăng đ-
ợc kim ngạch xuất khẩu, bắt đầu có tính hữu nội bộ.
Tuy nhiên nền kinh tế nớc ta vẫn cha thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc
hậu, công nghiệp bé nhỏ, cơ sở hạ tầng kém phát triển, khả năng kìm hãm lạm
phát cha vững chắc, hệ thống ngân hàng tài chính - tiền tệ cha đáp ứng đợc yêu
cầu phát triển kinh tế của đất nớc. Mặt khác ta lại thấy nền kinh tế thị trờng nói
chung không tồn tại một cách độc lập, mà vận động trong phơng thức sản xuất
nhất định chủ nghĩa t bản hay chủ nghĩa xã hội (hoặc cái này hoặc cái kia). Với
chủ nghĩa xã hội nền kinh tế thị trờng vận hành trong điều kiện lịch sử mới là:
có những nớc XHCN và các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó quốc doanh
đóng vai trò chủ đạo.
Hiện nay ở nớc ta đã và đang giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình
thành nền kinh tế thị trờng định hớng lên xã hội chủ nghĩa. Vì nền kinh tế thị tr-
ờng nếu tự vận động theo quy luật của chính nó thì một mặt thúc đẩy khoa học
và công nghệ phát triển nhng mặt khác nó cũng gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng cho một nền kinh tế ( nh khủng hoảng kinh tế). Sự tàn phá môi trờng, môi
sinh, sự phân hoá dân c thành các tầng lớp có thu nhập khác nhau, sự mất thăng
bằng giữa ngời giầu, ngời nghèo, giữa những ngời có điều kiện thuận lợi với ng-
ời ít có điều kiện. Do vậy muốn điều khiển đợc nền kinh tế vận động đến các
mục tiêu mong muốn phải nhận thức đợc trạng thái của nền kinh tế thông qua cơ
chế quản lý. Trớc hết là một hệ thống chính sách phù hợp, Nhà nớc có thể điều
tiết một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu sử dụng đòn bẩy kinh tế chủ yếu nh giá cả
"bàn tay vô hình" thuế và "bàn tay hữu hinh" ( vai trò của nhà nớc) để đảm bảo
sự phát triển của nền kinh tế thực hiện tốt những kế hoạch và chiến lợc mục tiêu
kinh tế xã hội.
B- Quá trình kinh doanh thơng mại
I. Khái niệm doanh nghiệp thơng mại
1. Khái niệm doanh nghiệp thơng mại
Thơng mại hình thành và phát triển dựa trên cơ sở của sự phát triển lực l-
ợng sản xuất đến mức sản xuất xã hội trở thành sản xuất hàng hoá mà sản xuất
hàng hoá là tiền đề của thơng mại. Sản xuất ra hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm
để bán, để trao đổi. Từ đó có thể nói:
" Kinh doanh thơng mại là dùng tiền của, công sức vào việc buôn bán hàng
hoá nhằm mục đích biến lợi".
" Doanh nghiệp thơng mại là các đơn vị kinh doanh ( Tổng công ty, công
ty, xí nghiệp) với hệ thống kho tàng, bến bãi, trạm, cửa hàng của mình để thực
hiện chức năng mua bán hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Doanh
nghiệp thơng mại thực chất là doanh nghiệp lu thông hàng hoá và dịch vụ".
2. Vấn đề cơ bản của doanh nghiệp thơng mại:
Để có hàng hoá doanh nghiệp thơng mại phải quan hệ với doanh nghiệp
sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp ) và nhập khẩu. Mặt khác để bán đợc hàng
hoá các doanh nghiệp phải quan hệ với các khách hàng của mình. Khách hàng
mua hàng hoá với mục đích giá trị sử dụng của hàng hoá. Họ chỉ có thể thoả
mãn khi hàng hoá có chất lợng cao, (chất lợng tốt) số lợng đầy đủ, giao hàng
nhanh chóng và thanh toán thuận tiện. Họ cũng chỉ trả tiền khi hàng hoá bán
thuận tiện, đợc phục vụ văn minh.
Đối với doanh nghiệp thơng mại có ba vấn đề cơ bản luôn luôn đặt ra và
doanh nghiệp luôn phải giải quyết trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh
của mình.
- Kinh doanh cái gì? mặt hàng nào? khối lợng bao nhiêu? cơ cấu mặt hàng
nh thế nào ? ở đâu thích hợp có lợi và lâu dài?
- Kinh doanh bằng cách nào? Đây là vấn đề thuộc về phơng pháp, biện
pháp, nghệ thuật tiến hành kinh doanh để sử dụng nguồn vốn ban đầu là ít ỏi,
kết hợp với sử dụng lao động trong doanh nghiệp ra sao cho có lợi nhất để thực
hiện các mục tiêu của kinh doanh.
- Bán hàng cho ai? Tức là hàng hoá sản xuất ra đáp ứng nhu cầu cho khách
hàng nào, ở đâu, khối lợng, cơ cấu hàng hoá và thời gian cần phải có hàng hoá
để bán ra.
Doanh nghiệp kinh doanh cần phải biết đợc mục tiêu của khách hàng, đó là
công dụng của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng. Doanh nghiệp thơng
mại chỉ có thể bán đợc hàng hoá khi hàng của mình đáp ứng đợc đòi hỏi khachs
hàng về mẫu mã chất lợng, số lợng đồng bộ kịp thời và ở những địa điểm thuận
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét