- Chỉ tiêu doanh thu hàng xuất khẩu :
Mxk = Qxk * Pxk * T
Trong đó:
Mxk : doanh thu hàng xuất khẩu tính theo đồng Việt Nam
Qxk : số lượng hàng xuất khẩu
Pxk : giá một đơn vị hàng xuất khẩu
T : tỷ giá ngoạI tệ
- Chỉ tiêu doanh thu gia công hàng xuất khẩu :
Mgc = (Qgc * Pgc) + CFgc
Trong đó:
Mgc : doanh thu gia công hàng xuất khẩu
Qgc : số lượng sản phẩm gia công
Pgc : đơn giá chi phí gia công
CPgc : chi phí phụ trợ gia công
- Điểm hoà vốn :
+ Sản lượng hoà vốn
Qhv = Fcđ/P-V
Trong đó:
Qhv : sản lượng hoà vốn
Fcđ : chi phí cố định của doanh nghiệp
P : giá bán một đơn vị sản phẩm
V : chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm
+ Doanh thu hoà vốn :
DThv = Qhv * P
Trong đó:
DThv : doanh thu hoà vốn
+ Thời điểm hoà vốn :
Thv = DThv/Q
Trong đó:
5
Thv : thời điểm hoà vốn
Q : mức tiêu thụ mỗi tháng
Q = DTcả năm/12 tháng.
II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ
THỊ TRƯỜNG.
1.Hoạt động nghiên cứu đi tới lựa chọn thị trường xuất khẩu của
doanh nghiệp .
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu
thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị
trường.
Để nắm vững các yếu tố của thị trường, hiểu biết về qui luật vận
động của chúng nhằm ứng xử kịp thời, mỗi nhà kinh doanh nhất thiết phải
tiến hành các hoạt động về nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường
hàng hoá thế giới có rất nhiều ý nghiã trong việc phát triển và nâng cao
hiệu quả các quan hệ kinh tế, đặc biệt là trong công tác xuất nhập khẩu
hàng hoá của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp nghiên cứu và nắm vững
biến động của tình hình thị trường về giá cả hàng hoá trên thế giới là những
tiêu đề quan trọng đảm bảo cho các tổ chức xuất nhập khẩu hoạt động trên
thị trường thế giới có hiệu quả cao nhất. Đối với hoạt động xuất nhập khẩu
thì xuất siêu và tăng thu ngoại tệ - một vấn đề bức xúc với các tổ chức xuất
nhập khẩu cũng như Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới còn bao gồm cả việc nghiên
cứu toàn bộ quá trình tái sản xuất của một ngành sản xuất hàng hoá, tức là
việc nghiên cứu không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lưu thông mà cả lĩnh vực sản
xuất, phân phối hàng.
Đối với các tổ chức xuất nhập khẩu, nghiên cứu thị trường hàng hoá
trên thế giới phải trả lời được các câu hỏi: xuất nhập khẩu cái gì? dung
6
lượng của thị trường hàng hoá đó như thế nào? bạn hàng giao dịch là ai?
Phương thức giao dịch, thanh toán nào được sử dụng?
Việc nghiên cứu thị trường phải được tiến hành dựa trên một số
phương pháp nhất định chứ không đơn thuần theo cảm tính.
1.1. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu :
Việc nhận biết mặt hàng xuất khẩu trước tiên phải dựa vào nhu cầu
của sản xuất và tiêu dùng về qui cách và chủng loại kích cỡ, giá cả, thời vụ,
thị hiếu và tập quán của từng vùng từng lĩnh vực sản xuất. Về khía cạnh
thương phẩm phải hiểu rõ giá trị, công dụng, các đặc tính của nó, qui cách,
phẩm chất mẫu mã. Nắm bắt được đầy đủ về giá cả hàng hoá, các mức giá
và nguồn cung cấp chủ yếu của các công ty cạnh tranh, các hoạt động dịch
vụ phục vụ cho hàng hoá như bảo hành, cung cấp phụ tùng, sửa chữa thiết
bị, hướng dẫn sử dụng…
Để lựa chọn được mặt hàng kinh doanh, một số nhân tố nữa phải tính
toán đến đó là tỷ suất ngoại tệ của các mặt hàng. Tỷ suất ngoại tệ hàng xuất
khẩu là số lượng bản tệ phải chi ra để thu được một đơn vị ngoại tệ. Nếu tỷ
suất tính ra lớn hơn tỷ giá hối đoái thì không thể xuất khẩu được.
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu không chỉ dựa vào những tính
toán hay ước tính, những biểu hiện cụ thể của hàng hoá mà còn dựa vào
những kinh nghiệm của người nghiên cứu thị trường để dự toán được
những xu hướng biến động của giá cả hàng hoá thị trường trong nước cũng
như nước ngoài, khả năng thương lượng để đạt tới điều kiện mua bán có
ưu thế hơn.
1.2. Dung lượng thị trường:
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá nhất định giao dịch
trên một phạm vi thị trường nhất định (thường là một năm).
Nghiên cứu về dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu nguồn
một cách hợp lý kể cả lượng dự trữ, xu hướng biến động trong từng thời
điểm, từng vùng và từng khu vực, từng lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng. Cùng
7
với việc xác định nắm bắt nhu cầu của thị trường bao gồm: việc xem xét
đặc điểm, tính chất, khả năng sản xuất hàng hoá thay thế khả năng lựa chọn
mua bán. Một vấn đề nữa là thời vụ của sản xuất (cung) và tiêu dùng (cầu)
hàng hoá đó trên thị trường thế giới để có biện pháp thích hợp trong từng
giai đoạn bảo đảm nhất định. Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường
thay đổi chia làm ba loại sau:
1.2.1. Nhân tố làm dung lượng thị trường biến đổi có tính chất chu
kỳ.
Đó là sự khủng hoảng có tính chất chu kỳ của kinh tế TBCN và tính
chất thời vụ trong sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá. Nhân tố quan
trọng có ảnh hưởng đến tất cả thị trường hàng hoá trên thế giới là sự vận
động của tình hình kinh tế tư bản chủ nghĩa. Khi nền kinh tế TBCN rơi vào
khủng hoảng tiêu điều thì dung lượng thị trường bị co hẹp và ngược lại.
Nhân tố thời vụ của sản xuất cũng có ảnh hưởng đến thị trường hàng
hoá. Do đặc điểm của sản xuất, lưu thông các loại hàng khác nhau nên sự
tác động của nhân tố này rất đa dạng với các mức độ khác nhau.
1.2.2. Nhân tố tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp chính sách
của Nhà nước và các tập đoàn tư bản lũng đoạn, thị hiếu tập quán của
người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế.
1.2.3. Nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường
như các hiện tượng đầu cơ gây đột biến về cung cầu, các yếu tố tự nhiên
như thiên tai, bão lũ, hạn hán… các yếu tố về chính trị như đình công…
1.3. Chọn lựa đối tượng giao dịch:
Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng nói chung là
những người có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp
đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế, khoa học
kỹ thuật liên quan đến cung cấp hàng hoá.
Việc lựa chọn thương nhận để giao dịch dựa trên cơ sở nghiên cứu:
8
- Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh
doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên khả năng đặt
hàng và liên kết kinh doanh.
- Thái độ và quan điểm kinh doanh là vươn tới chiếm lĩnh thị trường
hay độc quyền về kinh doanh. Tìm hiểu uy tín và quan hệ kinh doanh cũng
là một điều kiện quan trọng cho phép đi đến những quyết định trong mua
bán một cách nhanh chóng và có hiệu quả hơn.
Việc lựa chọn các đối tượng giao dịch có căn cứ khoa học là điều
kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi mua bán thương mại quốc tế. Song
việc lựa chọn các đối tượng giao dịch cũng tuỳ thuộc một phần vào kinh
nghiệm của người nghiên cứu và truyền thống mua bán của mình.
Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới trong thưong mại quốc tế
nói chung và xuất khẩu nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng trong
hoạt động kinh doanh. Đó là bước chuẩn bị, bước tiền đề để xuất nhập khẩu
hàng hoá được thực hiện có hiệu quả. Để nghiên cứu thị trường nước ngoài
có thể áp dụng nhiều biện pháp như sử dụng các loại báo chí, ấn phẩm hay
nghiên cứu trực tiếp ở thị trường.
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu
Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng
thời biểu hiện một cách tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ
trong nền kinh tế quốc dân như mối quan hệ giữa cung và cầu về hàng hoá,
tích luỹ tiêu dùng, công nghiệp-nông nghiệp. Giá cả luôn gắn liền với thị
trường, là một yếu tố cấu thành thị trường. Giá cả thị trường luôn biến động
và chịu tác tác động của nhiều nhân tố.
Giá cả có thể gồm các yếu tố : giá trị hàng hoá đơn thuần, bao bì, chi
phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm, các chi phí khác tuỳ theo từng bước giao
dịch và sự thoả thuận của các bên tham gia. Nghiên cứu giá cả bao gồm
việc nghiên cứu mức giá từng mặt hàng tại từng thời điểm, các loại giá trên
9
thị trường, xu thế biến động của giá cả thị trường và các nhân tố ảnh
hưởng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá trên thị trường có nhiều
và có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên
cứu. Đó là nhân tố chu kỳ, nhân tố lũng đoạn, nhân tố cạnh tranh, cung cầu,
nhân tố lạm phát, nhân tố thời vụ.
Ngoài những nhân tố đó, giá cả hàng hoá còn chịu tác động của
nhiều nhân tố khác như chính sách của Nhà nước, xung đột xã hội đình
công, thiên tai….Đây là những nhân tố có tác động trong thời gian ngắn.
Khi nghiên cứu giá cả thị trường phải phân tích được sự ảnh hưởng của các
nhân tố đến xu hướng biến động trong từng giai đoạn, tình hình cụ thể.
2. Tổ chức hoạt động giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu
2.1. Giao dịch - Đàm phán
Để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán người xuất khẩu và người nhập
khẩu thường phải trải qua một quá trình giao dịch, thương lượng với nhau
về điều kiện giao dịch. Các bước chủ yếu đó là:
- Hỏi giá: Với phương diện pháp luật thì đây là lời thỉnh cầu bước
vào giao dịch. Nhưng xét về thưong mại thì đây là việc người mua đề nghị
người bán báo cho mình biết giá cả và điều kiện mua hàng.
Nội dung của hỏi giá gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng,
thời gian giao hàng. Giá cả mà người mua có thể trả cho mặt hàng thường
được ngưòi mua giữ kín. Việc hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của
người được hỏi giá. Người hỏi giá thường hỏi nhiều nơi nhằm nhận được
nhiều bản chào hàng cạnh tranh để so sánh lựa chọn bản chào hàng thích
hợp nhất.
- Chào hàng: Trong kinh doanh việc phát giá là chào hàng, là việc
người xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của mình. Trong chào hàng
nêu rõ : Tên hàng, quy cách, phẩm chất, giá cả, số lượng, điều kiện thanh
toán, bao bì, ký mã hiệu, thể thức giao nhận…
10
- Đặt hàng: Lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ giá người
mua được đưa ra dưới hình thức đặt hàng. Trong đặt hàng người mua nêu
cụ thể về hàng hoá định mua và tất cả những nội dung cần thiết cho việc ký
kết hợp đồng.
- Hoàn giá: Khi người nhận được chào hàng không nhận lời chào
hàng đó mà đưa ra một đề nghị mới thì đề nghị này là hoàn giá. Khi có
hoàn giá, chào hàng đó bị huỷ bỏ.
- Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả moị điều kiện của chào
hàng mà giá bên kia đưa. Khi đó một hợp đồng được lập thành.
- Xác nhận: Hai bên mua bán sau khi thống nhất thoả thuận về các
điều kiện giao dịch, có khi ghi lại thoả thuận gửi cho bên kia. Đó là văn
kiện xác nhận, thường được lập thành hai bản, bên xác nhận ký trước rồi
gửi bên kia, bên kia ký xong giữ lại một bản và gửi lại một bản.
Trong những bước đàm phán trên thì “chào hàng” được quan tâm
hơn cả vì đó là cơ sở dẫn đến hợp đồng. Do đặc điểm của kinh doanh
thương mại quốc tế, những bước giao dịch nói trên thường được tiến hành
thông qua thư tín, điện tín, điện thoại hoặc gặp gỡ trực tiếp.
Các hình thức đàm phán chủ yếu:
- Đàm phán qua thư tín: Là hình thức chủ yếu để giao dịch. Những
cuộc đàm phán thường qua thư từ ngay cả sau nàykhi hai bên đã có điều
kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì quan hệ cũng phải qua thư từ thương
mại.
- Đàm phán qua điện thoại: Việc đàm phán qua điện thoại nhanh
chóng, giúp nhà kinh doanh tiến hành đàm phán một cách khẩn trương,
đúng vào thời cơ cần thiết nhưng phí tổn điện thoại cao các cuộc trao đổi
thường bị hạn chế về mặt thời gian, các bên không thể trao đổi chi tiết.
- Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Việc gặp gỡ trực tiếp giữa
hai bên để trao đổi về mọi điều kiện buôn bán là một hình thức tốc độ giải
11
quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm
phán bằng thư tín hoặc điện thoại
Người tiến hành đàm phán nên biết dùng ngôn ngữ dùng để đàm
phán, vì như vậy sẽ dễ chủ động, linh hoạt và nâng cao được tốc độ đàm
phán.
2.2. Ký kết hợp đồng xuất khẩu
Việc ký kết hợp đồng xuất khẩu cần được tiến hành kịp thời khi điều
kiện đã chín muồi. Không nên nôn nóng trong việc ký kết dù thấy thời gian
đàm phán đã sắp hết. Nếu một bên nắm được bên kia có ý định hợp đồng
trong đợt đàm phán thì sẽ ép buộc bên kia có nhiều nhượng bộ.
Các bên tham gia ký kết cần chú ý các điểm chính sau:
- Chủ thể tham gia ký kết : xác định xem người tham gia ký kết có
đủ thẩm quyền không để đảm bảo cho hợp đồng sau khi được ký kết có đủ
giá trị pháp lý.
- Hình thức của hợp đồng mua bán ngoại thương : Bằng văn bản
hoặc bằng miệng.
- Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp, hợp lệ.
- Nguyên tắc ký kết phải tự nguyện, hai bên cùng có lợi.
* Trình tự ký kết hợp đồng xuất khẩu
- Cần nghiên cứu khả năng thu mua hoặc sản xuất hàng xuất khẩu .
- Nghiên cứu thị trường các nước và khu vực cũng như thị trường
của mặt hàng định xuất khẩu để nắm chắc mặt hàng, bao bì, giá cả, ước tính
hiệu quả kinh doanh.
- Tìm khách hàng thông qua giao dịch chào hàng, cần chú ý tới
việc lựa chọn hình thức và biện pháp giao dịch phù hợp nhất.
- Đàm phán trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Ký kết hợp đồng.
* Phương pháp ký kết:
12
Tuỳ từng điều kiện cụ thể của hợp đồng kinh tế ngoại thương có thể
thực hiện bằng một trong các hình thức sau;
- Hai bên ký vào một hợp đồng mua - bán.
- Người bán xác nhận bằng văn bản là người muâ đã đồng ý với
các điều khoản của thư chào hàng tự do nếu người mua nếu người mua viết
đúng thủ tục cần thiết.
- Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được những điều thoả thuận
trong đơn đặt hàng trước đây của hai bên.
Trong hợp đồng không được có những điều khoản trái với luật lệ
hiện hành của nước bán hoặc nước mua. Người đứng ra ký kết phải đúng là
người có thẩm quyền. Ngôn từ dùng để xây dựng hợp đồng phải là ngôn từ
mà hai bên đều thông thạo.
2.3. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp trong cơ chế
thị trường
Sau khi hợp đồng được ký kết, hai bên trao đổi, mua bán theo thoả
thuận. Điều kiện quyết định để giao hàng là khách hàng phải mở L/C của
mình theo đúng yêu cầu. Đây là biện pháp tránh rủi ro trong thanh toán
ngoại thương.
Việc làm thủ tục hải quan, không nhất thiết tại cảng giao hàng mà có
thể làm tại kho bãi của doanh nghiệp dưới sự kiểm tra, giám sát việc đóng
hàng của hải quan.
- Kiểm tra L/C do bên mua mở.
- Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu
- Uỷ thác thuê tàu
- Kiểm nghiệm hàng hoá
- Làm thủ tục hải quan
- Giao hàng lên tàu
- Mua bảo hiểm hàng hoá
- Làm thủ tục thanh toán
13
- Giải quyết khiếu nại (nếu có)
2.4. Đánh giá kết quả xuất khẩu
Do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ chưa chấm dứt nên thị
trường nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng khó khăn ở thị trường nước ngoài là
đơn đặt hàng mới chưa nhiều, thị trường cũ chưa ổn định, còn ở trong nước
các sản phẩm của Thái Lan, Hàn Quốc, Hồng Kông… đã lấn sân vì sản
phẩm của họ đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của người Việt Nam. Sản
xuất công nghiệp tiêu dùng năm 2001 gặp nhiều khó khăn, năm 2000 kim
ngạch xuất khẩu giảm. Tuy vậy, Tổng Công ty Da - Giầy Việt Nam vẫn
luôn cố gắng tìm kiếm thị trường, sản xuất sáng tạo mẫu mã mới, chú ý tới
chất lượng sản phẩm để ngành Da - Giầy Việt Nam vẫn luôn cố gắng tìm
kiếm thị trường , sản xuất sáng tạo mẫu mã mới, chú ý tới chất lượng sản
phẩm để ngành Da - Giầy nói riêng ngày càng đi lên và phát triển không
ngừng.
3. Hình thức và phương thức xuất khẩu
3.1. Xuất khẩu gián tiếp:
Là hình thức bán hàng hoá qua một số trung gian nước ngoài để họ
bán lại cho người tiêu dùng. Xuất khẩu gián tiếp ít gặp nguy hiểm khi
doanh nghiệp không nắm vững thị trường nước ngoài và có thể sử dụng
tiềm lực của người trung gian. Nhưng lợi nhuận lại không cao.
3.2. Xuất khẩu trực tiếp:
Doanh nghiệp lập các cửa hàng, văn phòng đại diện ở nước ngoài và
đưa hàng ra bán. Doanh nghiệp chịu bất lợi về chi phí vận chuyển, thuế và
chi phí để duy trì cửa hàng, văn phòng đại diện ở nước ngoài nhưng lại
kiểm soát và nắm chắc được hoạt động kinh doanh và có cơ may để đứng
vững ở thị trường nước ngoài.
3.3. Liên doanh:
Thông qua hai hay nhiều nhà đầu tư cùng sở hữu một xí nghiệp theo
tỷ lệ góp vốn 6/4 hoặc 7/3, sản xuất hàng hoá xuất khẩu .
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét